40. Biên địa, nghi thành (邊
地 疑 城)
Chánh kinh:
佛 告 慈 氏:若 有 眾 生,以 疑 惑 心 修 諸 功 德,願 生 彼 國。不 了 佛 智、不 思 議 智、不 可 稱 智、大 乘 廣 智、無 等 無 倫 最 上 勝 智,於 此 諸 智,疑 惑 不 信。猶 信 罪 福,修 習 善本, 願 生 其 國。
Phật cáo Từ Thị: - Nhược hữu chúng
sanh, dĩ nghi hoặc tâm tu chư công đức, nguyện
sanh bỉ quốc, bất liễu Phật trí, bất
tư nghị trí, bất khả xưng trí, Đại Thừa
quảng trí, vô đẳng vô luân tối thượng thắng
trí, ư thử chư trí, nghi hoặc bất tín. Do tín tội phước, tu tập thiện
bổn, nguyện sanh kỳ quốc.
Phật bảo ngài Từ Thị:
- Nếu có chúng sanh dùng tâm nghi hoặc tu các công đức,
nguyện sanh cơi ấy, chẳng hiểu rơ Phật trí, bất
tư nghị trí, bất khả xưng trí, Đại Thừa
quảng trí, vô đẳng vô luân tối thượng thắng
trí. Đối với các trí ấy nghi hoặc chẳng tin,
nhưng vẫn tin tội phước, tu tập cội
lành, nguyện sanh cơi ấy.
Giải:
Phẩm này giảng về cái nhân của Thai Sanh, khuyên
nên sanh ḷng tin sâu xa hầu khỏi đọa vào nghi thành
biên địa: Trong năm trăm năm chẳng được
thấy Phật và Tăng, chẳng được nghe kinh
pháp. Ngài Vọng Tây nói: “Biên Địa
và Thai Sanh đồng Thể khác tên”.
Sách Lược Luận ghi: “Lại
có một loại văng sanh An Lạc nhưng chẳng thuộc
vào ba bậc… Trong năm trăm năm thường chẳng
thấy Phật, chẳng nghe kinh pháp, chẳng thấy Bồ
Tát và thánh chúng Thanh Văn, gọi là Biên Địa của cơi Cực Lạc, c̣n gọi là Thai
Sanh”. Như vậy, ngài Vọng Tây chỉ nhắc lại
ư của tổ Đàm Loan.
Sách Lược Luận c̣n viết:
“Biên Địa là ư nói trong
năm trăm năm chẳng được nghe đến
Tam Bảo, giống như cái nạn [sanh nơi] biên địa,
hoặc cũng là ở tuốt ngoài b́a cơi Cực Lạc.
Thai Sanh là ví như người sanh trong thai, lúc sơ sanh nhân pháp chưa thành. Chữ
Biên chỉ cho cái nạn ấy, chữ Thai chỉ sự tối
tăm. Hai danh từ này đều là mượn t́nh huống
nơi đây để ví cho t́nh trạng nơi kia (Ư
nói: chữ Biên và Thai đều là thí dụ mà thôi), chứ chẳng phải là biên
địa trong tám nạn, cũng chẳng phải là kiểu
Thai Sanh bằng thai bào. Do đâu biết thế? Cơi nước
An Lạc thuần một bề
là hóa sanh, cho nên biết là chẳng thật có Thai Sanh. Do
năm trăm năm sau lại được thấy nghe
Tam Bảo, nên chẳng phải là nạn biên địa
trong tám nạn”.
Lại nữa, “nghi thành”
là nếu ai trong ḷng nghi ngờ, niệm A Di Đà Phật th́
sanh trong cung điện bảy báu nơi biên địa cơi
Cực Lạc, trong năm trăm năm chẳng được
nghe đến danh hiệu Tam Bảo. Do chốn đó là
nơi kẻ nghi ngờ cư ngụ nên gọi là “nghi thành”. Như kinh Thủ Hộ
Quốc Giới Chúa dạy:
“Nhược nhân mạng
chung chi thời, dự tri thời chí, chánh niệm phân minh,
tẩy mộc, trước y, cát tường nhi thệ.
Quang minh chiếu thân, kiến Phật tướng hảo,
chúng thiện cụ hiện, định tri thử nhân quyết
định văng sanh Tịnh Độ. Nhược nhân niệm
Phật tŕ giới vô tinh tấn tâm, mạng chung diệc vô
thiện tướng, diệc vô ác tướng, địa
phủ bất thâu, An Dưỡng bất nhiếp, như
thùy miên khứ. Thử nhân nghi t́nh bất đoạn, sanh
ư nghi thành. Ngũ bách tuế thọ lạc, tái tu tín nguyện,
phương quy Tịnh Độ” (Nếu người lúc mạng chung, biết trước
thời khắc, chánh niệm phân minh, tắm gội, mặc
áo, thanh thản ra đi, quang minh chiếu thân, thấy
tướng hảo của Phật, các điều lành cùng
hiện th́ biết chắc chắn là người ấy
quyết định văng sanh Tịnh Độ. Nếu người
niệm Phật, tŕ giới, tâm không tinh tấn th́ lúc mạng
chung cũng không có tướng lành mà cũng không có tướng
ác. Địa phủ chẳng thâu, An Dưỡng chẳng nhiếp,
bèn như mơ ngủ mà đi. Kẻ ấy nghi t́nh
chưa đoạn nên sanh vào nghi thành. Hưởng vui trong
năm trăm năm, lại tu tín nguyện, mới
được về Tịnh Độ).
Rơ ràng là Tín lẫn Nguyện chính là điều kiện
căn bản để văng sanh gặp Phật!
Ngoài ra lại c̣n có Giải Mạn Quốc (懈 慢 國), hay c̣n gọi là Giải Mạn Giới (懈 慢 界). Cơi này nằm giữa cơi Sa Bà và
Cực Lạc. Sanh vào nước này th́ đắm nhiễm
vào sự khoái lạc trong đó, nên lại khởi lên tâm
kiêu mạn, giải đăi, chẳng chịu tấn tu để
sanh lên Cực Lạc nên gọi là Giải Mạn quốc.
Như kinh Bồ Tát Xử Thai chép:
“Tây Phương khứ thử
Diêm Phù Đề thập nhị ức na-do-tha, hữu Giải
Mạn giới. Quốc độ khoái lạc... tiền hậu
phát ư chúng sanh, dục sanh A Di Đà Phật quốc giả,
giai thâm nhiễm trước Giải Mạn quốc độ,
bất năng tiền tấn sanh A Di Đà Phật quốc.
Ức thiên vạn chúng, thời hữu nhất nhân năng
sanh A Di Đà Phật quốc. Hà dĩ cố? Giai do giải
mạn chấp, tâm bất lao cố” (Ở phương Tây, cách cơi Diêm Phù Đề này mười
hai ức na-do-tha [cơi nước] có cơi Giải Mạn. Cơi
nước ấy khoái lạc… Chúng sanh phát ư trước
sau muốn sanh về cơi nước A Di Đà Phật, nhưng
đều đắm nhiễm sâu nặng cơi nước Giải
Mạn, chẳng thể tiến lên sanh về cơi A Di Đà Phật.
Trong ức ngàn vạn chúng mới có một người có
thể sanh về cơi A Di Đà Phật. V́ sao vậy? Đều v́
lười biếng, kiêu mạn, chấp trước, tâm
chẳng kiên cố). Cứ theo ư kinh, ta thấy cơi Giải Mạn
cũng thuộc về biên địa, nghi thành.
Trong tác phẩm Lược Luận, ngài Đàm Loan đă giảng
câu “bất liễu Phật trí”
(chẳng hiểu rơ Phật trí) như sau: “Chẳng hiểu rơ Phật trí là
chẳng thể tin trọn vẹn vào Nhất Thiết Chủng
Trí của Phật. Do chẳng hiểu nổi nên khởi
nghi. Một câu này nêu chung điều nghi; bốn câu tiếp
theo, mỗi câu đối trị mối nghi ấy”.
Các vị Tịnh Ảnh, Pháp Vị, Nguyên Hiểu đều
theo thuyết này, cùng cho rằng câu “bất liễu Phật trí” là Tổng, bốn câu
kia là Biệt.
Ngài Tịnh Ảnh viết: “Trước
hết nói ‘bất liễu Phật trí’, câu này là Tổng, [những
câu như] ‘bất tư nghị trí’ v.v… là Biệt. Phật
trí uyên thâm, những trí khác không thể suy lường nổi
nên bảo là ‘bất tư nghị’. Phật trí thật nhiều,
chẳng thể kể hết nên bảo là ‘bất khả
xưng’. Phật trí biết rơ
cùng tột các pháp môn nên gọi là ‘quảng trí’. Phật trí ở
địa vị cao trỗi nên gọi là vô đẳng vô
luân tối thượng thắng trí”.
Ngài Hải Đông Nguyên Hiểu đời Đường lại
đem bốn câu ấy phối hợp với bốn trí.
Trong tác phẩm Tông Yếu, Ngài đă viết:
“Câu Phật Trí là câu nêu chung,
bốn câu tiếp đó đều nói về bốn trí. ‘Bất
tư nghị trí’ là Thành Sở Tác Trí, trí này có thể làm được những việc
chẳng thể nghĩ bàn; chẳng hạn như một
niệm xưng danh vĩnh viễn diệt được
trọng tội trong nhiều kiếp. Công đức của
mười niệm phát sanh ra quả báo thù thắng vượt
ngoài tam giới. Các việc như thế chẳng thể lường suy nổi,
cho nên gọi là ‘bất tư nghị trí’.
‘Bất khả xưng trí’
là Diệu Quán Sát Trí. Trí này quán sát chẳng thể nói nổi
cảnh giới, nghĩa là: Hết thảy pháp như huyễn,
như mộng, chẳng phải có, chẳng phải không,
ĺa ngôn ngữ, dứt bặt suy nghĩ, chẳng thể
dùng ngôn ngữ để suy lường, diễn tả nổi.
V́ thế trí này gọi là ‘bất khả xưng trí’.
‘Đại Thừa quảng
trí’ là B́nh Đẳng Tánh Trí. Trí này độ rộng khắp,
chẳng giống với Tiểu Thừa, tức là dung hội
vô ngă nên chẳng bất ngă. Do bất ngă nên không ǵ là chẳng
b́nh đẳng nhiếp thọ. Dùng trí lực đồng
thể này độ khắp vô biên hữu t́nh khiến cho họ
đều chứng vô thượng Bồ Đề cho nên gọi
là ‘Đại Thừa quảng trí’.
‘Vô đẳng vô luân tối
thượng thắng trí’ chính là Như Lai Đại Viên Kính
Trí. Thỉ Giác chuyển thành bổn thức th́ mới quay
về nguồn tâm. Với hết thảy cảnh, không cảnh
nào chẳng chiếu soi trọn vẹn. V́ lẽ đó, gọi
là Đại Viên Kính Trí.
Trong một trí này có năm
điều thù thắng:
1. Như Nhị Thừa
cũng chứng đắc giải thoát thân, nhưng v́ Kính
Trí này chính là Pháp Thân nên Nhị Thừa chẳng thể
đạt được; do vậy gọi là ‘vô đẳng’
(không
ai bằng). Đấy là điều
thù thắng thứ nhất.
2. Ba trí trước đó Bồ
Tát cũng dần dần sẽ đạt được;
nhưng Đại Viên Kính Trí chỉ Phật mới đốn
chứng, chứ không ai khác có thể
chứng nổi nên gọi là ‘vô luân’ (không ai sánh nổi).
Đấy là điều thù thắng
thứ hai.
3. Hơn cả ‘bất
tư nghị trí’ là ‘tối’; vượt xa ‘bất tư
nghị trí’ là ‘thượng’. Rộng
hơn ‘Đại Thừa quảng trí’ là ‘thắng’. Đấy
chính là các điều thù thắng thứ ba, thứ tư và
thứ năm vậy.
Bởi thế, trí này
được gọi là vô đẳng vô luân tối thượng
thắng trí”.
Sách Hội Sớ lại nói:
“Bất liễu Phật trí
là nghi ngờ tánh đức chẳng thể nghĩ bàn của
Phật trí, chẳng ngộ được v́ sao đức
Như Lai là vĩ đại. Niệm Phật văng sanh
được kiến lập bởi Phật trí mà [chúng
sanh] lại nghi ngờ trí ấy nên chẳng thể hiểu rơ Phật trí.
Bất tư nghị trí: V́
trí huệ của Phật sâu rộng chẳng thể
nghĩ bàn nên gọi là ‘bất tư nghị trí’. Niệm
Phật văng sanh được kiến lập bởi bất
tư nghị trí mà [chúng sanh] lại nghi trí ấy nên bảo
là ‘chẳng hiểu rơ bất tư nghị trí’.
Bất khả xưng trí là trí huệ của
Phật nhiều đến vô lượng chẳng thể
nói kể cho hết được nên gọi là bất khả
xưng trí. Niệm Phật văng sanh là do bất khả
xưng trí thành tựu mà lại nghi trí ấy th́ gọi là
‘chẳng hiểu rơ bất khả xưng trí’.
Đại Thừa quảng trí
là trí biết đến cùng tột
các pháp môn nên gọi là Đại Thừa quảng trí. Niệm
Phật văng sanh là do Đại Thừa quảng trí cảm
thành mà lại nghi trí ấy nên gọi là ‘chẳng hiểu
rơ Đại Thừa quảng trí’.
Vô đẳng vô luân tối
thượng thắng trí là do trí ấy có địa vị
cao trỗi nên gọi là vô đẳng vô luân tối thượng
thắng trí. Nay niệm Phật văng sanh là do vô đẳng
vô luân tối thượng thắng trí phát khởi mà lại
nghi trí ấy nên bảo là chẳng hiểu rơ vô đẳng
vô luân tối thượng thắng
trí”.
Ba thuyết trên hỗ trợ nhau: Thuyết của Tịnh
Ảnh Sớ tŕnh bày tóm lược những điểm
quan trọng; thuyết của sách Tông Yếu giảng rộng
từng ư nghĩa; sách Hội Sớ quy kết về Tịnh
tông nên tôi cùng trích dẫn cả ba thuyết.
Kinh nói: “Dĩ nghi hoặc
tâm” (Dùng tâm nghi hoặc) nghĩa là do chẳng thể tin
hiểu nổi Phật trí nên sanh tâm ngờ vực. Chữ
“nghi” có bốn ư, dưới đây tôi sẽ tổng hợp
những ư chính của các vị Đàm Loan, Nguyên Hiểu, Tuấn
Đế và Cảnh Hưng để giảng.
* Một là chẳng tin vào bất tư nghị trí nên
nghi nếu chỉ niệm A Di Đà Phật chưa chắc
đă được văng sanh Cực Lạc, chẳng biết
rằng bất tư nghị trí có đại oai lực chẳng
thể suy lường được nổi. Hết thảy
muôn pháp không pháp nào chẳng phải là tự lực, tha lực,
tự nhiếp, tha nhiếp, thiên biến vạn hóa vô
lượng vô biên. Há nên dùng cái t́nh thức c̣n ngăn ngại
của phàm phu để ngờ vực diệu pháp vô ngại
của đức Như Lai; đâu biết rằng một
tấm gương có thể hiện bóng muôn vàn cảnh
tượng, củi chất ngàn năm một mồi lửa
cháy sạch. V́ vậy, chí tâm nhất niệm xưng danh
tiêu diệt được trọng tội sanh tử trong
tám mươi ức kiếp. Mười niệm ắt
được văng sanh có chi là lạ!
* Hai là chẳng tin vào bất khả xưng trí, chẳng
hiểu được rằng thể tánh của Phật
trí là tuyệt dứt mọi đối đăi, ĺa mọi lỗi
lầm, tuyệt mọi sai trái.
Ngài Đàm Loan nói: “Bất khả
xưng trí là tin Phật trí chẳng thể diễn bày, mô tả,
chẳng thể đối đăi. V́ sao nói thế? Pháp nếu là có th́ ắt phải
có cái trí biết có. Pháp nếu là không th́ ắt phải có
cái trí biết không. Các pháp rời ngoài có không mà Phật thấu
hiểu sâu xa các pháp nên trí Ngài vượt khỏi mọi đối đăi. Dùng cái
biết để hiểu Phật th́ chẳng gọi là biết
Phật. Dùng cái chẳng biết để hiểu Phật
th́ cũng chẳng gọi
là biết Phật. Dùng cái bất tri, phi bất tri để
hiểu Phật th́ cũng chẳng phải là biết Phật.
Dùng cái phi phi tri, phi phi bất tri để hiểu Phật
th́ cũng chẳng phải là biết Phật. Phật trí rời
ngoài cả bốn câu ấy”.
Ĺa khỏi tứ cú ấy th́ tuyệt bách phi. Phật
trí ĺa tứ cú, tuyệt bách phi, Thể của Phật trí
không c̣n đối đăi nên gọi là “bất khả xưng trí”. Do trí ấy chẳng thể
diễn tả nổi nên công đức niệm Phật
cũng chẳng thể diễn tả nổi. Niệm Phật
văng sanh là do bất khả xưng trí tạo thành nên hễ
nghi trí này th́ gọi là “chẳng
hiểu rơ bất khả xưng trí”.
* Ba là chẳng hiểu rơ Đại Thừa quảng trí,
nghi Phật chẳng thể thật sự độ hết
thảy chúng sanh, lại ngờ hết thảy chúng sanh niệm
Phật chẳng phải đều được văng sanh
Tịnh Độ. Bởi thế, đối với A Di Đà Phật
bèn sanh ư tưởng suy lường. Để đối trị
mối nghi này, Phật mới nói đến Đại Thừa
quảng trí. Trí này không pháp ǵ chẳng biết, không phiền
năo nào nó chẳng đoạn được, không điều
thiện nào nó chẳng trọn vẹn được, không
chúng sanh nào trí này chẳng độ được.
Muốn chỉ rơ Phật trí không ǵ là chẳng độ
thoát được, đều đưa hết thảy
vào vô dư nên gọi là “Đại Thừa”. Trí ấy độ
thoát vô hạn vô ngằn nên gọi là “quảng trí”. Trí ấy
lại biết rơ cùng tột các pháp môn nên gọi là “Đại
Thừa quảng trí”.
V́ thế, trí ấy có thể khế hợp rộng răi
mọi căn cơ, đều độ thoát tất cả.
Như Lai đại bi đại trí, đối với những
kẻ hữu duyên th́ không một ai Ngài chẳng độ
thoát cho được nhập Niết Bàn. Ngài khai diễn
diệu nghĩa “tâm này làm Phật,
tâm này là Phật” khiến cho các hữu t́nh do niệm Phật
chứng nhập vô niệm, do văng sanh chứng được
vô sanh. Bởi thế có thể khiến cho chúng sanh niệm
Phật đều sanh Tịnh Độ.
Hơn nữa, thế giới chẳng phải là hữu
biên, chẳng phải là vô biên, cũng tuyệt hẳn tứ
cú. Phật làm cho chúng sanh ĺa được tứ cú ấy
th́ gọi là “độ”, nhưng thật ra Ngài chẳng
độ mà cũng chẳng phải là chẳng độ,
chẳng phải tận mà cũng chẳng phải là chẳng
tận.
* Bốn là chẳng hiểu rơ vô đẳng vô luân tối
thượng thắng trí, ngờ Phật chẳng đắc
Nhất Thiết Chủng Trí. Do bởi nghi như thế
nên đối với pháp môn Niệm Phật cầu văng sanh
chẳng thể chánh tín; do đó cảm lấy Thai Sanh.
Theo ngài Nguyên Hiểu, đối với Phật trí
như thế chỉ có thể ngưỡng mộ, kính tin,
chứ chẳng thể so lường nên gọi là “vô đẳng
vô luân tối thượng thắng trí”. Tin tưởng,
ngưỡng mộ như thế nào? Hăy nên như Trí Độ
Luận đă nói:
“Hết thảy cảnh giới
vốn là nhất tâm, ĺa khỏi tưởng niệm. Do
chúng sanh lầm lạc thấy có cảnh giới nên tâm có
phân chia. Do vọng khởi tưởng niệm chẳng xứng
hợp với pháp tánh nên chẳng thể hiểu rạch
ṛi. Chư Phật Như Lai ĺa khỏi các tướng thấy,
không ǵ là chẳng hiểu trọn vẹn v́ tâm chân thật
chính là tánh của chư pháp. Tự thể chiếu rơ hết thảy pháp hư vọng,
có đại trí dụng, vô lượng phương tiện,
tùy theo các chúng sanh hiểu được pháp nào th́ Phật
sẽ đều khai thị các thứ pháp nghĩa đó.
V́ thế được gọi là Nhất Thiết Chủng Trí”.
Đây chính là vô đẳng vô luân tối thượng thắng
trí. Do không có cái bị thấy nên không ǵ là chẳng thấy.
Hiểu như thế để đối trị mối
nghi thứ bốn vậy.
Trong tác phẩm Tông Yếu, ngài Nguyên Hiểu lại viết:
“Nếu ai chẳng thể
đoạn nổi bốn mối nghi đó th́ dẫu sanh
vào nước kia vẫn ở Biên Địa. Nếu
như có kẻ tuy chẳng thể hiểu nổi cảnh
giới của bốn trí vừa nói trên đây nhưng tự
khiêm, tâm nhăn chưa mở nhưng ngưỡng mộ
Như Lai, một bề tin phục th́ những người
như vậy sẽ tùy theo hạnh phẩm văng sanh về
cơi ấy, chẳng lạc vào Biên Địa. Sanh vào Biên
Địa là một loại riêng chẳng thuộc vào chín phẩm. V́ thế chẳng
nên sanh ḷng nghi hoặc xằng bậy!”
Lời luận định này rất tinh xác, rất khẩn
yếu. Nếu như tin hiểu được các trí của
Như Lai th́ là bậc thượng căn lợi trí; c̣n nếu
chẳng tin hiểu nổi th́ cứ giữ ḷng rỗng
rang, tự khiêm, tin kính, ngưỡng mộ các trí ấy th́
cũng được văng sanh, chẳng bị đọa
vào nghi thành. Hành nhân Tịnh nghiệp nên đọc lại
vài ba lần lời luận trên để thể hội
sâu xa yếu chỉ “hư tâm
ngưỡng tín” (trống ḷng, ngưỡng mộ tin
tưởng) ấy.
“Nhược hữu chúng
sanh, ư thử chư trí nghi hoặc bất tín, do tín tội
phước, tu tập thiện bổn, nguyện sanh kỳ
quốc” (Nếu có chúng sanh đối
với các trí ấy ngờ vực chẳng tin, nhưng vẫn
tin tội phước, tu tập cội lành, nguyện sanh
cơi ấy) là nói về hạnh cảnh của kẻ bị sanh
vào Biên Địa.
“Tội phước”: Ngũ Nghịch,
Thập Ác v.v… là “tội”; Ngũ Giới, Thập Thiện
v.v… là “phước”. Chẳng thể kính tin Phật trí,
nhưng vẫn tin vào tội phước, nhân quả,
thường tu lễ Phật, niệm Phật cầu sanh
Tịnh Độ. Do niệm Phật thật sự là căn bản
của các điều thiện nên bảo là “tu tập thiện bổn”. Hạng người
như vậy tin phước, chẳng tin trí, tin Sự
nhưng lại mê nơi Lư nên bị đọa vào nghi thành.
Chánh kinh:
復 有 眾 生,積 集 善 根,希 求 佛 智、普 遍 智、無 等 智、威 德 廣 大 不 思 議 智。於 自 善 根,不 能 生 信。故 於 往 生 清 淨 佛 國,意 志 猶 豫,無 所 專 據。然 猶 續 念 不 絕。結 其 善 願 為 本,續 得 往 生。
Phục hữu
chúng sanh, tích tập thiện căn, hy cầu Phật trí,
phổ biến trí, vô đẳng trí, oai đức quảng
đại bất tư nghị trí. Ư tự thiện căn,
bất năng sanh tín. Cố ư văng sanh thanh tịnh Phật
quốc, ư chí do dự, vô sở chuyên cứ. Nhiên do tục
niệm bất tuyệt, kết kỳ thiện nguyện vi bổn, tục đắc văng sanh.
Lại
có chúng sanh tích tập thiện căn, mong cầu Phật
trí, phổ biến trí, oai đức quảng đại bất
tư nghị trí; đối với thiện căn của
chính ḿnh chẳng thể sanh nổi ḷng tin nên đối với
việc văng sanh cơi Phật thanh tịnh, ư chí do dự, chẳng
thể chuyên chú nơi chỗ y cứ, nhưng do liên tục
niệm Phật chẳng ngớt, kết thiện nguyện
ấy thành căn bản nên vẫn được văng sanh.
Giải:
Đoạn kinh này nói đến một loại hành nhân khác
bị sanh về Biên Địa: tin Tha mà chẳng tin Tự
(tin vào ḿnh).
Loại này cũng như loại trước đều
là hạng tín căn chẳng đủ. Đó là v́ có đến
sáu thứ tin: tin lư, tin sự, tin tự, tin tha, tin nhân, tin
quả. Đầy đủ cả sáu niềm tin này mới gọi
là ḷng tin đầy đủ.
Loại hành nhân này biết cầu Phật trí. Ba thứ
trí như phổ biến trí v.v… nói ở đây tương
đương với bốn trí đă nói ở phần
trên. Nói miễn cưỡng, “oai
đức quảng đại bất tư nghị trí”
tương đương với bất tư nghị trí
và bất khả xưng trí. Phổ biến trí tương
đương Đại Thừa quảng trí b́nh đẳng
phổ biến độ thoát hết thảy hữu t́nh
cho đều đạt đến vô thượng Bồ
Đề. Vô đẳng trí tương ứng với vô đẳng
vô luân tối thượng thắng trí.
Những trí trong đoạn trước được
ghi trong bản Ngụy dịch, c̣n những trí ở đây
(phổ biến trí…) thấy ghi trong bản Đường dịch.
Đó là do dịch giả tách ra hay ghép lại sai khác. Do văn
từ sai khác nên tên gọi các trí thành ra nhiều ít sai khác,
nhưng thật ra các trí được nêu trong hai bản dịch
chẳng hề sai khác nhau.
Hành nhân biết và mong cầu các trí trên đây nên kinh bảo:
“Hy cầu Phật trí” (Mong cầu
Phật trí). Tin được Tha Phật nhưng chẳng
thể tin nổi Tự Phật. Do chẳng thể tin nổi
ư chỉ “tâm này là Phật” nên
ḷng c̣n nghi ngờ. Đấy là lỗi lầm lớn.
Sách Vô Lượng Thọ Khởi Tín Luận đă bàn về
điều này rất tường tận, sách viết: “Cần phải hiểu thấu
suốt Phật Trí cho đến Thắng Trí th́ mới gọi
là ḷng tin chân thật. Do hết thảy trí chẳng ĺa tự
tâm, vô ngă, vô ngă sở, phàm thánh giống như nhau, đều
cùng có chung những trí này. Hoàn toàn tin rằng tâm ḿnh đầy
đủ hết thảy trí, vốn sẵn thành Phật, chẳng hề ở
ngoài tâm lại có một cái tâm tin Phật riêng biệt. Hồi
hướng như thế th́ gọi là duy tâm Tịnh Độ,
mau được gặp Phật. Nếu đối với
các trí trong tự tâm mà c̣n vướng mắc mối ngờ
th́ chẳng tránh khỏi chuyện thấy có Phật ở
ngoài tâm nên dẫu tu các điều lành, nương theo nguyện
mà văng sanh nhưng chẳng thấy được Phật
v́ chẳng khế hợp Phật Trí.
Bởi thế, kinh Như
Lai Bất Tư Nghị Cảnh Giới dạy: ‘Tam thế
nhất thiết chư Phật, giai vô sở hữu, duy y tự
tâm. Bồ Tát nhược năng liễu tri chư Phật
cập nhất thiết pháp, giai duy tâm lượng, đắc
Tùy Thuận Nhẫn, hoặc nhập Sơ Địa. Xả
thân tốc sanh Diệu Hỷ thế giới, hoặc sanh Cực
Lạc tịnh Phật quốc độ trung” (Tam thế
hết thảy chư Phật đều vô sở hữu,
chỉ nương vào tự tâm. Bồ Tát nếu có thể
biết rơ chư Phật và hết thảy pháp đều
chỉ là tâm lượng th́ sẽ đắc Tùy Thuận
Nhẫn, hoặc chứng bậc Sơ Địa, lúc bỏ
thân sẽ mau sanh vào thế giới Diệu Hỷ, hoặc
sanh trong Phật Tịnh Độ Cực Lạc). Như vậy,
hễ biết rơ tâm lượng th́ chẳng nhọc công mà
hết thảy công đức đều thành tựu đầy
đủ…Do đó, ta thấy là phải có trí quyết định
th́ mới sanh được ḷng tin quyết định.
Có ḷng tin quyết định th́ mới quyết định
văng sanh. Cẩn thận đừng v́ tâm nghi hoặc mà
đánh mất lợi lớn”.
Do vậy biết: Tin vào Tha mà chẳng tin Tự th́ chính
là trí c̣n kém cỏi. Không có trí quyết định th́ chẳng
thể sanh ḷng tin quyết định, cho nên “ư chí do dự, vô sở chuyên cứ”
(ư chí do dự, chẳng thể chuyên chú nơi chỗ y cứ).
Tín nguyện chẳng vững th́ chỗ ḿnh y cứ [để
tu tập] chẳng thể chuyên nhất nổi. Tuy vậy,
v́ hành nhân niệm Phật liên tục nên nương theo sức
niệm Phật và sức phát nguyện bèn được
văng sanh, nhưng chỉ được sanh nơi Biên Địa.
Chánh kinh:
是 諸 人 等,以 此 因 緣,雖 生 彼 國,不 能 前 至 無 量 壽 所。道 止 佛 國 界 邊,七 寶 城 中。佛 不 使 爾,身 行 所 作,心 自 趣 向。亦 有 寶 池 蓮 華,自 然 受 身。飲 食 快 樂,如 忉 利 天。於 其 城 中,不 能 得 出。所 居 舍 宅 在 地,不 能 隨 意 高 大。於 五 百 歲,常 不 見 佛,不 聞 經 法,不 見 菩 薩 聲 聞 聖 眾。其 人 智 慧 不 明,知 經 復 少。心 不 開 解,意 不 歡 樂。是 故 於 彼 謂 之 胎 生。
Thị
chư nhân đẳng, dĩ thử nhân duyên, tuy sanh bỉ
quốc, bất năng tiền chí Vô Lượng Thọ sở,
đạo chỉ Phật quốc giới biên, thất bảo
thành trung. Phật bất
sử nhĩ, thân hạnh sở tác, tâm tự
thú hướng. Diệc hữu bảo tŕ liên hoa, tự
nhiên thọ thân, ẩm thực khoái lạc, như Đao Lợi
thiên. Ư kỳ thành trung, bất năng
đắc xuất. Sở cư xá trạch tại
địa, bất năng tùy ư cao đại. Ư ngũ bách tuế, thường bất kiến
Phật, bất văn kinh pháp, bất kiến Bồ Tát,
Thanh Văn thánh chúng. Kỳ nhân trí huệ bất minh, tri
kinh phục thiểu, tâm bất khai giải, ư bất hoan lạc.
Thị cố ư bỉ vị chi thai
sanh.
Những người
này do nhân duyên ấy tuy sanh về nước kia, nhưng chẳng
thể đến ngay chỗ Vô Lượng Thọ Phật,
mà chỉ ở trong thành bảy báu nơi biên địa của
cơi Phật. Phật chẳng hề tạo ra như vậy,
nhưng do thân hạnh [do hành nhân] đă tạo nên tâm tự
hướng đến [nơi ấy]. [Trong biên địa]
cũng có ao báu, tự nhiên thọ thân trong hoa sen; thức
ăn uống, các thứ khoái lạc như trên trời Đao
Lợi. [Người sanh về biên địa] ở trong
thành ấy, chẳng ra ngoài được. Nhà cửa ở
ngay trên mặt đất, chẳng thể lớn nhỏ
tùy ư muốn. Trong năm trăm năm, thường chẳng
thấy Phật, chẳng nghe kinh pháp, chẳng thấy Bồ
Tát, Thanh Văn thánh chúng. Người ấy trí huệ chẳng
sáng suốt, biết kinh càng ít hơn nữa. Tâm chẳng
khai giải, ư chẳng vui sướng. Bởi thế, gọi
đó là “thai sanh”.
Giải:
Chữ “thị chư nhân
đẳng” (những người này) chỉ hai loại
người văng sanh về Biên Địa đă nói ở
trên.
“Dĩ thử
nhân duyên” (Do nhân duyên ấy)
là do cái nhân tu thiện niệm Phật, phát nguyện cầu
sanh nên cảm được chốn Biên Địa cơi Cực
Lạc, sống trong cung điện bảy báu, ao báu, hoa
sen, vui thú như ở trên trời Đao Lợi và hưởng
cái quả chẳng thoái đọa. Nhưng v́ phạm lỗi
nghi hoặc nên phải cảm lấy cái quả “đạo chỉ Phật quốc
giới biên” (chỉ ở nơi Biên Địa của
cơi Phật), sống trong Nghi Thành chẳng thể thoát ra
được, trong năm trăm năm chẳng
được thấy nghe Tam Bảo.
Những điều như thế đều chỉ là
do tâm tạo, do nghiệp lực dắt dẫn, nên Phật
bảo: “Phật bất sử
nhĩ, thân hạnh sở tác, tâm tự thú hướng” (Phật
chẳng hề tạo ra như vậy, nhưng do thân hạnh
đă tạo của hành nhân nên tâm tự hướng đến
nơi ấy). Đây chính là điều kinh Hoa Nghiêm đă dạy:
“Ưng quán pháp giới tánh, nhất
thiết duy tâm tạo” (Hăy nên quán pháp giới tánh, hết
thảy chỉ là do tâm tạo). Ấy là v́ tâm sanh th́ các pháp
sanh, địa ngục, thiên đường hay Tịnh Độ
đều chỉ do tâm biến hiện. Thân ḿnh hướng
đến đâu cũng đều do nghiệp lực của
chính ḿnh lôi kéo. Nghiệp do tâm sanh nên bảo là “tâm tự thú hướng”.
Sanh trong biên địa cũng “tự nhiên thọ thân” trong ao hoa sen báu, nên chẳng
phải là thai sanh như trong thế gian mà thật sự là
liên hoa hóa sanh. Sanh sống khoái lạc như “Đao Lợi thiên”, nhưng ở
miết trong ấy chẳng ra ngoài được. Chốn
họ cư ngụ là ngay trên mặt đất, chẳng
thể thăng lên hư không; nhà cửa cũng chẳng thể
tùy ư hóa ra cao to theo ư muốn.
Điều tệ nhất là trong cả năm trăm
năm chẳng được thấy Phật, nghe pháp. Về
“ngũ bách tuế” (năm
trăm năm), bản Hán dịch chép rơ là “ư thị gian ngũ bách tuế” (năm trăm
năm trong cơi này). Kinh chép “thị gian” chứ không ghi là “bỉ quốc” (cơi kia), nên chữ
“thị gian” phải là cơi
đức Thế Tôn đang thuyết pháp (tức là cơi Sa
Bà). V́ lẽ đó, ngài Cảnh Hưng bảo: “Năm trăm năm là số
năm trong thế gian này”, nghĩa là con số năm
trăm năm vừa nói đó là năm trăm năm so với
kiếp sống con người hiện tại.
Nhưng ta chẳng thể chấp nhất định
rằng năm trăm ấy chính là năm trăm năm
trong cơi trần gian này bởi v́ phẩm số trong Cực
Lạc là vô lượng nên phẩm số trong cơi Biên Địa
cũng sai biệt vô lượng. Chẳng hạn như
trong Quán kinh bảo trung phẩm hạ sanh th́ “ư liên hoa trung măn thập nhị
đại kiếp, liên hoa phương khai” (ở trong hoa sen trọn mười
hai đại kiếp, hoa sen mới nở). Đấy là
cả một thời gian dài.
Lại như cư sĩ Viên Hoằng Đạo đời
Minh do chấp vào công đức soạn tác phẩm Tây
Phương Hiệp Luận nên sanh vào Biên Địa,
nhưng do trí huệ thù thắng nên chẳng lâu sau liền
được thấy Phật nghe Pháp.
Phẩm bốn mươi mốt của kinh này có nói: “Nhược thử chúng sanh, thức
kỳ tội bổn… nhiên hậu năi xuất” (Nếu
chúng sanh ấy biết gốc tội của ḿnh… th́ sau
đấy mới được thoát khỏi). V́ vậy, sám hối đoạn
nghi mới chính là mấu chốt để thoát khỏi,
c̣n thời gian chẳng phải là nhất định.
Chữ “kỳ nhân” (người
ấy) chỉ người sanh trong Biên Địa. Câu “trí huệ bất minh” (trí huệ
chẳng sáng suốt) ư nói ngu si vô trí. “Tri kinh phục thiểu” là chẳng biết nhiều
về kinh điển Đại Thừa. “Tâm bất khai giải” là cấu nhiễm sâu nặng
nên tâm chẳng thể khai ngộ, ư chẳng thể hiểu
biết. Lại v́ ngờ vực chập chồng nên chẳng
vui sướng.
Trên đây kinh đă nêu rơ các nguyên nhân v́ sao gọi những
người như vậy là “thai
sanh”.
Chánh kinh:
若 有 眾 生,明 信 佛 智,乃 至 勝 智,斷 除 疑 惑,信 己 善 根,作 諸 功 德,至 心 迴 向。皆 於 七 寶 華 中,自 然 化 生,跏 趺 而 坐。須 臾 之 頃,身 相 光 明,智 慧 功 德,如 諸 菩 薩,具 足 成 就。彌 勒 當 知,彼 化 生 者,智 慧 勝 故。其 胎 生 者,五 百 歲 中,不 見 三 寶,不 知 菩 薩 法 式,不 得 修 習 功 德,無 因 奉 事 無 量 壽 佛。當 知 此 人,宿 世 之 時,無 有 智 慧,疑 惑 所 致。
Nhược
hữu chúng sanh, minh tín Phật trí, năi chí thắng trí, đoạn
trừ nghi hoặc, tín kỷ thiện căn, tác chư công
đức, chí tâm hồi hướng, giai ư thất bảo
hoa trung, tự nhiên hóa sanh, già phu nhi tọa. Tu du chi khoảnh, thân tướng quang
minh, trí huệ công đức, như chư
Bồ Tát, cụ túc thành tựu. Di Lặc đương
tri, bỉ hóa sanh giả, trí huệ thắng cố. Kỳ
thai sanh giả, ngũ bách tuế trung, bất kiến Tam Bảo,
bất tri Bồ Tát pháp thức, bất đắc tu tập
công đức, vô nhân phụng sự Vô Lượng Thọ
Phật. Đương tri thử nhân, túc thế chi thời,
vô hữu trí huệ, nghi hoặc sở trí.
Nếu có chúng
sanh tin tưởng thông suốt từ Phật trí cho đến
thắng trí, đoạn trừ nghi hoặc, tin vào thiện
căn của ḿnh, làm các công đức, chí tâm hồi hướng
th́ đều tự nhiên ngồi xếp bằng hóa sanh
trong hoa bảy báu. Trong khoảnh khắc, thân tướng,
quang minh, trí huệ công đức thành tựu đầy
đủ giống như các Bồ Tát.
Di Lặc nên biết!
Những kẻ ấy hóa sanh là do trí huệ thù thắng. C̣n
những kẻ thai sanh th́ trong năm trăm năm chẳng
được thấy Tam Bảo, chẳng biết pháp thức
của Bồ Tát, chẳng được tu tập công
đức, không cách nào phụng sự Vô Lượng Thọ
Phật. Phải biết là do người ấy trong đời
trước chẳng có trí huệ, v́ nghi hoặc mà đến
nỗi ấy.
Giải:
Đoạn này nêu chung về tướng trạng nhân quả
của Thai Sanh và Hóa Sanh. Người văng sanh có đầy
đủ ḷng tin th́ chẳng những tin vào Phật Trí, c̣n
tin vào thiện căn của chính ḿnh, ngoài th́ kính mộ
chư hiền thánh, trong lại tôn trọng linh giác của
ḿnh, tu các công đức, chí tâm hồi hướng nên đều
hóa sanh trong hoa sen ở trước Phật. Quang minh, trí huệ,
công đức thành tựu đầy đủ như các vị
Bồ Tát.
Ngược lại, kẻ
trong ḷng ngờ vực ắt đọa vào Thai Sanh, trong
năm trăm năm, chẳng được nghe đến
Tam Bảo v.v… đấy đều là v́ thiếu hẳn
trí huệ, bởi ngờ vực mà phải chịu nông nỗi
ấy. Bởi vậy, đoạn nghi sanh tín là điều
cực kỳ thiết yếu vậy.