CHÚ GIẢI PHẬT THUYẾT ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH B̀NH ĐẲNG
GIÁC KINH
佛 說 大 乘 無 量 壽 莊 嚴 清 淨 平 等
覺 經 解 卷 四
QUYỂN THỨ TƯ
Những điểm chính trong quyển này là:
1. Tiếp nối ư của phẩm hai mươi tám và
hai mươi chín trong quyển trước, trần thuật
nguyện lực và công đức tu tŕ chân thật của
các vị Bồ Tát cơi Cực Lạc. Các vị Bồ Tát ấy
hạnh đức viên măn nên chư Phật đều khen
ngợi. Đồng thời chỉ rơ cơi Cực Lạc là
nơi an vui, thanh tịnh, là nơi thọ mạng lẫn
niềm vui đều vô cực để khuyên dụ chúng
sanh văng sanh.
2. Đem cơi uế đặt tương phản với cơi
tịnh, quở trách nặng nề sự ác khổ của
cơi đời ô trược ḥng khiến cho chúng sanh bỏ
năm việc ác, dứt năm nỗi đau, ĺa năm
điều thiêu đốt, siêng tu việc lành thế gian.
Kinh nhiều lần khuyên lơn, khuyến khích chúng sanh vâng
giữ kinh giới để được độ
thoát. Kinh giảng cặn kẽ: Do chúng sanh đă tạo những
nghiệp tam độc, ngũ ác nên sẽ lần lượt
chiêu cảm quả báo đau đớn, thiêu đốt.
Kinh c̣n chỉ bày chi ly nguyên do của các nỗi khổ,
đồng thời chỉ dạy phương cách thoát khổ
để chúng sanh hiểu sâu lư nhân quả, dứt ác, làm
lành, lợi lạc hữu t́nh, tạo phước cho nhân
gian. Dùng những điều ấy hồi hướng cùng
sanh Cực Lạc.
3. Trần thuật sự kiện lễ Phật, quang
minh hiện ra, bốn chúng trong hội đều thấy
thế giới Cực Lạc và A Di Đà Phật để
khiến cho tất cả những người được
thấy đều được lợi ích, kẻ nghe
sanh ḷng tin.
4. Giảng về biên địa nghi thành: Dạy rơ chỗ
sẽ thác sanh về của những kẻ niệm Phật,
tu thiện, nguyện sanh Cực Lạc nhưng chẳng
đoạn nổi nghi hoặc.
5. Phần lưu thông của kinh này: Khen ngợi Niệm
Phật, khuyên nên coi kinh này như bậc đạo sư.
Đời tương lai kinh sách diệt hết, chỉ c̣n mỗi
kinh này được lưu lại. Nếu thường
niệm tụng kinh này chẳng dứt th́ sẽ mau chóng
đắc đạo “như thị diệu pháp hạnh
thính văn, ưng thường niệm Phật nhi sanh hỷ”
(pháp mầu nhiệm như thế nay ta may mắn
được nghe th́ phải nên thường niệm Phật,
sanh ḷng vui mừng), khuyên làm các thứ phước, tu đủ
các việc lành, niệm Phật phát nguyện văng sanh cơi tịnh.
30. Bồ Tát tu tŕ (菩
薩 修 持)
Từ phẩm hai mươi tám đến phẩm ba
mươi hai của kinh này đều nói về diệu
đức của Bồ Tát trong cơi Cực Lạc. Phẩm
này đặc biệt chú trọng đến diệu hạnh
tự giác, giác tha của hàng Bồ Tát: Độ khắp
các chúng sanh, diễn thuyết chánh pháp; dùng vô ngại từ,
vô ngại huệ để hiểu pháp là Như Như;
b́nh đẳng tu hành siêng năng trong tam giới, các hạnh
thù thắng rốt ráo Nhất Thừa, đạt tới bờ
kia…
Hai phẩm ba mươi mốt và ba mươi hai giảng
về công đức và diệu quả của những hàng
Bồ Tát ấy. Phật thuyết ra pháp này là muốn cho
chúng sanh trong mười phương sanh ḷng hân hoan, hâm mộ,
cầu sanh Cực Lạc ḥng được cùng ở chung
một chỗ với những bậc thượng thiện
nhân như vậy để tu tập viên măn những công
đức như vậy.
Chánh kinh:
復 次 阿 難,彼 佛 剎 中,一 切 菩 薩,禪 定 智 慧,神 通 威 德,無 不 圓 滿。諸 佛 密 藏,究 竟 明 了。調 伏 諸 根,身 心 柔 軟。深 入 正 慧,無 復 餘 習。依 佛 所 行,七 覺 聖 道。修 行 五 眼,照 真 達 俗。肉 眼 簡 擇,天 眼 通 達,法 眼 清 淨,慧 眼 見真,佛 眼 具 足,覺 了 法 性。
Phục thứ A
Lại này A
Giải:
Phẩm này nói về đại hạnh của các Bồ
Tát cơi ấy, gồm có ba loại chính:
1. Hạnh đức tự lợi.
2. Hạnh đức lợi tha.
3. Hạnh đức viên măn.
Đoạn kinh văn trên đây nói đến hạnh
đức tự lợi của bậc đại sĩ.
“Thiền Định, trí huệ”: Thiền Định
là độ thứ năm trong Lục Độ, Trí Huệ là
độ thứ sáu. Trong Lục Độ, hai Độ này
đóng vai tṛ quan trọng nhất nên được nêu lên
trước hết. Hơn nữa, phải vâng giữ cân bằng
cả Định lẫn Huệ như sách Hội Sớ viết:
“Nếu chỉ có Định mà thiếu
Huệ th́ khác ǵ Nhị Thừa trầm trệ nơi Không.
Có Huệ nhưng thiếu Định th́ khác nào ngoại đạo
nghĩ tưởng xằng bậy. Do đó, kinh luôn nói Định
đi đôi với Huệ”.
“Thần thông” là Lục Thông,
tức Thiên Nhăn, Thiên Nhĩ… “Oai”
(威) là oai thần,
nghĩa là oai thế dũng mănh, không lường biết nổi.
“Đức” (德) là công đức
như bản Ngụy dịch ghi: “Vô Lượng Thọ Phật oai thần công đức
bất khả tư nghị” (Vô Lượng Thọ Phật
oai thần công đức chẳng thể nghĩ bàn). Các vị
Bồ Tát trong cơi Cực Lạc đều thành tựu viên
măn hết thảy các thứ Thiền Định, thần
thông, trí huệ như trên nên kinh mới nói: “Vô bất viên măn” (Không thứ ǵ chẳng viên măn).
Sách Nhị Giáo Luận, quyển thượng giảng
chữ “mật tạng” (密 藏) như sau: “Những
lời giảng của Pháp Thân Phật th́ gọi là ‘mật
tạng’, ư nói [đó là] những lời nói sâu xa, bí mật,
chân thật”; nghĩa là: Những lời chân thật, sâu
xa, uyên áo, huyền diệu do Pháp Thân Như Lai nói ra th́ gọi
là “mật tạng”.
Sách Tăng Sử Lược lại bảo:
“Mật tạng là pháp
đà-ra-ni. Pháp ấy bí mật, chẳng phải là cảnh
giới của Nhị Thừa, chỉ có chư Phật, Bồ
Tát mới có thể dạo bước trong đó nổi”; ư nói: Mật tạng
chính là đà-ra-ni. Giáo pháp ấy bí mật chẳng phải
là giáo pháp dành cho hàng Nhị Thừa, chỉ có chư Phật,
Bồ Tát mới có thể thấu hiểu, mới thực
hành nổi.
Đối với điều kinh dạy: Hàng đại
sĩ cơi Cực Lạc “chư Phật
mật tạng, cứu cánh minh liễu” (hiểu rơ rốt ráo mật tạng của
chư Phật); ta có thể
tổng hợp hai thuyết trên để hiểu là: Đối
với những mật ư bí áo sâu xa vượt ngoài ngôn ngữ,
các giáo pháp khó suy tưởng nổi và các đà-ra-ni của
Pháp Thân Như Lai, các bậc đại sĩ cơi ấy
đều có thể lănh hội một cách rốt ráo, hiểu
thấu trọn vẹn thông suốt.
Chữ “điều phục”
được sách Thám Huyền Kư giảng như sau:
“Điều (調) là
điều ḥa, ‘phục’ (伏) là chế phục; nghĩa là điều ḥa,
kiềm chế nghiệp thân, khẩu, ư, dẹp yên, trừ
diệt các ác hạnh”. Ư
nói: Giữ yên tịnh, chế ngự được ba nghiệp,
xa ĺa được ác hạnh. “
“Nhu nhuyễn” (柔 軟) là tâm nhu ḥa, tùy thuận đạo. Nếu chẳng
như vậy th́ là ương ngạnh, hễ ương
ngạnh sẽ khó ḷng giáo hóa. Kinh Pháp Hoa nói: “Chúng sanh kư tín phục, ư chất trực, nhu nhuyễn”
(Chúng sanh đă tin phục,
chất trực, ư mềm mại). Đó chính là “thân tâm nhu nhuyễn”.
“Chánh huệ” (正 慧) là trí huệ chân chánh. “Chân” (真) là chân thật;
“chánh” (正) là không tà, ĺa
điên đảo là Chánh. Khế chân nhập thật
cũng là Chánh. Vậy th́ ĺa khỏi phân biệt hư vọng,
soi tỏ trí huệ nơi chân tâm th́ gọi là “chánh huệ”.
“Dư tập” (餘 習) là những thói quen (tập quán) c̣n sót lại
sau khi phiền năo đă đoạn th́ gọi là “dư tập”.
Dư tập c̣n gọi là “tàn tập” (殘 習), đôi chỗ c̣n gọi là “tập khí” (習 氣). Nhị Thừa chẳng đoạn trừ
nổi dư tập, chỉ ḿnh Phật mới đoạn
sạch hết nổi. Đại Trí Độ Luận nói:
“A La Hán, Bích Chi Phật tuy
phá được Tam Độc (tham, sân, si), nhưng khí phận
chưa hết. Ví như hương đặt trong đồ
đựng, dẫu bỏ hương đi, mùi thơm vẫn
c̣n. Lại giống như lấy cỏ cây làm củi, khói lửa hết
rồi, than tro vẫn c̣n v́ sức lửa c̣n yếu.
Đức Phật vĩnh viễn
đoạn sạch ba độc, ví như ngọn lửa
lúc kiếp tận thiêu sạch cả núi Tu Di, hết thảy cơi đất
đều cháy sạch, không có khói, chẳng c̣n than. Chẳng
hạn như ngài Xá Lợi Phất c̣n dư tập là nóng
giận, ngài Nan Đà c̣n dư tập là dâm dục, ngài Tất
Lăng Già Bà Tha c̣n dư tập
là kiêu mạn. Ví như người bị trói lúc mới
được tháo ra, đi đứng c̣n khó khăn”.
Bậc đại sĩ cơi Cực Lạc “vô phục dư tập” (chẳng c̣n sót các tập khí) tức là đă
đạt tới chỗ thực hành của Phật hạnh. V́ thế, bản
Ngụy dịch chép các vị đại sĩ cơi ấy “cứu cánh nhất thiết Bồ
Tát sở hạnh, cụ túc thành tựu vô lượng công
đức” (rốt ráo hết thảy sở hạnh của
Bồ Tát, đầy đủ thành tựu vô lượng
công đức).
“Thất Giác” là Thất Giác
Chi, c̣n gọi là Thất Giác Phần. Giác có hai nghĩa: Giác
liễu (thấu hiểu trọn vẹn) và giác sát (nhận
biết thấu biết rơ rệt). Giác pháp chia ra thành bảy
thứ nên gọi là Chi hoặc Phần. Bảy thứ
đó là: Niệm, Huệ (c̣n gọi là Trạch Pháp), Tinh Tấn,
Khinh An, Hỷ, Định, Hành Xả. Ư nghĩa của bảy
giác pháp ấy như sau:
1. Trạch pháp giác chi: Dùng trí huệ phân biệt,
nhận định pháp là chân hay ngụy.
2. Tinh tấn giác chi: Dùng tâm dũng mănh xa ĺa tà hạnh,
hành chân pháp.
3. Hỷ giác chi: Tâm được thiện pháp liền
sanh hoan hỷ.
4. Khinh an giác chi: Đoạn trừ những điều
thô trọng nơi thân tâm khiến cho thân tâm nhẹ nhàng,
thư thái.
5. Niệm giác chi: Thường nhớ rơ Định
Huệ chẳng quên mất, luôn giữ cho Định và Huệ
được cân bằng.
6. Định giác chi: Khiến tâm trụ vào một cảnh,
chẳng để tán loạn.
7. Hành xả giác chi: Bỏ các lầm lẫn, bỏ
hết thảy pháp, giữ ḷng b́nh thản, chẳng để
ư tưởng rong ruổi.
Sách Hội Sớ lại nói: “Thất
Giác Chi là:
1. Trạch pháp giác phần:
Lúc trí huệ quán sát các pháp th́
khéo có thể phân biệt là chân hay ngụy; chẳng chọn
lầm các pháp hư ngụy nên gọi là “trạch pháp” (chọn
lựa pháp).
2. Tinh
tấn giác phần: Lúc tinh tấn tu các đạo pháp
th́ khéo hiểu rơ, chẳng thực hành lầm các khổ hạnh
vô ích, thường siêng hành
chân pháp nên gọi là “tinh tấn”.
3. Hỷ giác phần: Nếu
tâm được pháp hỷ th́ khéo hiểu rơ niềm vui ấy,
chẳng sanh ḷng vui theo pháp điên đảo, trụ vào
pháp hỷ chân thật nên gọi
là Hỷ.
4. Trừ giác phần
(tức là Khinh An giác chi): Lúc trừ được các Kiến
Hoặc phiền năo th́ khéo hiểu rơ, trừ khử những
hư ngụy, chẳng tổn hại thiện căn chân
chánh nên gọi là Trừ.
5. Xả giác phần (tức
là Hành Xả giác chi): Như lúc xả những cảnh mà
ḿnh nghĩ nhớ hay thấy biết th́ khéo hiểu rơ cảnh
bị xả là cảnh hư ngụy chẳng thật,
vĩnh viễn chẳng nghĩ nhớ tới nữa nên gọi
là Xả.
6. Định giác phần:
Nếu lúc phát khởi các Thiền Định th́ khéo hiểu
rơ các Thiền Định là hư giả, chẳng sanh ư tưởng
kiến giải, yêu mến một cách hư vọng nên gọi
là Định.
7. Niệm giác phần:
Nếu lúc tu đạo xuất thế th́ khéo hiểu rơ,
thường giữ cho Định và Huệ
cân bằng. Nếu tâm ch́m đắm th́ bèn nghĩ cách dùng
ba giác phần Trạch Pháp, Tinh Tấn và Hỷ để
quan sát. Nếu tâm chao động th́ bèn dùng ba giác phần Trừ,
Xả, Định để nhiếp tâm. V́ thế, Niệm
giác phần thường khiến
cho Định và Huệ được đầy tṛn, giữ
cho Niệm đúng mức, thích đáng. Đấy gọi là Niệm.
Bảy thứ này gọi
chung là Giác Phần, là một phần để đạt
đến Bồ Đề”.
Chữ “Thánh Đạo” chỉ
Bát Thánh Đạo, c̣n gọi là Bát Chánh Đạo, tức là: Một
là Chánh Kiến, hai là Chánh Tư Duy, ba là Chánh Ngữ, bốn
là Chánh Nghiệp, năm là Chánh Mạng, sáu là Chánh Tinh Tấn,
bảy là Chánh Niệm, tám là Chánh Định. Sách Di Đà Sớ Sao
nói:
“Một là Chánh Kiến. Kinh
Tạp Tập nói: ‘Nhược giác chi thời, sở đắc
chân giác, dĩ Huệ an lập, đế lư phân minh, vô hữu
mậu ngộ cố’ (Như lúc giác chi th́ dùng Huệ để
an lập cái chân giác ḿnh đă đắc được
đó, đế lư phân minh, không có lầm lạc).
Hai là Chánh Tư Duy: Lúc thấy
lư ấy bèn tư duy, suy
lường tương ứng với tâm vô lậu để
tăng trưởng nhập Niết Bàn.
Ba là Chánh Ngữ: Chẳng những
tâm không suy nghĩ bậy mà c̣n dùng trí
vô lậu ǵn giữ bốn nghiệp nơi miệng, trụ
nơi bốn thứ thiện ngữ.
Bốn là Chánh Nghiệp: Dùng
trí vô lậu trừ hết thảy tà nghiệp và ba thứ
nghiệp nơi thân để thân nghiệp được
thanh tịnh.
Năm là Chánh Mạng: Dùng
trí vô lậu trừ hết tất
cả năm thứ tà mạng nơi tam nghiệp.
Sáu là Chánh Tinh Tấn: Dùng trí
vô lậu để siêng năng tu hành tinh tấn, thẳng
tiến đạo Niết Bàn.
Bảy là Chánh Niệm: Dùng
trí vô lậu để
nghĩ nhớ chánh đạo pháp và trợ đạo pháp,
tâm chẳng lay động.
Tám là Chánh Định: Dùng trí vô
lậu tương ứng để chánh trụ nơi lư,
quyết định không dời.
[Những đạo này]
đều gọi là Chánh, v́ chẳng ngả theo tà vạy
nên gọi là Chánh. Do có thể đạt đến Niết
Bàn nên gọi là Đạo.
Trong phẩm Ly Thế Gian của
kinh Hoa Nghiêm, Bát Chánh Đạo được gọi là Bát Chánh Câu Bồ Tát Đạo.
Chánh Kiến là xa ĺa hết thảy các tà kiến. Chánh
Tư Duy là bỏ tâm vọng phân biệt, tùy thuận Nhất
Thiết Trí… cho đến Chánh Định là khéo nhập Bồ
Tát bất tư nghị giải
thoát môn: Trong một tam-muội có thể xuất nhập
các tam-muội. Cứ lấy những kinh văn này làm chứng
th́ [Bát Chánh Đạo] chẳng phải là rất sâu xa ư?”
Ư nói: Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo v.v... nói rộng ra
là Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Đạo tuy là pháp Tiểu
Thừa, nhưng thông cả Đại Thừa.
Trí Độ Luận bảo: “Ba
mươi bảy phẩm không ǵ chẳng nhiếp nên vô
lượng đạo phẩm cũng thuộc vào đấy”.
Kinh Tịnh Danh nói: “Đạo
phẩm thị Pháp Thân nhân” (Đạo
phẩm là nhân của Pháp Thân). Kinh Niết Bàn cũng dạy:
“Nhược nhân năng quán Bát
Chánh Đạo, tức kiến Phật Tánh, danh đắc
Đề Hồ” (Nếu
kẻ nào quán được Bát Chánh Đạo th́ thấy
được Phật Tánh, đáng được gọi
là Đề Hồ). V́ thế, Di Đà Sớ Sao mới viết:
“Đạo phẩm tuy chỉ một
nhưng do quán trí là Đại Thừa hay Tiểu Thừa mà
thành ra không nhất định”. Nay kinh này nói: “Y Phật sở hành, thất
giác thánh đạo” (Nương theo
Thất Giác, Thánh Đạo mà đức Phật đă hành) là
có ư nói: Bồ Tát cơi ấy dùng Quán Trí của Phật để
thâm nhập các đạo phẩm.
“Tu hành ngũ nhăn”: Phật có
ngũ nhăn. Bồ Tát chí cầu Phật đức (phẩm
đức của Phật) mà Phật đức vô lượng
nên kinh chỉ tạm nêu ngũ nhăn để đại diện
cho tất cả những đức khác. Ngũ nhăn này có thể
“chiếu Chân, đạt Tục”:
Do thấy được Chân Không và Thật Tánh Bất
Không trong Như Lai Tạng nên bảo là “chiếu Chân”; lại c̣n thấy được vô
số h́nh sắc của các thế giới, căn tánh của
chúng sanh và việc họ chết đây sanh kia trong những
thế giới ấy nên bảo là “đạt Tục”. Do chiếu Chân nên hạnh tự
giác viên măn, thông đạt cứu cánh. Do đạt Tục
nên thuận theo căn cơ, đặt bày cách giáo hóa, độ
sanh vô lượng.
Nay một pháp Tịnh Độ này chính là pháp chiếu Chân
đạt Tục đến mức tột cùng nhất. “Chiếu chân” để hiển
lộ Chân Đế, “đạt Tục”
nhằm tỏ rơ Tục Đế; nêu lên cả hai Đế ấy
để hiển thị Trung Đế. Tam Đế viên dung chẳng
thể nghĩ bàn. Lại do “chiếu
Chân” nên đúng như thật, “đạt Tục” nên rộng độ. Bởi
thế thâu trọn vạn loại, rốt ráo độ
thoát.
1.“Nhục Nhăn” tức là
con mắt nơi cái thân xác thịt của con người,
chỉ thấy được sắc tướng hiện
tiền nên bảo là “giản
trạch” (phân biệt, chọn
lựa).
2. “Thiên Nhăn” là con mắt
của chư thiên. Đại Trí Độ Luận nói: “Thiên nhăn thấy được
chúng sanh, các vật thuộc tự địa (Cơi ḿnh
đang ở, chẳng hạn đối với chư
thiên Sắc giới th́ Sắc giới là tự địa) và hạ địa (hạ
địa là những cơi thấp hơn cơi ḿnh đang sống,
chẳng hạn như Dục Giới là hạ địa
của Sắc giới) các sắc
dù xa hay gần, dù thô hay tế
không thứ ǵ chẳng thấy rơ”. Tịnh Ảnh Sớ
lại ghi: “Hết thảy Thiền
Định gọi là thiên trụ. Do Thiền đắc nhăn nên
gọi là Thiên Nhăn, có thể thấy được chúng
sanh chết đây sanh kia”. Như vậy, Thiên Nhăn có cả
hai nghĩa như trên vừa nói.
Lại có hai thứ Thiên Nhăn: Một là Thiên Nhăn có
được do quả báo, hai là do tu chứng. Thiên Nhăn
như trong Tịnh Ảnh Sớ đă giảng chính là do tu
chứng mà có.
Theo Trí Độ Luận, mức độ “thông đạt” của hai loại mắt ấy
như sau: “Nhục Nhăn thấy
gần chẳng thấy xa, chỉ thấy [vật ở]
trước [mắt] không thấy được phía sau
lưng, chỉ thấy bên ngoài chẳng thể thấy nổi
bên trong, chỉ thấy được ban ngày, chẳng thấy
được ban đêm; chỉ thấy phía trên chẳng thấy phía dưới. Do v́
những điều ấy nên cầu Thiên Nhăn. Đắc Thiên
Nhăn th́ xa gần đều
thấy cả, trước, sau, trong, ngoài, trên, dưới
đều thấy vô ngại”. Bởi vậy, gọi là
“thông đạt”.
Hơn nữa, mức thấy của Thiên Nhăn trong uế
độ chẳng thể vượt khỏi tam thiên đại
thiên thế giới; c̣n Thiên Nhăn của hàng Bồ Tát cơi Cực
Lạc thấy thông suốt cả mười phương
hằng sa thế giới và những chúng sanh chết
đây sanh kia trong những thế giới đó.
3. Ngài Vọng Tây giảng chữ “Pháp Nhăn” như sau: “Duyên
vào Tục Đế Trí, chiếu soi được pháp th́ gọi
là Pháp Nhăn”. Ngài Cảnh Hưng bảo: “Pháp Nhăn lấy Hữu Trí làm Thể, thấy
được tâm dục tánh của chúng sanh và các Phật pháp nên gọi là Pháp
Nhăn”. Sách Tiên Chú nói: “Thấy
thông suốt các pháp duyên sanh sai biệt một cách phân minh
nên gọi là Pháp Nhăn”. Bản Ngụy dịch ghi: “Pháp Nhăn quán sát, cứu cánh chư
đạo” (Pháp nhăn quán sát rốt ráo các đạo).
Nay kinh đây nói: “Pháp Nhăn
thanh tịnh” th́ chính là giống như sách Tam Tạng
Pháp Số bảo: “Pháp Nhăn: Bồ
Tát v́ độ sanh nên dùng Pháp Nhăn thanh tịnh xem khắp hết
thảy các pháp, pháp nào đáng biết, đáng hành, tức
là: Do hành pháp ấy th́ sẽ chứng đạo ấy;
cũng biết hết các môn
phương tiện [thích ứng với] hết thảy
chúng sanh khiến cho họ tu, chứng”. Như vậy,
đối với hết thảy pháp, Bồ Tát biết
được, hành được; cũng như biết
các pháp để hành và đạo để chứng. Ngài
c̣n biết được các thứ phương tiện
môn để phổ độ chúng sanh. Đó gọi là Pháp Nhăn
thanh tịnh. Pháp Nhăn của hàng Bồ Tát cơi Cực Lạc
cũng giống như vậy nên kinh nói “Pháp Nhăn thanh tịnh”.
4. Sư Vọng Tây giảng “Huệ
Nhăn” là: “Duyên vào Chân Đế
Trí, soi thấu tỏ Không lư (Chân Không), nên gọi là Huệ Nhăn”. Ngài Cảnh Hưng bảo:
“Huệ nhăn lấy Không Trí làm
Thể, chiếu lư Chân Không”. Sách Đại Thừa Nghĩa
Chương lại nói: “Huệ
nhăn: Xem thấy tỏ tường là Huệ; do huệ thấy
thông suốt nên gọi là Huệ Nhăn”.
Ngài Tịnh Ảnh lại giảng chữ “kiến Chân” (thấy Chân) là: “Thấy được Chân Không
nên gọi là kiến Chân”. Trí Độ Luận nói: “Huệ Nhăn có thể thấy
được lư Không nơi tướng và thấy
được Chân Không”. Luận c̣n nói: “V́ Thật Tướng nên cầu Huệ Nhăn. Do đắc
Huệ Nhăn nên chẳng thấy chúng sanh, diệt sạch dị
tướng, bỏ ĺa các chấp trước, chẳng thọ
hết thảy pháp, trí huệ tự diệt bên trong nên gọi là Huệ Nhăn”.
Kinh Tư Ích cũng chép:
“Huệ Nhăn vi kiến hà
pháp?
Đáp ngôn: Nhược hữu
sở kiến, bất danh Huệ Nhăn! Huệ Nhăn, bất
kiến hữu vi pháp, bất kiến vô vi pháp. Sở dĩ
giả hà? Hữu vi pháp giai hư vọng, phân biệt, vô
hư vọng phân biệt thị danh Huệ Nhăn. Vô vi pháp
không vô sở hữu, quá chư nhăn đạo. Thị cố
Huệ Nhăn diệc bất kiến vô vi pháp”
(Huệ Nhăn là thấy được
pháp nào?
Đáp: Nếu c̣n có cái để thấy th́
chẳng gọi là Huệ Nhăn. Huệ nhăn chẳng thấy
pháp hữu vi, chẳng thấy pháp vô vi, v́ sao vậy? Pháp hữu
vi đều là hư vọng phân biệt. Không hư vọng
phân biệt th́ gọi là Huệ Nhăn. Pháp vô vi là không, vô sở hữu, vượt ngoài sự
lănh hội của mắt. V́ vậy, Huệ Nhăn cũng chẳng
thấy pháp vô vi).
Trong những kinh, luận vừa được dẫn
trên đây để giải thích câu “huệ nhăn kiến Chân” th́ cách giải thích của
kinh Tư Ích và Đại Luận là tinh diệu nhất v́ [Huệ
nhăn] thấy rơ ràng nhưng không có ǵ để thấy, chẳng
thấy hữu vi, chẳng thấy vô vi th́ mới gọi
là “kiến Chân”. Ư nghĩa
câu “trí huệ tự diệt
bên trong” giống hệt câu “vô
trí diệc vô đắc”
(chẳng có trí, cũng chẳng có ǵ để đắc)
của Tâm kinh; đấy mới là hiểu rơ những
ǵ đă được hiểu rơ bởi Phật tánh vậy.
5. “Phật Nhăn”: Con mắt
của Như Lai được gọi là Phật Nhăn, tức
là con mắt thấy hiểu thông suốt Thật Tướng
của các pháp.
Ngài Cảnh Hưng giảng chữ “cụ túc” (đầy đủ) như sau: “Do Nhất
Thiết Chủng Trí làm Thể nên không pháp ǵ chẳng chiếu
thấu. Bởi thế nói là cụ túc”.
Sách Pháp Hoa Văn Cú giảng: “Phật
nhăn viên thông, bổn thắng kiêm liệt, bốn loại
nhăn kia thuộc trong Phật nhăn, đều gọi là Phật
nhăn”. Ư nói: Phật nhăn vốn là vô thượng thù thắng
nên bảo là “bổn thắng”, nhưng Phật nhăn cũng
chứa đựng đủ cả những loại mắt
kém hơn nên bảo là “kiêm liệt”. Những loại mắt
kém hơn tức là bốn loại mắt c̣n lại. Bổn
thắng th́ thấy được Phật tánh, c̣n kiêm liệt
là có đủ công dụng của bốn loại mắt
kia nên có thể chiếu soi hết thảy pháp thuộc cả
Chân Đế lẫn Tục Đế.
Nếu có kẻ ngờ rằng Phật đă xả nhục
thân sao lại c̣n có nhục nhăn, xin mượn lời
đáp của Trí Độ Luận như sau: “Huệ Nhăn, Pháp Nhăn, Phật Nhăn tuy thù thắng
nhưng chẳng thấy chúng sanh pháp. Muốn thấy chúng
sanh th́ chỉ đành phải dùng Nhục Nhăn”. Ngài
Nghĩa Tịch cũng bảo: “Có
nhục nhăn th́ biết được chướng nội
sắc” (Xin xem lại lời giải thích về chướng
nội, chướng ngoại ở cuốn trước).
V́ hóa độ chúng sanh, hiện có tướng Phật nên
phải có cả Nhục Nhăn.
Tịnh Ảnh Sớ giảng chữ “giác liễu pháp tánh” (hiểu rơ pháp tánh) như sau:
“Phật nhăn thấy được
bất không thật tánh trong Như Lai Tạng một cách
chân thật nên gọi là liễu pháp tánh”. Ngài Cảnh
Hưng bảo: “Tương ứng
với Nhất Thiết Chủng Trí, hiểu rơ Trung Đạo
Đệ Nhất Nghĩa nên gọi là liễu pháp tánh”. Ngài
c̣n bảo: “Cũng thấy Phật
tánh nên bảo là giác pháp tánh”.
Như vậy, do Phật nhăn hiểu rơ được
pháp tánh cho nên sách Pháp Hoa Văn Cú mới bảo Phật Nhăn
“bổn thắng”, các thứ
nhăn khác không sánh bằng nổi. Nói như vậy là để
hiển thị khả năng thấu triệt của Phật
Nhăn; c̣n bảo Phật Nhăn đầy đủ là để
hiển thị tánh viên dung của Phật Nhăn có đầy
đủ các công dụng của những con mắt khác.
Nếu có ai vặn rằng trong các kinh khác, Huệ Nhăn
được kể là con mắt thứ ba, Pháp Nhăn là con mắt
thứ tư; sao kinh này lại nói ngược lại? Ngài
Nghĩa Tịch và Vọng Tây cùng giảng như sau:
- Kinh này nói về nhăn cảnh của Pháp Nhăn. Hai thứ
nhăn trên (Huệ Nhăn và Pháp Nhăn) đều thuộc về Tục
Đế, nhưng Huệ Nhăn bắt đầu thấy
được Chân Đế. Do Chân cao hơn Tục nên kinh này
xếp Pháp Nhăn thứ ba, Huệ Nhăn thứ tư.
- Nếu bàn về thứ tự khởi tu th́ trước
hết phải thấu đạt Chân rồi mới có thể
dẫn dắt kẻ tục nên các kinh khác xếp Pháp Nhăn
vào vị trí thứ tư như sách Hoa Nghiêm Diễn
Nghĩa Sao đă viết: “Để
trưởng dưỡng chúng sanh th́ trước hết phải
tu Nhục Nhăn. Nhục Nhăn thấy được sự
thô, chẳng thấy được những ǵ vi tế. Kế
đó, tu Thiên Nhăn. Thiên Nhăn thấy
được sắc nhưng chưa thấy được
chân cảnh nên phải tu Huệ Nhăn. Huệ Nhăn thấy Lư
nhưng chưa thấy được Sự nên phải tu
Pháp Nhăn. Pháp Nhăn chưa viên dung nên phải tu Phật Nhăn”.
Trí Độ Luận cũng nói: “Bồ
Tát Ma Ha Tát lúc sơ phát tâm dùng Nhục Nhăn thấy chúng sanh
trong thế giới chịu khổ nạn, tâm sanh từ bi
nên cầu Huệ Nhăn để cứu vớt. Đạt
được Huệ Nhăn rồi lại thấy chúng sanh
có các thứ tâm tưởng bất đồng, làm cách nào
để khiến cho chúng sanh chứng đắc
được thật pháp này? V́ vậy cầu Pháp Nhăn
để dẫn dắt chúng sanh”.
Thấu đạt Chân rồi mới có thể dẫn
dắt Tục; đó là thứ tự được dùng
trong các kinh khác. C̣n trong kinh này lại coi Chân thù thắng
hơn Tục nên xếp Huệ Nhăn vào cấp độ thứ
tư. Do đó, trật tự của Pháp Nhăn và Huệ Nhăn
trong kinh này khác hẳn những kinh khác.
Trong đoạn kinh này, câu “vô
bất viên măn” (không ǵ là chẳng viên măn) chính là lời
khen chung tất cả những điều trên. Tiếp
đó, kinh chỉ rơ nguyên nhân tại sao hết thảy
đều viên măn.
Trước hết là do hiểu rơ rốt ráo mật tạng
của Phật, khác nào theo ḍng nước t́m được
nguồn, lần theo cành t́m thấy gốc. Đă t́m thấy cội
gốc rồi, chẳng đếm xỉa đến cành
nhánh nữa. Cổ đức nói: “Đắc kỳ nhất, vạn sự tất” (Đạt được một
th́ muôn việc xong). Nếu có thể thường biết
rơ ràng bản thể của Phật th́ tự nhiên điều
phục được các căn, khác nào tay vung gươm
báu kim cang, cái ǵ xáp đến cũng đều bị chém
phăng. Tự đă chẳng c̣n, gươm cũng chẳng
phải là gươm, nên khéo điều phục, thân tâm ḥa
thuận “thâm nhập chánh huệ”.
Thân lẫn tâm đều đă điều ḥa, đă hiểu
rơ chánh huệ th́ phiền năo dư tập chẳng cần
đoạn liền tự dứt, chí nguyện vô thượng,
tùy thuận Như Lai, theo lời Phật dạy hành hạnh
của Phật.
Bởi thế, thực hành thông suốt Thất Giác,
Thánh Đạo; tu tập đủ Ngũ Nhăn của Phật,
chiếu Chân, đạt Tục, thung dung Trung Đạo. V́ tinh
tấn chẳng ngơi nên mở sáng Phật Nhăn của
chính ḿnh, hiểu rơ pháp tánh, rốt ráo chứng nhập mật
tạng của Như Lai. Rơ ràng là hết thảy diệu
đức không một đức nào chẳng bắt nguồn
từ mật tạng của Phật; mỗi một diệu
đức không thứ nào chẳng quy về mật tạng
ấy.
Chánh kinh:
辯 才 總 持,自 在 無 礙。善 解 世 間 無 邊 方 便。所 言 誠 諦,深 入 義 味。度 諸 有 情,演 說 正 法。無 相 無 為,無 縛 無 脫。無 諸 分 別,遠 離 顛 倒。於 所 受 用,皆 無 攝 取。徧 遊 佛 剎,無 愛 無 厭。亦 無 希 求 不 希 求 想,亦 無 彼 我 違 怨 之 想。何 以 故?彼 諸 菩 薩,於 一 切 眾 生,有 大 慈 悲 利 益 心 故。捨 離 一 切 執 著,成 就 無 量 功 德。以 無 礙 慧,解 法 如 如。善 知 集 滅 音 聲 方 便。不 欣 世 語,樂 在 正 論。
Biện
tài tổng tŕ, tự tại vô ngại. Thiện giải thế gian vô
biên phương tiện. Sở
ngôn thành đế, thâm nhập nghĩa vị. Độ chư hữu t́nh, diễn thuyết chánh pháp.
Vô tướng, vô vi, vô phược, vô thoát, vô
chư phân biệt, viễn ly điên đảo. Ư
sở thọ dụng, giai vô nhiếp thủ, biến du Phật
sát, vô ái, vô yếm, diệc vô hy cầu, bất hy cầu
tưởng, diệc vô bỉ ngă vi oán
chi tưởng. Hà dĩ cố? Bỉ chư Bồ Tát, ư nhất thiết chúng
sanh, hữu đại từ bi lợi ích tâm cố, xả
ly nhất thiết chấp trước, thành tựu vô
lượng công đức. Dĩ vô ngại
huệ, giải pháp như như, thiện tri Tập Diệt
âm thanh phương tiện, bất hân thế ngữ, nhạo
tại chánh luận.
Biện tài tổng
tŕ tự tại vô ngại, khéo hiểu vô biên phương
tiện thế gian, lời nói thành khẩn, chân thật.
Thâm nhập nghĩa vị. Độ các hữu t́nh, diễn
nói chánh pháp vô tướng, vô vi, chẳng trói buộc, chẳng
giải thoát, không các phân biệt, xa ĺa điên đảo. Với
những thứ thọ dụng đều chẳng chấp
lấy, dạo khắp các cơi Phật, không ưa, không chán,
cũng chẳng có ư tưởng mong cầu hay chẳng mong
cầu, cũng chẳng có ư tưởng ta - người
thù ghét. V́ sao vậy? Các vị Bồ Tát đó đối với
hết thảy chúng sanh có tâm đại từ bi lợi
ích, bỏ ĺa hết thảy chấp trước, thành tựu
vô lượng công đức, dùng vô ngại huệ hiểu
pháp Như Như, khéo biết âm thanh, phương tiện Tập,
Diệt, chẳng thích lời lẽ thế gian, chỉ
thích chánh luận.
Giải:
Đoạn kinh này nói về hạnh lợi tha của bậc
đại sĩ, gồm có ba điều chính:
1. Diễn thuyết diệu pháp
2. Dạo trong các cơi Phật.
3. Phổ lợi chúng sanh.
Ba điều này dung nhiếp lẫn nhau.
Từ chữ “biện tài”
cho đến “viễn ly
điên đảo” (xa ĺa điên đảo) nói về
tánh đức trí huệ và biện tài của Bồ Tát. Chữ
“biện tài, tổng tŕ”
được bản Ngụy dịch ghi là “cụ chư biện tài” (đủ
các biện tài). Như vậy, “tổng
tŕ” có nghĩa là đầy đủ các thứ. Câu kinh
này ư nói bậc đại sĩ cơi ấy đầy đủ
các thứ biện tài. Tổng tŕ c̣n có nghĩa là đà-ra-ni
nên ta c̣n có thể hiểu là các Ngài đă đắc biện
tài đà-ra-ni.
Tiếp đó, kinh nói “tự
tại vô ngại” ngụ ư: Bồ Tát đă đắc
biện tài vô ngại, hay nói gọn là Vô Ngại Biện. Vô
Ngại Biện có thể chia thành bốn hay chín loại. Tứ
Vô Ngại Biện c̣n gọi là Tứ Vô Ngại Trí, Tứ
Vô Ngại Giải. Đó là trí huệ biện tài xét về mặt
thuyết pháp của Bồ Tát. Do từ phương diện
ư nghiệp mà nói nên gọi là Giải (解) hoặc là Trí
(智). Nếu nói theo phương diện khẩu
nghiệp th́ gọi là Biện (辯).
Kinh Niết Bàn giảng về Tứ Vô Ngại Biện
như sau: “Bồ Tát có thể
đạt được bốn vô ngại như sau: Pháp
Vô Ngại, Nghĩa Vô Ngại, Từ Vô Ngại, Nhạo
Thuyết Vô Ngại”.
C̣n theo kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhă, có đến
chín thứ biện tài là: “Vô sai
biện, vô tận biện, tương tục biện, bất
đoạn biện, bất khiếp nhược biện,
bất kinh bố biện, bất cộng dư biện, vô
biên tế biện, nhất thiết thiên nhân sở ái trọng
biện”. Chín thứ này cũng được gọi là
Vô Ngại Biện.
Đại sĩ cơi Cực Lạc có đầy đủ
các thứ biện tài mầu nhiệm vô ngại như thế
chẳng hề bị chướng ngại nên kinh bảo: “Biện tài tổng tŕ tự tại
vô ngại”.
“Thiện
giải thế gian vô biên phương tiện” (Khéo hiểu vô biên phương tiện của
thế gian) là Sai Biệt Trí. Phương tiện là thiện
xảo. Do khéo biết căn tánh và ư thích của hết thảy
chúng sanh, khéo léo thuyết pháp tùy theo cơ nghi nên khế hợp
căn cơ.
“Sở ngôn thành đế, thâm
nhập nghĩa vị” (Lời nói thành
khẩn, chân thật, thâm nhập nghĩa vị): “Thành
đế” (誠 諦) là thành khẩn,
chân thật. Do Căn Bản Trí khế hợp lư Thật
Tướng, đắc Sai Biệt Trí, hiểu biết
căn cơ của chúng sanh nên nói ra pháp “thâm nhập nghĩa vị”. [V́ thuyết pháp] khế
lư, khế cơ khiến cho tất cả những người
nghe lănh hội được nghĩa lư, hiểu sâu pháp vị
nên họ đều được độ thoát. Do
đó, kinh bảo: “Độ
chư hữu t́nh” (độ các hữu t́nh).
Do khế lư nên pháp nào nói ra cũng là chánh pháp. “Chánh pháp” là đạo pháp chân
chánh. Sách Thắng Man Bảo Quật viết: “Phật đem chánh pháp trao cho
chúng sanh”. Chánh pháp như thế “vô tướng, vô vi, vô
phược, vô thoát, vô chư phân biệt, viễn ly
điên đảo” (vô tướng,
vô vi, không trói buộc, không giải thoát, không có các phân biệt,
xa ĺa điên đảo).
Ngài Tịnh Ảnh bảo “vô
tướng” là: “Các pháp
đều là không, nên gọi là vô tướng”. Kinh Niết
Bàn cũng dạy: “Niết Bàn
danh vi vô tướng, dĩ hà nhân duyên, danh vi vô tướng?
Thiện nam tử! Vô thập tướng cố. Hà đẳng
vi thập? Sở vị sắc tướng, thanh tướng,
hương tướng, vị tướng, xúc tướng,
sanh, trụ, hoại tướng, nam tướng, nữ
tướng. Thị danh thập tướng. Vô như thị
tướng, cố danh vô tướng” (Niết Bàn gọi là vô tướng.
Do nhân duyên nào lại gọi là vô tướng? Này thiện
nam tử! Do v́ không có mười tướng. Những ǵ
là mười? Chính là sắc tướng, thanh tướng,
hương tướng, vị tướng, xúc tướng,
sanh tướng, trụ tướng, hoại tướng,
nam tướng, nữ tướng. Đấy là mười
tướng. Không có các tướng như thế nên gọi
là vô tướng).
Đối với khái niệm hữu tướng, vô tướng,
Mật giáo lại có hai cách giải thích cạn cợt
sơ lược và sâu xa bí mật.
1. Nghĩa cạn cợt sơ lược là các pháp thuộc
về Sắc (vật chất) và Tâm (tinh thần) mà chúng
sanh thấy được, có sự tướng rơ ràng, hiện
hành ngay nơi tâm dễ biết, dễ thấy th́ gọi
là hữu tướng. Thể tánh của các pháp vô sắc,
vô h́nh, chẳng có một tướng tồn tại th́ gọi
là vô tướng.
2. Nghĩa sâu xa, bí mật: Hữu tướng là trụ
một cách phân minh vào tướng của từng pháp trong hết
thảy pháp. Vô tướng là trong một tướng có
đủ cả hết thảy tướng, nhưng chẳng
giữ lại tướng nào. Tuy đủ hết thảy
tướng nhưng chẳng hề thấy có một
tướng nên gọi là vô tướng, chứ chẳng phải
là vô sắc, vô h́nh.
Không có nhân duyên tạo tác th́ gọi là “vô vi”, đồng nghĩa với “vô tác”; xin xem lời giải thích chi tiết chữ
“vô tác” trong phẩm mười
bảy.
“Vô phược, vô thoát” (Không trói buộc,
không giải thoát): Thế nhân thường xem phiền năo,
vô minh là trói buộc (phược: 縛); coi đoạn
Hoặc hiển Chân là độ thoát, nhưng chẳng biết
là vô minh và pháp tánh vốn cùng một Thể. Pháp tánh như
nước, vô minh như băng, hiện ra tướng trạng
khác nhau, nhưng xét đến bản thể th́ toàn thể
của băng vô minh lại chính là nước pháp tánh. Sách
Pháp Hoa Huyền Nghĩa bảo vô minh và phiền năo “như băng là nước,
như nước là băng”. Do băng và nước là
một nên không trói buộc, không giải thoát.
“Vô chư phân biệt” (Không có các phân biệt) chính là Bất Nhị,
chính là Như Thị. Lư thể của pháp giới là bất
nhị, b́nh đẳng nên bảo là Như. Chư pháp đều
như nên bảo là “như
như”. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương nói: “Cái này, cái kia đều Như,
nên bảo là Như Như. Như vốn chẳng hư vọng
nên trong kinh c̣n gọi là Chân Như”. Do cái này lẫn cái
kia đều Như th́ tự nhiên “vô chư phân biệt”.
Kinh Văn Thù Bát Nhă lại dạy: “Nhược tín nhất thiết pháp tất thị
Phật pháp, bất sanh kinh bố, diệc bất nghi hoặc.
Như thị nhẫn giả, tốc đắc A Nậu Bồ
Đề” (Nếu tin hết
thảy pháp đều là Phật pháp th́ chẳng sanh sợ
hăi, cũng chẳng nghi hoặc. Nhẫn được
như vậy th́ mau chứng đắc Vô Thượng Bồ
Đề).
Kinh Đại Bảo Tích cũng dạy: “Năi chí chư pháp bổn tánh dữ Phật tánh đẳng,
thị cố chư pháp giai thị Phật pháp” (Thậm chí bản tánh của các
pháp b́nh đẳng với Phật tánh cho nên các pháp đều
là Phật pháp). Nếu tin chắc chắn hết thảy
pháp đều là Phật pháp th́ cũng chẳng c̣n
phân biệt.
Chữ “viễn ly điên
đảo” (xa ĺa điên đảo) như trên đă giải
thích. Xét về cội gốc, vạn pháp đều khế
hợp Thật Tướng nên không điên đảo. Trong
bản chú giải kinh Tịnh Danh, ngài La Thập đă giảng
chữ “điên đảo”
như sau: “Thấy là có, không,
trái nghịch với pháp tướng nên gọi là điên
đảo”. Ư nói: Thấy là Có hay thấy là Không th́ đều
là c̣n chấp trước, đều là trái nghịch với
tướng b́nh đẳng của chư pháp nên gọi là
điên đảo.
Bốn câu từ chữ “vô
tướng, vô vi” cho đến “viễn ly điên đảo” cùng mô tả chánh
pháp được giảng bởi bậc đại
sĩ cơi Cực Lạc.
* Đoạn kinh từ chữ “ư sở thọ
dụng” (với những
thứ thọ dụng) cho đến “bất hy cầu tưởng” (chẳng có ư tưởng mong cầu) nói rơ Bồ
Tát cơi ấy b́nh đẳng dạo khắp mười
phương cơi Phật. Đối với những thứ thọ
dụng, họ đều chẳng chấp trước,
ngay cả các cơi thanh tịnh vẫn không yêu thích, vào trong các
uế độ cũng chẳng ghét bỏ.
“Diệc vô hy cầu, bất hy
cầu tưởng” (Cũng chẳng
có ư tưởng mong cầu, hay chẳng mong cầu): Theo
kinh Kim Cang Tam Muội: “Nhập
đạo đa đồ, yếu bất xuất nhị
chủng: Nhất Lư nhập, nhị hạnh nhập” (Có nhiều đường nhập
đạo nhưng cốt yếu không ngoài hai thứ: Một
là lư nhập, hai là hạnh nhập).
Có bốn thứ hạnh nhập, điều thứ ba
trong ấy là: “Tâm vô sở cầu,
thế nhân trường mê, xứ xứ tham cầu, danh chi
vi Cầu. Trí giả ngộ Chân, an tâm vô vi, vạn hữu
giai không, vô sở hy cầu, thị chân vô cầu. Thuận
đạo nhi hành, cố vị chi vô sở cầu hạnh”
(Tâm không mong cầu.
Người đời mê muội lâu ngày, tham cầu khắp
nơi nên gọi là Cầu. Bậc trí ngộ Chân, an tâm vô
vi, vạn hữu đều không, không mong cầu ǵ. Ấy
là chân vô cầu, thuận theo đạo mà hành nên gọi là
Vô Sở Cầu Hạnh).
Do vậy, “vô hy cầu
tưởng” (không có ư tưởng mong cầu) chính là Vô
Sở Cầu Hạnh, “diệc
vô bất hy cầu tưởng” (cũng không có ư tưởng
chẳng mong cầu) chính là ngay cả cái “không mong cầu” cũng chẳng có. Chẳng lập
một pháp chính là vô cầu một cách chân thật. Chẳng
mong cầu lại chính là vô vi. Chẳng “không mong cầu”
chính là chẳng chấp vào vô vi, chẳng chấp hữu vi.
Chẳng trụ vào vô vi th́ mới khế hội Trung Đạo
(đó là lư nhập). Những điều như vậy
chính là diệu đức vào trong các cơi Phật một cách
b́nh đẳng của các vị Bồ Tát trong cơi Cực Lạc.
* Tiếp đó, kinh nói đến đức tánh độ
sanh b́nh đẳng của các vị đại sĩ. Các vị
Bồ Tát cơi ấy có ḷng đại từ bi, nguyện làm
lợi lạc hết thảy hữu t́nh nên đối với
hết thảy chúng sanh chẳng nệ là thân hay sơ, là kẻ
oán hay người thân, cũng không phân biệt là ḿnh hay
người, cũng không có ư tưởng kẻ khác là oán
thù hay kẻ chống trái ḿnh, xem tất cả đều
như con một, b́nh đẳng phổ độ.
V́ thế, kinh mới nói: “Diệc vô
bỉ ngă vi oán chi tưởng. Hà dĩ cố?
Bỉ chư Bồ Tát ư nhất thiết
chúng sanh hữu đại từ bi lợi ích tâm cố” (Cũng chẳng có ư tưởng ta,
người, thù ghét. V́ cớ sao? Các Bồ Tát ấy
đối với hết thảy chúng sanh có tâm đại
từ bi lợi ích).
Những câu kinh tiếp đó nói thêm về cả hai hạnh
tự lợi, lợi tha và đức hạnh b́nh đẳng
thuyết pháp. Các Bồ Tát đi qua khắp các cơi nước
thuyết pháp chẳng ngoài mục đích độ sanh, mà
muốn thuyết pháp th́ tự ḿnh phải giác ngộ
trước đă, nên kinh mới nói: “Xả ly nhất thiết chấp trước,
thành tựu vô lượng công đức. Dĩ vô ngại
huệ, giải pháp như như” (Bỏ ĺa hết thảy chấp trước,
thành tựu vô lượng công đức. Dùng vô ngại huệ
hiểu pháp như như). Đó là hạnh tự lợi
được viên măn.
Trong bốn ư vừa nêu trên, ư đầu tiên là bỏ
ĺa chấp trước v́ đây chính là mấu chốt
để nhập đạo. Đức Thế Tôn thấy sao
Mai liền triệt ngộ bổn tâm; ngay câu giảng đầu
tiên, Ngài đă khẳng định hết thảy chúng sanh
đều có đủ trí huệ, đức tướng
như Như Lai, chỉ v́ vọng tưởng chấp
trước nên chúng sanh chẳng thể chứng đắc
nổi. Do vậy, bỏ ĺa được vọng tưởng
chấp trước th́ ngay khi ấy liền đầy
đủ trí huệ, đức tướng của Như
Lai. V́ thế, kinh mới bảo: “Thành tựu vô lượng công đức”.
“Vô ngại huệ” là trí huệ
thông đạt viên dung của Phật; bản Ngụy dịch
ghi là “vô ngại trí”. Kinh Đại
Tập nói: “Vô ngại trí huệ
vô hữu biên, thiện giải chúng sanh tam thế sự” (Trí huệ vô ngại chẳng có
ngằn mé, khéo hiểu các sự của chúng sanh trong ba
đời). Phẩm Hóa Thành Dụ trong kinh Pháp Hoa
cũng có câu: “Như Lai vô ngại
trí, tri bỉ Phật diệt độ, cập Thanh Văn
Bồ Tát, như kiến kim diệt độ” (Như Lai vô ngại trí biết
Phật kia diệt độ và như hiện nay thấy
Thanh Văn và Bồ Tát diệt độ). Tịnh Ảnh Sớ giảng:
“Giải pháp như như là hiểu
theo Lư… Giống như hư không nên gọi là Như. Hiểu
biết hết thảy muôn pháp
đều như th́ gọi là Giải Pháp Như Như (hiểu
các pháp là như như)”.
Như Như chính là một trong năm pháp được
dạy trong kinh Thủ Lăng Nghiêm. Lư Thể của pháp
tánh là bất nhị, b́nh đẳng nên gọi là Như.
Pháp này lẫn pháp kia đều Như nên mới bảo là
Như Như, tức là Lư Thể khế hợp với
Chánh Trí. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển
ba cũng giảng:
“Như Như là lư được
khế hội bởi Chánh Trí. Các pháp có cùng một Thể
nên gọi là Như. Trong Thể của Nhất Như có
đủ cả Phật pháp như số cát sông Hằng
trong trần sa cơi nước. Nếu xét theo từng pháp để biện
định Như th́ Như nghĩa là chẳng phải một.
Đây, kia đều như nên gọi là Như Như”.
Sách Hội Sớ lại giảng: “Như Như nghĩa là chẳng một, chẳng
khác, chẳng không, chẳng có. Đấy là tướng của
Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế”.
Tổng hợp hai cách giải thích trên, th́ Như Như
chính là “đây, kia đều
như”. Do đây, kia đă như nên “bất dị” (chẳng khác). Nhưng v́ nói là “đây, kia” cho nên “bất nhất” (chẳng một).
V́ thế mới bảo là “nghĩa
của Như chẳng phải là một”.
Câu “thiện tri tập diệt âm
thanh phương tiện” (khéo biết âm thanh, phương tiện
Tập Diệt) được sách Hội Sớ giảng
như sau: “Chữ Tập (習) chính là Tập Đế (集 諦), ư nói kèm cả Khổ. Diệt (滅) là Diệt Đế, ngụ ư tính cả Đạo. Do nhân quả ảnh
hưởng lẫn nhau nên nói giáo nghĩa Tứ Đế chính
là âm thanh phương tiện”.
Sách Hội Sớ cho rằng từ ngữ Tập Diệt
(習 滅) chính là hai đế Tập và Diệt trong Tứ
Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), nên mới bảo
là trong Tập có kèm cả Khổ, trong Diệt tính cả Đạo.
Nay chỉ nói Tập, Diệt chứ thật ra là muốn
nói đến cả Tứ Đế. Lại do nhân thuộc
trong biển quả, quả tột cùng nguồn nhân, nhân quả
ảnh hưởng lẫn nhau; Tiểu, Đại, Thiên, Viên
đồng quy pháp Nhất Thừa. V́ vậy, nói ra giáo pháp
Tứ Đế chính là phương tiện mà nói nên mới gọi
là “âm thanh phương tiện”.
Tịnh Ảnh Sớ lại giảng: “Khéo hiểu Tập, Diệt… là giáo giải (hiểu
trên phương diện giáo nghĩa). Lời dạy tích tập việc lành gọi là Tập
âm thanh. Lời dạy diệt ác được gọi là
Diệt âm thanh. Bồ Tát đều hiểu rành những
điều ấy nên bảo là ‘thiện tri’ (khéo biết). Biết những điều ấy
một cách khéo léo nên gọi là phương tiện”.
Gia Tường Sớ lại nói: “Thiện tri Tập Diệt (Khéo biết âm thanh Tập Diệt) là Từ Vô Ngại”.
Ta có thể hiểu câu “thiện
tri tập diệt âm thanh phương tiện” (khéo biết các âm thanh phương tiện Tập
Diệt) theo cả hai cách giải thích trên.
Câu “bất hân thế ngữ, nhạo
tại chánh luận” (chẳng thích những
lời lẽ thế gian, chỉ ưa chánh luận) trong
đoạn cuối được sách Hội Sớ giảng
như sau: “Ư nói ĺa lầm lỗi,
tức là chẳng ham bàn luận những việc thế
gian vô ích, chỉ thích nói liễu nghĩa rốt ráo xuất
thế của Đại Thừa”. Liễu nghĩa Đệ
Nhất Nghĩa Đế rốt ráo được gọi là “chánh luận”.
Chánh kinh:
知 一 切 法,悉 皆 空 寂。生 身 煩 惱, 二 餘 俱 盡。於 三 界 中,平 等 勤 修。究 竟 一 乘,至 於 彼 岸。決 斷 疑 網,證 無 所 得。以 方 便 智,增 長 了 知。從 本 以 來,安 住 神 通。得 一 乘 道,不 由 他 悟。
Tri nhất thiết pháp, tất
giai không tịch. Sanh thân phiền năo, nhị dư câu tận.
Ư tam giới trung, b́nh đẳng cần
tu, cứu cánh Nhất Thừa, chí ư bỉ ngạn, quyết
đoạn nghi vơng, chứng vô sở đắc.
Dĩ Phương Tiện Trí, tăng trưởng liễu
tri, tùng bổn dĩ lai, an trụ thần
thông, đắc Nhất Thừa đạo, bất do tha ngộ.
Biết hết
thảy pháp đều là không tịch. Nhị dư: sanh
thân và phiền năo đều cùng hết sạch. Trong tam giới,
b́nh đẳng siêng tu Nhất Thừa rốt ráo, đạt
tới bờ kia, đoạn sạch lưới nghi, chứng
vô sở đắc. Dùng Phương Tiện Trí để
tăng trưởng liễu tri. Từ đầu đến
nay an trụ trong thần thông, đắc đạo Nhất
Thừa, chẳng do cái ǵ khác mà khai ngộ.
Giải:
Đoạn này nói rơ hạnh đức viên măn của hàng Bồ
Tát cơi Cực Lạc.
“Tri nhất thiết pháp tất
giai không tịch” (Biết hết
thảy pháp đều là không tịch): “Không” là như trong
phẩm Đệ Tử của kinh Duy Ma đă nói: “Chư pháp cứu cánh vô sở hữu,
thị Không nghĩa” (Các
pháp rốt ráo vô sở hữu, đó là nghĩa của chữ
Không), và cũng như
sách Đại Thừa Nghĩa Chương bảo: “Không là xét theo Lư mà đặt tên.
Lư vắng lặng nên gọi là Không”.
Sách Hội Sớ lại bảo: “Bát Nhă diệu huệ chứng tịch diệt b́nh
đẳng nên bảo là ‘tri nhất thiết pháp giai tất
tịch diệt” (chữ “không tịch” được bản
Ngụy dịch ghi là “tịch diệt”).
Sách Vạn Thiện Đồng Quy Tập giảng: “Kinh giáo gọi Không là Không v́ nó bất
khả đắc, v́ nó chẳng có thật tánh, đó là cái
Không chẳng bị đoạn diệt”.
Tổng hợp những cách giải thích vừa dẫn,
ta có thể nói một cách giản yếu như sau: Bồ
Tát cơi Cực Lạc do trí huệ Bát Nhă mầu nhiệm nên
biết rơ hết thảy các pháp đều rốt ráo là vô
sở hữu, bất khả đắc, b́nh đẳng
không tịch; tuy biết chắc hết thảy pháp đều
là không, nhưng chẳng đoạn diệt. Cái không tịch
này là Thật Tế lư thể, chứ không phải là Đoạn
Không. Nó là Đệ Nhất Nghĩa Không, là cái Không chẳng bị
đoạn diệt. Khế nhập được Tịch
Diệt b́nh đẳng như thế nên kinh mới nói: “Tri nhất thiết pháp tất
giai không tịch” (Biết hết
thảy pháp đều là không tịch).
Chữ “sanh thân”chỉ
chung cái thân phần đoạn sanh tử và cái thân biến
dịch sanh tử (ở đây, chữ “sanh thân”[1]
chỉ cái thân biến dịch sanh tử của Bồ Tát).
Sanh thân chính là một pháp trong “nhị
dư”.
“Nhị dư” chính là khổ
báo nơi sanh thân và tàn dư phiền năo. Sanh thân là khổ
quả, phiền năo là nhân của các Hoặc chướng.
Cả hai thứ tàn dư này đều hết sạch nên
kinh mới nói: “Sanh thân phiền
năo, nhị dư câu tận” (Sanh thân, phiền
năo, nhị dư đều cùng hết sạch).
Sách Hội Sớ bảo: “Sanh
thân là khổ quả vướng vào thân, nó chính là Khổ Đế. Phiền năo là Kiến
Hoặc, Tư Hoặc. Đó chính là Tập Đế”.
“Nhị dư” chính là tàn
dư của Khổ và Tập. Bồ Tát đoạn
được chánh sử và tập khí[2]
nên chẳng c̣n tàn dư, vượt khỏi tam giới,
không c̣n phải do cha mẹ sanh ra mới có thân, đoạn
sạch tất cả triền phược thuộc hữu
lậu quả nên kinh nói là “câu
tận” (cùng hết sạch).
Ngài Cảnh Hưng lại bảo: “Sanh thân là báo, phiền năo là nhân tạo khổ. Cả
hai thứ nhân lẫn quả đều đă hết sạch”.
Ngài Tịnh Ảnh lại bảo: “Sanh thân là khổ báo. Phiền năo là cái nhân gây Hoặc
chướng. Hai thứ tàn dư này đều đă diệt
sạch”. Bởi thế mới bảo là: “Nhị dư câu tận” (Hai thứ tàn dư sanh thân và phiền
năo cùng hết sạch).
“Nhất Thừa” là con đường
duy nhất để thành Phật, là giáo pháp tối cực
viên đốn. “Thừa” (乘) là cỗ xe,
thường được ví với giáo pháp của Phật.
Giáo pháp có khả năng chuyên chở hành nhân đến
được bờ kia Niết Bàn nên gọi là Thừa.
Sách Thắng Man Bảo Quật, quyển thượng
viết: “Nhất Thừa là
đạo cùng tột không hai, nên gọi là Nhất. Vận
dụng tự tại th́ gọi là Thừa”. Kinh Thắng
Man cũng dạy: “Nhất Thừa
tức thị Đệ Nhất Nghĩa Thừa” (Nhất Thừa chính là Đệ Nhất
Nghĩa Thừa). Ngài Cảnh Hưng lại bảo: “Nhất Thừa chính là trí, tuy có
ba nhưng xét đến cùng cực th́ chẳng có hai, nên gọi
là Nhất Thừa”.
Kinh Pháp Hoa chuyên dạy về lư Nhất Thừa, phẩm
Phương Tiện của kinh ấy có đoạn viết:
“Thập phương Phật
độ trung, duy hữu Nhất Thừa pháp, vô nhị diệc
vô tam, trừ Phật phương tiện thuyết” (Trong cơi Phật mười
phương chỉ có pháp Nhất Thừa, cũng chẳng
có hai hay ba thừa, trừ phi Phật phương tiện
nói như vậy).
Kinh c̣n dạy: “Duy thử
nhất sự thật, trừ nhị tắc phi chân” (Chỉ có một sự thật
này, hai thứ kia chẳng phải là chân)”. Tịnh Ảnh
Sớ cũng giảng: “Thừa
là hạnh dụng. Hạnh có khả năng chuyển tải
nên gọi là Thừa. Do hóa độ nên có nhiều thừa,
nhưng thật ra [những thừa ấy] chẳng khác
nhau. Bởi vậy mới nói là Nhất. Nhất Thừa ấy
được diễn tả cùng tột bằng từ ngữ
Cứu Cánh”.
Ư lời sớ là: Chỗ tột cùng của lư Nhất
Thừa được gọi là “cứu cánh Nhất Thừa”. Các vị đại
Bồ Tát cơi Cực Lạc bi thệ sâu rộng, tuy sống
trong Cực Lạc nhưng v́ thương xót chúng sanh nên bèn
thị hiện trong tam giới sanh tử, trụ b́nh đẳng
huệ, siêng gắng tu tập. Bởi vậy, kinh mới
nói: “Ư tam giới trung, b́nh đẳng
cần tu” (Trong tam giới,
b́nh đẳng siêng tu).
Họ hiểu thấu lư Thật Tướng Nhất
Thừa một cách rốt ráo, đạt đến bờ
kia Niết Bàn nên kinh bảo: “Chí ư bỉ
ngạn” (Đạt tới bờ
kia). Sách Hội Sớ nói: “Bờ
kia là Niết Bàn diệu quả”. Tịnh Ảnh Sớ
ghi: “Đạt tới bờ kia là
[đạt tới] Niết Bàn cực quả”. Chữ “Niết Bàn cực quả” chỉ
quả tột cùng của Niết Bàn, tức là vô thượng
Quả Giác chí cao, rốt ráo thành Phật vậy.
Câu “quyết đoạn
nghi vơng” (quyết đoạn lưới nghi) được
hiểu nhiều cách khác nhau:
- Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Trừ Vọng hiển Chân gọi là đoạn
lưới nghi”. Sách Hội Sớ cũng giảng giống
như vậy: “Đoạn trừ
lưới nghi, trí huệ tự sanh”. Cả hai bộ sớ
này đặt nặng việc đoạn trừ lưới
nghi của chính ḿnh.
- Gia Tường Sớ lại giảng: “Quyết đoạn lưới
nghi là đoạn được mối nghi của chúng
sanh”.
Hai thuyết tuy khác, nhưng chẳng mâu thuẫn nhau v́
muốn trừ được mối nghi cho chúng sanh th́
trước hết chính ḿnh đă phải không c̣n nghi ngờ
ǵ. Hơn nữa, khi tự ḿnh đă xé tan lưới nghi
th́ chân trí tự sanh, ắt sẽ khởi đại hạnh
khiến cho khắp các chúng sanh cũng đoạn nghi, chứng
Chân. Bởi đó, “quyết
đoạn nghi vơng” gồm đủ cả hai nghĩa
(tự ḿnh đoạn nghi và đoạn nghi cho chúng sanh).
“Vô sở đắc” c̣n gọi là “vô sở hữu” tức là
Không Huệ hay c̣n được gọi cách khác là Vô Phân Biệt
Trí. Thấu hiểu chân lư vô tướng, tự tâm không chấp
trước vào đâu cả, không c̣n có các phân biệt th́ là
“vô sở đắc”. Tâm
kinh dạy: “Vô trí diệc vô
đắc” (Vô trí cũng
vô đắc).
Trí Độ Luận giảng: “Do
trong Thật Tướng của các pháp chẳng thể có
được tướng quyết định nên gọi
là vô sở đắc”. Kinh Niết Bàn cũng dạy: “Vô sở đắc giả, tắc
danh vi Huệ. Hữu sở đắc giả, danh vi vô
minh” (Vô sở đắc
được gọi là Huệ. Hữu sở đắc
th́ gọi là vô minh).
Kinh Niết Bàn c̣n nói: “Hữu
sở đắc giả, danh sanh tử luân. Nhất thiết
phàm phu luân hồi sanh tử, cố hữu sở kiến.
Bồ Tát vĩnh đoạn nhất thiết sanh tử, thị
cố Bồ Tát danh vô sở hữu” (Hữu sở đắc th́ gọi là sanh tử luân.
Hết thảy phàm phu sanh tử luân hồi nên có sở kiến.
Bồ Tát vĩnh viễn đoạn hết thảy sanh tử
cho nên Bồ Tát được gọi là vô sở đắc).
Lời dạy của kinh Niết Bàn là lời giảng
liễu nghĩa về cứu cánh chân thật. Theo bản sớ
giải kinh Nhân Vương của ngài Lương Phần,
“vô sở đắc”
được hiểu như sau: “Tâm vô sở đắc là Vô Phân Biệt Trí”.
Trong tác phẩm Duy Ma Kinh Sớ, ngài Tịnh Ảnh Huệ
Viễn lại giảng: “Bồ
Tát phá tan t́nh, tướng, đạt đến chỗ vô
đắc th́ gọi là vô sở đắc”. Như vậy,
“vô sở đắc” tức
là đạt đến chỗ vô đắc.
“Phương Tiện Trí” c̣n gọi là
Quyền Trí, tức là trí hiểu rơ pháp phương tiện,
trí thực hành phương tiện. Quyền Trí và Thật
Trí là hai mặt tương đối. Thấu đạt
Thật Tướng của các pháp th́ gọi là Như Lai Thật
Trí. Hiểu rơ các thứ sai biệt là Như Lai Quyền
Trí. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển mười
chín giảng: “Biết pháp Nhất
Thừa chân thật th́ gọi là Thật Trí. Biết rơ pháp
quyền nghi để hóa độ ba thừa th́ gọi là
Phương Tiện Trí”.
Ngoài ra, Thật Trí là Thể, Quyền Trí là Dụng. Bản
thể sự thành Phật của Như Lai là Thật Trí,
diệu dụng giáo hóa suốt cả một đời của
Ngài thuộc về Quyền Trí.
Mật giáo lại lấy Tâm Liên Hoa Đài của Thai Tạng
Mạn Đồ La (tức Liên Hoa Bộ) làm Thật Trí, tám
cánh hoa nở (của Liên Hoa Đài) làm Quyền Trí. Kinh Đại
Nhật, quyển hai chép: “
Hơn nữa, dùng Thật Trí để cầu Quyền
Trí, cũng chính là từ Căn Bản Trí đạt
được Sai Biệt Trí, nên kinh mới nói: “Tăng trưởng liễu tri”.
Ta có thể dùng h́nh ảnh hoa sen nở tung để ví “tăng trưởng”, búp sen
hàm tiếu ví cho “liễu tri”.
Tám cánh của đóa sen nơi tâm x̣e nở trọn vẹn
thể hiện ư nghĩa “tăng
trưởng liễu tri” (hoa sen tám cánh trong viện Liên
Đài bát diệp của Thai Tạng mạn-đồ-la của
Mật giáo chính là đóa sen nơi tâm của chúng sanh[3]
v́ cánh sen nở tung phơi bày đài sen khác nào Phương
Tiện Trí khai minh, hiển lộ trọn vẹn nguồn
tâm.
Hơn nữa, việc độ sanh chẳng thể
không dùng đến thần thông, mà từ xưa đến
nay, Bồ Tát vốn đă tự nhiên an trụ trong các thần
thông. Các thần thông ấy chẳng phải có tự bên
ngoài, đúng như kinh Viên Giác nói: “Bổn lai thành Phật” (Vốn đă thành Phật) nên kinh đây mới
bảo: “Tùng bổn
dĩ lai, an trụ thần thông” (Từ đầu đến nay an trụ trong
thần thông).
Thật Trí lẫn Quyền Trí cùng chiếu tỏ th́ tự
nhiên an trụ trong thần thông, trọn vẹn diệu
đức, nhập vào Thật Tướng, chứng vô sở
đắc. Do vô sở đắc nên “đắc Nhất Thừa đạo”.
Ư “bất do tha ngộ” (chẳng do cái ǵ khác để khai ngộ)
được bản Đường dịch ghi như sau: “Đắc Nhất Thừa đạo,
vô hữu nghi hoặc, ư Phật giáo pháp, bất do tha ngộ”
(Đắc đạo Nhất Thừa, chẳng có nghi
hoặc. Với giáo pháp của Phật chẳng do cái ǵ khác
để khai ngộ); c̣n bản Ngụy dịch ghi là: “Huệ do tâm xuất”. Tịnh
Ảnh Sớ giải thích: “Chân
giải phát trung, danh huệ tâm xuất”. Ư nói: Sự giải
ngộ chân thật phát xuất từ tự tâm nên bảo
là “huệ do tâm xuất”.
Trong tác phẩm Vô Lượng Thọ Kinh Sớ, ngài Vọng
Tây viết: “Lưới nghi
đă đoạn, chợt chứng Thật lư. Cái năng chứng
trí ấy chẳng phát sanh từ cái nào khác mà chính là phát sanh
từ nơi tâm”. Ư nói: Ngay cả mối nghi nhỏ nhiệm
cũng đă vĩnh viễn đoạn sạch th́ hiển
nhiên đại ngộ, đốn chứng Thật Lư,
đắc đạo Nhất Thừa. Cái trí chứng
được đạo Nhất Thừa ấy phát xuất
từ tự tâm, quyết chẳng từ cảnh nào khác
phát sanh.
Hội Sớ viết: “Đoạn
trừ lưới nghi th́ trí huệ tự sanh. ‘Do tâm’ nghĩa là Vô Sư Tự
Nhiên Trí, chẳng cần phải do ai khác mà ngộ”. Ư
nói: Trí huệ phát sanh ấy chính là Vô Sư Trí và Tự Nhiên
Trí. Đă là Vô Sư Trí th́ chẳng do người nào khác mà
đắc. Trí ấy lại là Tự Nhiên Trí th́ chẳng cần
phải do sự nào khác mà sanh. V́ vậy, kinh mới nói: “Huệ do tâm xuất” và “bất do tha ngộ” (chẳng do cái ǵ khác để
khai ngộ).
Ta có thể hiểu theo câu kinh này theo các cách giải
thích của cả ba bộ sớ trên. Nói chung là đại
ngộ rạng rỡ, chứng nhập Thật Tướng,
các diệu trí như Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí v.v… cùng hiện
rạng ngời, chứng ngộ phát sanh từ tự tâm,
chẳng phải do từ cái ǵ bên ngoài phát sanh.
Vật ǵ đem từ ngoài cửa vào th́ có phải
đâu là của báu nhà ḿnh sẵn có. Lục Tổ Huệ
Năng đại sư nói: “Mật
tại nhữ biên” (Mật
ở tại nơi ngươi). Rơ ràng, mật tạng
của chư Phật ta vốn sẵn đủ, hễ ngộ
th́ nó hiển hiện sáng ḷa, chẳng từ cái khác mà có nên
kinh mới dạy: “Đắc Nhất
Thừa đạo, bất do tha ngộ” (Đắc đạo Nhất Thừa,
chẳng do cái khác mà khai ngộ)
[1] Phần Đoạn
Sanh Tử là thân sanh tử của chúng sanh trong ba cơi. Do quả
báo sanh tử, chúng sanh trong ba cơi chiêu cảm thân tướng
và thọ mạng dài ngắn khác nhau nên gọi là Phần Đoạn
Sanh Tử. Biến Dịch Sanh Tử là thân không có h́nh sắc
hơn kém, không có thời hạn thọ mạng dài ngắn,
và đang trong quá tŕnh diệt dần mê tưởng,
tăng dần chứng ngộ từ thấp đến
cao. A La Hán, Bích Chi Phật và Bồ Tát đă đoạn hết
chướng hoặc, không c̣n thọ thân Phần Đoạn
trong ba cơi, nhưng lại dùng thân Biến Dịch để
trở vào ba cơi tu hạnh Bồ Tát trong suốt một thời
gian dài để mong đạt đến Vô Thượng
Bồ Đề (theo Huệ Quang tự điển).
[2] Chánh Sử là chủ
thể phát khởi phiền năo. Chánh Sử c̣n gọi tắt
là Sử, tức là những phiền năo sai khiến chúng
sanh luân hồi trong sanh tử. Từ A La Hán trở lên mới
dứt hết nổi Chánh Sử. Tập khí là những thói
quen từ những kiếp trước c̣n sót lại. Chẳng
hạn như ngài Kiều Phạm Ba Đề tuy đă đoạn
Chánh Sử nhưng miệng vẫn nhai nhóp nhép như trâu
nhơi cỏ do tập khí quá khứ nhiều đời
làm trâu.
[3] Thai Tạng mạn-đồ-la:
C̣n gọi là Nhân Mạn Đà La, Lư Thú Mạn Đà La, Đại Bi Mạn
Đà La. Thai Tạng nghĩa là phát sanh ra chư Phật, ư vị
cùng tột không ǵ sánh bằng, tṛn khắp đầy đủ.
Thai Tạng mạn-đà-la phát sanh từ tâm địa b́nh
đẳng của Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Thai Tạng chỉ
cho lư tánh sẵn có của chúng sanh. Thai Tạng Giới giống
như chủng tử của các thức được
thai mẹ cưu mang cho đến khi thành tựu các
phương tiện, thể hiện các hạnh lợi tha
cứu cánh viên măn. Thai Tạng Mạn Đà La được vẽ
ra dựa trên mô tả trong phẩm Cụ Duyên của kinh Đại
Nhật. Mạn-đà-la này chia thành mười khu vực,
mỗi khu được gọi là Viện. Viện trung
ương mang tên Trung Đài Bát Diệp gồm chín tôn vị,
tượng trưng cho giáo nghĩa “tất cả chúng sanh
đều có Phật tánh”. Các viện khác như viện Biến
Tri, viện Quán Âm, viện Kim Cang Thủ, viện Hư
Không Tạng, viện Thích Ca… tượng trưng cho các khía
cạnh tánh đức khác nhau của tự tâm (theo Huệ
Quang tự điển).