7. Bộ loại sai biệt

 Để hiểu sâu kinh này, cần phải biết các kinh luận cùng bộ loại và kinh điển nói kèm pháp Tịnh Độ để tiện việc nghiên cứu, tham khảo.

 7.1. Đồng bộ

Kinh này là kinh điển đồng bộ với kinh Tiểu Bổn Di Đà. Bản dịch đời Ngô của kinh này cũng được đặt tên là A Di Đà kinh, trùng tên với bản dịch kinh Tiểu Bổn của ngài La Thập đời Tần. V́ vậy, tục gọi kinh này là Đại Bổn, kinh A Di Đà bản dịch đời Tần là Tiểu Bổn. Sách Sớ Sao cho rằng hai bản Đại, Tiểu “văn dầu chi tiết hay giản lược, nhưng nghĩa không ưu, liệt, cho nên phán định là đồng bộ”.

Hiện tại, Tiểu Bổn Di Đà có ba thứ:

* A Di Đà Kinh ( ), do ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diêu Tần.

* Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ kinh ( 受經) của ngài Huyền Trang dịch đời Đường.

* A Di Đà Kinh Tần Đường Lưỡng Dịch Hội Tập Bản ( ) do Bồ Tát giới cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập thời hiện đại.

 Hai bản dịch đời Tần và Đường đại thể tương đồng, chỉ sai biệt đôi chút. Bản dịch đời Tần tinh yếu, lưu loát, được mọi người coi trọng. Bản Đường dịch th́ chuẩn xác, tường tận, tận lực giữ trọn nguyên tác. Thầy tôi hội tập hai bản dịch này, gạn hết những điểm tinh yếu, lại dựa vào bản kinh khắc đá thời Lục Triều bổ túc hai mươi chữ bị sót mất trong bản dịch đời Tần.

Xét theo bản kinh đá ở Tương Dương và bản chép tay của người thời Lục Triều để khắc đá, sau chữ “nhất tâm bất loạn” c̣n có ḍng chữ chuyên tŕ danh hiệu, dĩ xưng danh cố chư tội tiêu diệt, tức thị đa thiện căn phước đức nhân duyên” gồm hai mươi mốt chữ.

Sư Nguyên Chiếu đời Tống cũng chép như vậy trong tác phẩm Linh Chi Sớ. Đại sư Cừ Am đời Minh cũng đề cao bản Thạch kinh. U Khê đại sư trong tác phẩm Viên Trung Sao c̣n lớn tiếng hô hào: “Bản được lưu truyền hiện tại (chỉ bản dịch đời Tần) bị sai sót, phàm đọc tụng, tu tập, nên dựa theo cổ bản để bổ túc cho đúng”.

Hội bản nương theo ư các vị tiên đức, thu nhập thêm hai mươi mốt chữ đó. Trong hội bản này gồm đủ ưu điểm của hai bản dịch, lại bổ khuyết chỗ thiếu sót của bản dịch đời Tần. Thánh ư được hiển lộ trọn vẹn, dễ được hiểu thấu đúng đắn. Như vậy, nguyên văn của bản dịch đời Tần phải là “nhất tâm bất loạn chuyên tŕ danh hiệu” (tám chữ này phải nên đọc một hơi) thật tương đồng bản dịch đời Đường “hệ niệm bất loạn”, cũng tương đồng ư chỉ “nhất hướng chuyên niệm” của kinh này, chỉ bày tỉ mỉ diệu pháp Tŕ Danh từ quả khởi tu, Quả Giác nhân tâm, tha lực thầm gia hộ chẳng thể nghĩ bàn.  Sách Yếu Giải viết: “Nếu chấp tŕ danh hiệu chưa đoạn Kiến, Tư th́ tùy theo là Tán hay Định mà chia thành ba bậc, chín phẩm nơi cơi Đồng Cư”, đủ thấy chúng sanh chỉ cần tín, nguyện, tŕ danh, quyết được văng sanh cơi Phàm Thánh Đồng Cư của Cực Lạc. Thật chẳng đợi phải đạt đến Sự Nhất Tâm Bất Loạn hoặc Lư Nhất Tâm Bất Loạn. Diệu dụng của pháp môn Tŕ Danh được giăi bày hết ra, đủ chứng minh hội bản thật có công với thánh giáo vậy.

 7.2. Đồng loại  

Hễ kinh điển nào xướng xuất “nghĩ, niệm Di Đà, nguyện sanh Cực Lạc” đều được coi là đồng loại. Trong các kinh ấy cũng có thân, sơ. Kinh nào tŕ danh niệm Phật là thân, đề cao pháp khác là sơ.

* Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh ( ): Kinh này cùng với hai kinh Đại Bổn, Tiểu Bổn ở trên được gọi chung là Tịnh Độ Tam Kinh, là kinh điển cơ bản của Tịnh tông. Kinh này giảng đầy đủ về mười sáu diệu môn, khuyên dạy quán tưởng niệm Phật và tŕ danh niệm Phật.

* A Di Đà Phật Cổ Âm Thanh Vương Đà La Ni Kinh ( 鼓音 ) khuyên dạy tŕ danh và kiêm tŕ chú.

* Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm ( ) của kinh Hoa Nghiêm, mười đại nguyện vương dẫn dắt quy về Cực Lạc.

* Hậu Xuất A Di Đà Phật Kệ Kinh ( ): Từ đầu đến cuối chỉ là kệ, gồm năm mươi sáu câu. Trong ấy có câu: Phát nguyện dụ chư Phật, thệ nhị thập tứ chương” (Phát nguyện giống như chư Phật, thề hai mươi bốn chương) tương đồng với hai mươi bốn điều nguyện trong hai bản dịch đời Ngô và Hán.

* Chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông của kinh Thủ Lăng Nghiêm ( ): Khuyên dạy chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai nhất định thấy Phật. Dùng tâm niệm Phật nhập vô sanh nhẫn.

* Bát Châu Tam Muội Kinh (般 舟 三 昧 經): Do tam tạng pháp sư Chi Lâu Ca Sấm người xứ Nhục Chi dịch vào đời Hậu Hán. Ngoài ra, Đại Phương Đẳng Đại Tập Hiền Hộ Kinh ( ) là bản dịch khác của kinh này. Kinh chú trọng dùng chín mươi ngày làm kỳ hạn, chẳng ngồi, chẳng nằm, tu Phật Lập tam-muội, Thiên Thai Tông gọi là Thường Hành tam-muội, xướng danh, quán niệm A Di Đà Phật.

* Văng Sanh Luận ( ): do Bồ Tát Thiên Thân soạn, đề xướng ngũ môn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ (Nhất luận trong “Tịnh tông tam kinh nhất luận” là chỉ cho luận này).

* Văng Sanh Luận Chú ( ) của đại sư Đàm Loan đời Bắc Ngụy soạn, là một bộ sách cổ của Tịnh tông.

* Du Tâm An Lạc Tập ( ) do đại sư Đạo Xước đời Đường soạn là một trong những bộ sách cổ.

7.3 Kinh, luận nói kèm về Tịnh Độ

Lại có các kinh, luận tuy chẳng chuyên luận về Tịnh Độ, nhưng cũng kiêm xưng tán Cực Lạc, khuyên lơn văng sanh.

Các kinh ấy như kinh Pháp Hoa( ), kinh Bi Hoa (悲華經), kinh Tùy Nguyện Văng Sanh ( ), kinh Văn Thù Sở Thuyết Bát Nhă ( ), kinh Mục Liên Sở Vấn ( ), kinh Thập Văng Sanh ( ), kinh Quán Phật Tam Muội ( 佛三 : Phật thọ kư cho Ngài Văn Thù sẽ sanh về Cực Lạc), kinh Văn Thù Phát Nguyện (文 殊 發 願 經, Văn Thù nguyện cầu sanh Cực Lạc), kinh Nhập Lăng Già ( , Phật thọ kư cho Long Thọ Bồ Tát sanh về cơi Cực Lạc), Tỳ Bà Sa Luận ( , do Long Thọ Đại Sĩ soạn), Đại Trí Độ luận ( , cùng tác giả), Đại Thừa Khởi Tín Luận ( , Bồ Tát Mă Minh soạn) v.v...


Kinh, luận Tịnh Độ có đến trăm mấy mươi bộ. Trên đây chỉ lược nêu các kinh sách thuộc cùng bộ loại và kinh, luận đề cập đến Tịnh Độ. C̣n như số lượng các kinh điển trong Mật bộ có liên quan đến Tịnh Độ c̣n nhiều hơn nữa nhưng chẳng kể ra.