5. Các căn khí được kinh này hóa độ
Phần trên đă nói kinh này rộng thâu vạn loại,
phổ độ ba căn, nay sẽ giải thích rơ: Trong vạn
loài, loài nào là khí, trong ba căn, căn nào là đương cơ?
Căn khí
có thị khí (căn khí thích hợp) và phi khí sai khác. Căn
khí ṛ rỉ, hư bể chẳng thể kham nhận
mưa pháp th́ gọi là phi khí (chẳng phải là căn khí
thích đáng). Sách Sớ Sao viết: “Trước hết là ba loại phi khí: Kẻ không có ḷng tin, kẻ không có nguyện,
kẻ không hạnh. Không phải ba thứ trên th́ là Khí”.
Tín là tin rằng chúng sanh và Phật chẳng hai, tâm này là
Phật, tâm này làm Phật, chúng sanh niệm Phật nhất
định văng sanh rốt ráo thành Phật. Nguyện là chán
nhàm Sa Bà, ưa thích, hâm mộ Cực Lạc như con nhớ
mẹ, quyết sẽ văng sanh. Hạnh là từ nguyện
khởi hạnh, nhất hướng chuyên niệm chẳng
gián đoạn.
Ba điều trên đây gọi là “tư lương”[1].
Tư lương nếu khuyết sẽ khó bề tiến
tới. Ba thứ Tín, Nguyện, Hạnh thiếu một thứ
chẳng được, như ba chân của cái đỉnh,
thiếu một chân, đỉnh phải đổ. Cái
đỉnh thiếu một chân chẳng phải là Khí. Sách
Sớ Sao lại viết:
“Lại nữa, người
đời tuy hành các điều thiện mà đối với
cơi kia không có Tín, Nguyện, Hạnh, cũng chẳng phải
là Khí. Tuy có các lầm lỗi mà với cơi kia có Tín, Nguyện,
Hạnh th́ cũng gọi là Khí”.
Luận về căn cơ, có đương cơ và bất
đương cơ sai khác. Trong ba căn, căn nào là
đương cơ thích hợp nhất? Xưa kia có nhiều
thuyết, nay sẽ xét rơ. Năm thời thuyết pháp của Thế Tôn đều là
tùy cơ (thuận theo căn cơ) mà thiết lập giáo
pháp, theo bệnh cho thuốc. Nói chung, các vị Bồ Tát là
đương cơ của kinh điển Đại thừa,
Nhị Thừa là đương cơ của kinh sách Tiểu
Thừa.
Chỉ có Tịnh Độ kỳ đặc, thù diệu
(lạ lùng, đặc biệt, mầu nhiệm tột bậc),
lập riêng phong cách. Từ xưa đă có nhiều thuyết,
ở đây xin nêu ba thuyết:
5.1 Thượng bối văng sanh chỉ là Bồ Tát
Trong kinh này, trong ba bậc văng sanh, mỗi bậc lại
chia thành ba phẩm giống như chín phẩm trong Quán kinh.
Chư sư cổ đức trước thời ngài Thiện
Đạo đời Đường cho rằng Thượng
Thượng Phẩm văng sanh Cực Lạc là Bồ Tát từ
Tứ Địa đến Thất Địa; Thượng Trung
Phẩm là Sơ Địa cho đến Tứ Địa Bồ
Tát; Thượng Hạ Phẩm là Đại Thừa chủng
tánh cho đến Sơ Địa Bồ Tát. Trung Phẩm
Thượng Sanh là Tiểu Thừa Tam Quả.
Nếu hiểu như vậy, trong chín phẩm, Thượng
Phẩm chỉ có Bồ Tát, thánh chúng mới có thể sanh nổi,
Tiểu thánh (thánh nhân Tiểu Thừa) sanh về Trung
Thượng Phẩm. Với bốn phẩm từ Thượng
Thượng đến Trung Thượng, phàm phu tuyệt
chẳng có phần.
5.2 Vốn v́ phàm phu,
kiêm v́ thánh chúng
Thiện Đạo đại sư trong tác phẩm Quán
Kinh Tứ Thiếp Sớ (Quán Kinh Nghĩa Sớ) đă
đả phá thuyết trên như sau: “Như Lai nói mười sáu pháp quán này chỉ v́ độ
thoát chúng sanh thường ch́m đắm, chẳng can hệ
tới các bậc thánh Đại Thừa, Tiểu Thừa”.
Ư Ngài cho rằng: Phật giảng chín phẩm văng sanh trong
Quán kinh chỉ là v́ chúng sanh trầm luân, chẳng v́ Bồ
Tát, A La Hán.
Ngài c̣n viết: “Lại xét
văn nghĩa phần Định Thiện và ba bậc văng sanh
Thượng, Trung, Hạ trong Quán kinh, ta thấy đều
là v́ bọn ngũ trược phàm phu sau khi Phật diệt
độ. Chỉ do gặp duyên sai khác mà có chín phẩm sai
biệt. V́ sao? Ba bậc Thượng Phẩm là phàm phu gặp
duyên Đại Thừa. Ba bậc Trung Phẩm là phàm phu gặp
duyên Tiểu Thừa. Ba bậc
Hạ Phẩm là phàm phu gặp ác duyên”.
Ngài c̣n viết thêm: “Nay
đối với mỗi điều đều nêu kinh
văn chứng minh rơ ràng, ngơ hầu phàm phu thiện - ác
trong hiện tại cùng được hưởng chín phẩm,
sanh ḷng tin vô ngại, nương vào nguyện lực của
Phật đều được văng sanh”.
Hơn nữa, trong phần Hành Quyển Kệ đă
khai thị căn cơ của kinh Đại Vô Lượng Thọ
như sau: “Căn cơ của
kinh này là hết thảy phàm ngu thiện, ác, đại, tiểu”.
Thuyết của đại sư, trên khế hợp
thánh tâm, dưới tương hợp các căn cơ, thật
có công lớn với Tịnh Độ. V́ vậy, phần lớn
các sư Trung Hoa, Nhật Bản đề cao thuyết này,
như sách Hợp Tán của Nhật đă viết: “Mười phương chúng sanh,
ba bậc chúng sanh trong nguyện thứ mười tám đều
là cụ phược phàm phu (phàm phu đầy dẫy triền
phược). Bọn họ là căn cơ”.
Sách c̣n viết rằng: “Như
ngài Nguyên Hiểu viết: ‘Bốn mươi tám đại
nguyện trước hết v́ phàm phu, sau kiêm v́ tam thừa
thánh nhân’, cho nên tông ư của Tịnh Độ vốn là v́ phàm
phu kiêm v́ thánh nhân”.
Điểm diệu yếu của thuyết này là hiển
thị trực tiếp bi nguyện độ sanh vô tận
của Như Lai, quét sạch tâm khiếp lui của phàm phu,
khắp làm cho họ chánh tín pháp này phát tâm niệm Phật,
nương vào Phật nguyện lực đều
được văng sanh.
5.3 Chuyên tiếp thượng
căn, bàng cập trung hạ
Thuyết này xét về mặt văn tự tựa hồ
trái nghịch với thuyết thứ hai, tương đồng
thuyết thứ nhất. Thật ra, nó tương đồng
thuyết thứ hai, nhấn mạnh phàm phu chúng ta đều
có thể thẳng lên chín phẩm, cho nên về căn bản,
nó trái nghịch thuyết thứ nhất. Bảo rằng
“chuyên tiếp thượng căn” là sợ bọn kiến
giải hời hợt trong đời thường nghĩ
Tịnh tông là hạnh của lũ ông già bà cả bèn xem
thường, cho nên phải lập ra thuyết này để
cứu vớt họ.
Sách Di Đà Sớ Sao nói: “Lại
nữa, Khởi Tín Nhân Duyên Phận Sớ nói rơ bậc
Sơ Tâm của Tín Vị có bốn căn cơ: Dùng lễ
bái, sám hối diệt tội để độ sơ
cơ, dùng tu tập Chỉ Quán độ trung cơ, dùng cầu
sanh Tịnh Độ tiếp độ thượng cơ.
Sơ cơ là chúng sanh nghiệp
chướng, trung cơ là phàm phu Nhị Thừa. V́ vậy,
biết rằng Tịnh Độ
là pháp tu của Đại Thừa Bồ Tát vậy”.
Sách Di Đà Yếu Giải c̣n cho rằng Tŕ Danh là “pháp môn thâm diệu, phá sạch hết
thảy những hư luận, đoạn sạch hết thảy
ư kiến, chỉ có những bậc như Mă Minh, Long Thọ,
Trí Giả mới có thể triệt để gánh vác nổi”.
Do một pháp Tŕ Danh là pháp môn vô thượng chí viên chí
đốn chẳng thể dùng phân biệt suy lường
để hiểu nổi, nên bảo là “thâm diệu”. Chỉ
một bề mà niệm, chẳng cần đến
phương tiện khác, chẳng vướng vào suy lường,
trực tiếp khởi lên, trực tiếp tỏ lộ
tác dụng, tâm tự được mở mang, ngay trong khi
ấy phá sạch hư luận, trừ sạch hết thảy
phân biệt so đo, nên nói: Pháp thâm diệu như vậy chỉ
có hàng nhục thân Đại Sĩ như Mă Minh v.v... mới có
thể trực tiếp lănh hội được, mới
triệt để gánh vác nổi.
Đại sĩ Mă Minh người xứ Đông Thiên Trúc, truyền
tâm ấn của Phật, là Tổ thứ mười hai của
Thiền Tông, trung hưng Đại Thừa, soạn Đại Thừa
Khởi Tín Luận. Cuối luận, khuyên chúng sanh niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ. Đại sĩ Long Thọ
người xứ Nam Thiên Trúc, là Tổ mười bốn
của Thiền Tông, thân cận Kim Cang Tát Đỏa[2],
lại thành Tổ của Mật giáo. Ngài vào long cung đem
kinh Hoa Nghiêm về nên thành Tổ của tông Hoa Nghiêm. Lại
rộng tạo các luận, cực lực hoằng
dương Tịnh Độ. Kinh Lăng Già huyền kư rằng:
Ngài chứng Hoan Hỷ Địa, văng sanh Tịnh Độ, cho
nên là Tổ của Tịnh Độ tông. Trung Hoa gọi Ngài là
“Tổ của tám tông” (bát tông chi tổ) v́ các tông Thiên Thai,
Pháp Tướng, Nam Sơn, Tam Luận cũng đều
coi Ngài là Tổ khai tông.
Trí Giả đại sư tụng Pháp Hoa, thân tâm rỗng
rang, được nhập Pháp Hoa tam-muội, đích thân
thấy một hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan.
Sau Ngài trụ núi Thiên Thai, sáng lập Thiên Thai tông. Khi lâm
chung nằm nghiêng trên hông phải, mặt hướng về
Tây, xưng niệm A Di Đà Phật và Quán Thế Âm mà tịch.
Vĩnh Minh đại sư được ngài Thiều
quốc sư của Thiên Thai Tông phát minh tâm yếu[3],
trở thành đích tôn của tông Pháp Nhăn. Sau đó, Ngài
chuyên chí nơi Tịnh tông: Mỗi ngày tụng hồng danh
mười vạn câu, kiêm hành nhật khóa một trăm lẻ
tám việc, được Quán Âm Đại Sĩ dùng cam lộ
rưới vào miệng, diệu huệ phát khởi, viết
bộ Tông Kính Lục gồm một trăm quyển và Tâm
Phú Chú, Vạn Thiện Đồng Quy Tập... giơ cao đuốc
pháp chiếu sáng muôn đời. Năm bảy mươi
hai tuổi, Ngài thắp hương, giă biệt đồ
chúng, ngồi mà quy Tây.
Bốn vị đại đức trên đây đều
là nhục thân Đại Sĩ, là bậc long tượng trong
pháp môn. Sách Yếu Giải bảo chỉ có những người
như vậy mới có thể triệt để đảm
nhiệm pháp môn Tịnh Độ. Những học nhân gần
đây há có nên dùng sự thấy biết thế tục
để coi khinh pháp môn Tịnh Độ hay không?
Sách Yếu Giải c̣n viết: “V́ vậy, một tiếng A Di Đà Phật chính là pháp
để đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác
trong đời ác ngũ trược của đức Bổn
Sư Thích Ca, nay Ngài đem toàn thể Quả Giác trao cho
chúng sanh trược ác. Cảnh giới sở hành của
chư Phật chỉ có Phật với Phật mới hiểu
rốt ráo, chẳng phải tự lực của cửu giới
có thể tin hiểu nổi”. Do câu này, ta thấy pháp môn
Niệm Phật thật là pháp thâm diệu vô thượng,
chỉ có bậc thượng căn mới có thể trực
tiếp gánh vác.
Thêm nữa, phẩm Bồ Tát Văng Sanh của kinh Vô
Lượng Thọ có chép: “Thập
phương thế giới chư Phật danh hiệu, cập
Bồ Tát chúng đương văng sanh giả, đản
thuyết kỳ danh cùng kiếp bất tận” (Nếu
chỉ nói ra danh tự của mười phương thế
giới, danh hiệu chư Phật [trong các cơi ấy] và
danh hiệu của Bồ Tát [trong cơi ấy] được
văng sanh th́ hết cả kiếp cũng chẳng nói hết).
Phẩm Thọ Kư Bồ Đề lại chép: “Do ư thử pháp bất thính
văn cố, hữu nhất ức Bồ Tát thoái chuyển
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề” (Do chẳng nghe
được pháp này, có một ức Bồ Tát thoái chuyển
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).
Kinh Như Lai Bất Tư Nghị Cảnh Giới
cũng nói: “Bồ Tát
liễu tri chư Phật cập nhất thiết pháp giai
duy tâm lượng, đắc Tùy Thuận Nhẫn, hoặc
nhập Sơ Địa. Xả thân tốc
sanh Diệu Hỷ thế giới Cực Lạc tịnh Phật
độ trung” (Bồ Tát biết rơ thấu chư Phật và
hết thảy pháp đều chỉ là tâm lượng,
đắc Tùy Thuận Nhẫn hoặc nhập Sơ Địa,
bỏ thân rồi sẽ mau sanh về thế giới Diệu
Hỷ hay cơi Phật Cực Lạc thanh tịnh).
Sách Di Đà Sớ Sao ghi: “Nên biết
niệm Phật là cha của Bồ Tát sanh ra Pháp Thân, cho đến
bậc Thập Địa từ đầu đến cuối
chẳng ĺa niệm Phật. Lẽ đâu bọn Sơ Tâm
tự măn, chẳng nguyện văng sanh!” Đủ thấy pháp
môn Tịnh Độ thật rất khế hợp căn
cơ Bồ Tát.
Do những điều trên thấy được rằng:
Tŕ Danh Niệm Phật là pháp Quả Giác nhân tâm[4],
chỉ có Phật với Phật mới có thể hiểu
tột cùng thể dụng. Pháp ấy vô thượng thâm diệu
rộng sâu như biển. Tắm gội trong đó: Kẻ
hạ căn lội chỗ cạn gần bờ, thân vẫn
ở trong biển cả, cũng hưởng cái vui tắm
nước biển. Nếu muốn tột cùng đáy biển
chỉ đành cậy bậc thượng căn lợi
trí. Có lặn xuống nước làm việc, thâm nhập
đáy biển mới biết nổi biển rộng sâu vô
lượng. V́ vậy, mới bảo là “chuyên tiếp thượng căn, kiêm tiếp độ
trung căn, hạ căn”.
Hai thuyết thứ hai và thuyết thứ ba cách hành
văn tuy khác nhưng ư nghĩa tương đồng, khác
nào Lô Sơn nh́n ngang thành rặng, nh́n nghiêng thành ngọn.
Tướng hiện ra có sai khác, bản thể chỉ một.
Nói chung, vẫn chỉ là một núi Lô Sơn. Do đó,
văn tự của hai thuyết tuy khác mà thật ra đều
xiển minh bi trí vô lượng của đạo sư hai
cơi, phước huệ đều viên măn.
Nói “chuyên tiếp thượng căn” chính là hiển thị
Như Lai đại trí đại huệ. Pháp môn Tịnh Độ
này là do đức Di Đà trụ Chân Thật Huệ, từ
Chân Thật Tế mà khai hóa hiển thị. V́ vậy, chỉ
có Phật và Phật mới hiểu cùng tột.
Biển nguyện Nhất Thừa của Phật Di Đà,
sáu chữ hồng danh, viên dung đủ các đức, siêu
t́nh, ly kiến, toàn thể là Nhất Chân pháp giới sự
lư vô ngại, sự sự vô ngại, nên chẳng thể
dùng suy lường phân biệt để có thể biết
nổi, lời nói lẫn chữ nghĩa đều chẳng
thể diễn tả nổi; cho nên nói: “Chẳng phải tự lực của cửu giới
có thể tin hiểu nổi”. Hành nhân nếu có thể
đối với pháp thậm thâm vô thượng vi diệu
này sanh một chút tin hiểu, kẻ ấy đă là thượng
căn, nên nói là “chuyên tiếp
thượng căn”.
Đồng thời, Như Lai từ nơi Chân Thật Huệ
khai diễn pháp môn này là do muốn ban cho chúng sanh cái lợi
chân thật, nên pháp môn này thật sự là phương tiện
rốt ráo, độ cả ba căn, trọn làm cho hết
thảy phàm ngu ác trược chúng sanh trong hiện tại,
tương lai đều lên được bờ kia. V́ vậy,
pháp thậm thâm này cũng “kiêm
tiếp độ trung căn, hạ căn”.
Nói “chuyên tiếp độ
phàm phu” là nhằm hiển thị ḷng đại từ
đại bi của Như Lai. Thế Tôn nghĩ
thương chúng kẻ phàm ngu đời mạt chướng
sâu, khổ nhiều, bèn phát đại nguyện sâu rộng
vô thượng. V́ vậy, gọi là “nguyện
vương”. Cốt lơi của đại nguyện chính là
nguyện thứ mười tám. Kinh chép:
“Thập
phương chúng sanh văn ngă danh hiệu, chí tâm tín nhạo,
sở hữu thiện căn, tâm tâm hồi hướng,
nguyện sanh ngă quốc, năi chí thập niệm, nhược
bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác, duy trừ
Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp” (Thập phương chúng sanh nghe danh hiệu
ta, chí tâm tin ưa, tất cả thiện căn, tâm tâm hồi
hướng, nguyện sanh cơi ta, thậm chí mười niệm,
mà nếu chẳng sanh, chẳng lấy Chánh Giác. Chỉ trừ
kẻ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp).
Do phàm phu ở trong sanh tử tâm mê man rong ruổi theo cảnh,
trầm luân biển khổ, thoạt vào, thoạt ra, nếu
không có đại nguyện “mười niệm ắt
được sanh” này, họ c̣n biết do đâu mà thoát khỏi
luân hồi? V́ vậy, do chúng sanh lắm chướng, đức
Phật ban riêng phương tiện, khai pháp dễ hành này;
thậm chí đến lúc kinh diệt, đặc biệt
lưu lại kinh này để làm thuyền bè. Do đó, bảo
là “chuyên v́ phàm phu”.
Hơn nữa, kinh Tỳ Lô Giá Na trong Mật điển
chép: “Đại bi vi căn, Bồ
Đề vi nhân, phương tiện vi cứu cánh” (Đại
bi làm căn, Bồ Đề làm nhân, phương tiện làm cứu
cánh). Câu này chỉ rơ: Pháp phải có phương tiện
độ sanh rốt ráo th́ mới là Quả Giác rốt ráo
của Như Lai.
V́ vậy, phương tiện rốt ráo “mười
niệm ắt văng sanh” quả thật đă được
thành tựu rốt ráo bởi phương tiện xứ tối
cực của đức Di Đà, chính là ư “đối với Định Huệ, Như Lai
đă thấu suốt đến cùng cực” trong kinh
này.
Người đời nay sao nỡ v́ pháp này dễ hành
mà khinh rẻ! Ví như máy TV màu, máy cassette, máy tính điện
tử đều phải an toàn dễ dùng. Dẫu kẻ
không biết một tí ǵ về khoa học kỹ thuật,
hễ nhấn nút một cái liền có thể hưởng
thụ thành quả khoa học hiện đại nhất.
Do an toàn dễ dùng, người đời liền khen là kỹ
thuật tiên tiến. Cùng một lư đó, sao nỡ v́ Tŕ
Danh dễ thực hành bèn coi rẻ pháp môn này!
Hăy nên hiểu rơ điểm chú trọng của hai thuyết
trên đây: Thuyết thứ hai khen ngợi pháp môn Tịnh Độ
độ khắp các căn, nhưng đặt nặng việc
tế độ phàm phu. Thuyết thứ ba nêu ra sự thâm
diệu của pháp môn Tŕ Danh: Chỉ có bậc thượng
căn mới có thể triệt để gánh vác nổi.
Hăy nên hiểu thấu suốt như thế, đừng chấp
chặt văn tự.
Pháp môn này đă khéo phù hợp ba căn như sách Yếu
Giải viết: “Thượng
thượng căn chẳng vượt ải này, hạ hạ
căn cũng có thể đạt đến”, gồm
thâu thánh, phàm, lợi căn hay độn căn đều
thích ứng.
Sách Di Đà Sớ Sao cho rằng pháp môn này “nhiếp trọn các căn, lợi, độn, đều
độ thoát cả”. Lại bảo: “Các pháp môn khác: Cao th́ hạ căn tuyệt phận,
thấp th́ chẳng tương hợp thượng căn.
V́ thế, trong hội Hoa Nghiêm
như đui, ánh lửa đóm rối rắm thêm. Chỉ
có một pháp này thâu cả thượng lẫn hạ, có thể
gọi là thuốc A Già Đà trị vạn bệnh, ḷ đúc
thành ngàn vật”.
Lại viết: “Chỉ niệm
tên Phật ắt sanh về cơi ấy th́ dù cao hay thấp,
dù thánh hay phàm, cho đến hoặc tin, hoặc ngờ, hoặc
khen, hoặc chê, hễ biết có đức Phật ấy
liền thành thiện căn. Nhiều kiếp nhiều
đời đều được giải thoát”.
C̣n như trong hiện tại, nếu hỏi ai là kẻ
đương cơ th́ đáp rằng chẳng luận
nam, nữ, già, trẻ, phú quư, bần tiện, thượng
trí, hạ ngu, tu lâu, mới tu, túc căn lợi, độn,
thiện, ác sai biệt, chỉ cốt sao đối với
pháp môn này sanh ḷng tin thật sự, do tin phát nguyện, từ
nguyện khởi hạnh, phát tâm Bồ Đề, nhất
hướng chuyên niệm, những người như vậy
đúng là đương cơ.
[1] Tư lương: Theo nghĩa gốc,
khi chuẩn bị đi xa đến một nơi nào
đó, thức ăn phải mang theo gọi
là Lương, tiền bạc hoặc vật dụng cần
thiết được gọi là Tư. Do vậy, Phật
môn mượn chữ Tư Lương để chỉ
những điều kiện cần thiết để
đạt được một quả vị nào đó.
[2] Kim Cang Tát Đỏa (Vajrasattva), dịch
nghĩa là Kim Cang Dũng Mănh Tâm, c̣n được biết
tới dưới danh hiệu Kim Cang Thủ, Kim Cang Thủ
Bí Mật Chủ, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ, Tŕ Kim
Cang Cụ Huệ Giả, Kim Cang Thượng Thủ, Đại
Lạc Kim Cang, Nhất Thiết Như Lai Phổ Hiền,
Phổ Hiền Tát Đỏa, Kim Cang Thắng Tát Đỏa,
Kim Cang Tạng. Ngài chính là thân bí mật của Phổ Hiền
Bồ Tát, là đương cơ thượng thủ trong
các pháp hội của Mật Điển, được
coi là Sơ Tổ của Mật Tông hoặc Nhị Tổ
(nếu coi Tỳ Lô Giá Na Phật là Sơ Tổ). Do đại
sĩ Long Thọ được ngài Kim Cang Tát Đỏa
truyền thọ Mật pháp nên ngài Long Thọ được
coi là Tam Tổ của Mật Giáo (trong toàn thể pháp giới),
hoặc được coi là Sơ Tổ của Mật
Giáo trong thế giới Sa Bà.
[3] Phát minh tâm yếu: Chỉ bày cho hành nhân
chứng ngộ tâm yếu (những điều trọng yếu
để giải ngộ bản tâm).
[4] Quả Giác nhân
tâm: Dùng Quả Giác của Phật để làm cái tâm
tu nhân.