14. Bảo Thụ Biến Quốc (寶
樹 徧
國: Cây báu khắp cơi nước)
Phẩm này lại tường thuật về y báo
trang nghiêm của cơi Cực Lạc: Cây bằng bảy báu
thành hàng khắp cả cơi nước. Các cây báu đó hoặc
chỉ do một thứ báu tạo thành, hoặc do nhiều
thứ báu hợp thành. Cây nào cũng chỉnh tề trang
nghiêm, quang sắc đẹp đẽ lạ lùng, gió lay liền
tấu nhạc, âm điệu ḥa nhă. Đấy chính là nguyện
thứ mười bảy “cây
vô lượng sắc” được thành tựu.
Chánh kinh:
彼 如 來 國,多 諸 寶 樹。或 純 金 樹、純 白 銀 樹、琉 璃 樹、水 晶 樹、琥 珀 樹、美 玉 樹、瑪 瑙 樹,唯 一 寶 成,不 雜 餘 寶。或 有 二 寶 三 寶,乃 至 七 寶,轉 共 合 成。根 莖 枝 幹,此 寶 所 成,華 葉 果 實,他 寶 化 作。或 有 寶 樹,黃 金 為 根,白 銀 為 身,琉 璃 為 枝,水 晶 為 梢,琥 珀 為 葉,美 玉 為 華,瑪 瑙 為 果。其 餘 諸 樹,復 有 七 寶,互 為 根 幹 枝 葉 華 果,種 種 共 成。
Bỉ
Như Lai quốc đa chư bảo thụ:
Hoặc thuần kim thụ, thuần bạch ngân thụ,
lưu ly thụ, thủy tinh thụ, hổ phách thụ, mỹ
ngọc thụ, mă năo thụ. Duy nhất bảo
thành, bất tạp dư bảo. Hoặc hữu nhị bảo, tam bảo,
năi chí thất bảo, chuyển cộng hợp thành. Căn, hành, chi, cán, thử bảo sở
thành, hoa, diệp, quả, thực, tha bảo hóa tác. Hoặc
hữu bảo thụ, hoàng kim vi căn, bạch
ngân vi thân, lưu ly vi chi, thủy tinh vi sao, hổ phách vi diệp,
mỹ ngọc vi hoa, mă năo vi quả. Kỳ dư
chư thụ, phục hữu thất bảo, hỗ vi
căn, cán, chi, diệp, hoa, quả , chủng
chủng cộng thành.
Cơi đức
Như Lai ấy có nhiều cây báu, hoặc cây thuần bằng
vàng, cây thuần bằng bạc, cây lưu ly, cây thủy
tinh, cây hổ phách, cây mỹ ngọc, cây mă năo, cây lưu ly,
chỉ do một thứ báu tạo thành, chẳng lẫn các
thứ báu khác. Hoặc có cây bằng hai báu, ba báu, cho đến
bảy báu lần lượt hợp thành. Rễ, thân, cành,
nhánh do các thứ báu này hợp thành. Hoa, lá, quả, hạt
do các thứ báu khác hóa thành. Hoặc có cây báu vàng ṛng làm rễ,
bạch ngân làm thân, lưu ly làm cành, thủy tinh làm ngọn,
hổ phách làm lá, mỹ ngọc làm hoa, mă năo làm quả. Các
cây báu khác cũng bằng các thứ bảy báu lần lượt
hợp thành rễ, cành, lá, hoa, quả.
Giải:
Chữ “thủy tinh” (水 晶)
giống như “thủy tinh” (水 精),
tiếng
Phạn là Pha Lê (sphatika), hoặc c̣n
phiên là Pha Ly, thường được dịch là Thủy
Tinh. Pha Lê có bốn màu tía, hồng, trắng, biếc.
“Lưu ly” (Virudya) là tiếng
Phạn, Hán dịch là “thanh sắc
bảo”. Loại bảo thạch này màu xanh dương,
các thứ báu khác chẳng thể phá vỡ nó nổi.
Lưu ly cứng chắc, màu sắc rạng rỡ, hiếm
có trong đời nên được coi là quư báu.
Hổ phách, mă năo cũng đều là các thứ quư báu
trong thế gian.
Nói chung, bảy báu kể trên đều là miễn
cưỡng tạm dùng tên các chất báu trong thế gian này
để so sánh, chứ thật ra hết thảy vạn vật
trong cơi Cực Lạc đều lạ lùng kỳ diệu,
đẹp đẽ vượt xa mười
phương, đâu có thật sự giống như những
vật báu phàm tục trong cơi đời ô trược này!
Theo Văng Sanh Luận, những cây báu đó hiển thị
các sự công đức trang nghiêm thành tựu trong cơi ấy.
Luận ghi: “Mượn tánh chất
các thứ trân bảo để trang nghiêm khéo léo viên măn”.
Hiểu nông cạn th́ câu “mượn
tánh chất các thứ trân bảo” diễn tả cây cối
do diệu bảo tạo thành. Hiểu sâu sắc hơn, câu
ấy diễn tả tánh đức của Phật Di Đà.
Tánh đức của Phật Di Đà vốn sẵn hết thảy
diệu bảo, trong mỗi thứ trân bảo đều
đầy đủ diệu đức của hết thảy
trân bảo. Hiểu một cách nông cạn th́ “trang nghiêm khéo léo viên măn” chính là
những điều như “vinh
sắc quang diệu” (màu sắc
rạng rỡ, ánh sáng chói ngời) và “xuất ngũ âm thanh”
(phát ra tiếng ngũ âm) sẽ được nói tới
trong đoạn kế. Hiểu sâu hơn, câu ấy có
nghĩa là mỗi một cây báu đều viên minh cụ đức.
Chánh kinh:
各 自 異 行,行 行 相 值,莖 莖 相 望,枝 葉 相 向,華 實 相 當,榮 色 光 曜,不 可 勝 視。
Các tự dị hàng, hàng hàng
tương trị, hành hành tương vọng, chi diệp
tương hướng, hoa thực
tương đương, vinh sắc quang diệu, bất
khả thắng thị.
Đều mọc
thành hàng khác biệt, hàng hàng thẳng lối, thân cây ngang
nhau, cành lá hướng vào nhau, hoa quả tương
đương, màu sắc rạng rỡ, ánh sáng chói ngời,
chẳng thể thấy trọn.
Giải:
Đoạn này diễn tả đặc tính của các báu:
Cây mọc thành hàng theo trật
tự, quang sắc sáng ngời, đẹp đẽ. Đấy
chính là môn “trang nghiêm thành tựu
mặt đất” trong Văng Sanh Luận. Kệ ghi: “Tạp thọ dị quang sắc”
(Các cây có màu sắc, ánh
sáng khác nhau). Trong cơi Cực
Lạc, mặt đất bằng phẳng như ḷng bàn
tay, cây báu nhiều màu mọc khắp cơi nước, bên trên
phủ lưới báu, phía dưới dựng lan can báu. Những
điều như vậy đều là để trang nghiêm
mặt đất.
“Các tự
dị hàng” (Đều mọc
thành hàng khác biệt) nghĩa
là các thứ cây báu khác loại th́ loại nào mọc theo thứ
ấy thành từng hàng riêng biệt. Phần Định
Thiện Nghĩa trong Quán Kinh Sớ đă giảng chữ “hành hàng tương trị” (hàng
hàng thẳng lối) như
sau: “Cơi ấy cây cối tuy nhiều
nhưng mọc thành hàng tề chỉnh, ngay ngắn chẳng
tạp loạn”. Về chữ “thực” (hạt) sách
Hội Sớ giảng: “Thực
(實) nghĩa là hạt của quả, quả và hạt
chẳng trổ sai chỗ nên bảo là tương
đương”. “Vinh sắc” (榮 色) nghĩa là h́nh sắc
xum xuê, tươi tốt. “Quang diệu” (光 曜) nghĩa là quang minh chiếu rực. “Bất khả thắng thị” (不 可 勝 視) nghĩa là mắt chẳng thể trông thấy hết
được, cũng có nghĩa là năm sắc choáng lộn đến nỗi
mắt chẳng thể phân biệt hết được.
Phần Định Thiện Nghĩa trong Quán Kinh Sớ
cũng ghi: “Các rừng cây báu
đều từ tâm vô lậu của đức Di Đà biến
hiện ra. Do tâm Phật là vô lậu nên những cây ấy
cũng vô lậu. Thậm chí chẳng có già, chết,
cũng chẳng có cây non, cũng chẳng có cây mới
đâm chồi rồi lớn
dần dần. Hễ mọc lên th́ đồng thời mọc
ngay, kích thước, số lượng giống hệt
nhau. V́ sao vậy? Cơi ấy là cơi vô sanh vô lậu th́ há lại
có sanh, tử, tăng trưởng dần dần hay sao?”
Căn cứ theo đó th́ cây báu trong cơi ấy đều
từ tâm vô lậu của Phật Di Đà biến hiện nên
chẳng có già, chết, cũng chẳng biến đổi.
Do vậy, chẳng có cây mới mọc cùng tướng trạng
tăng trưởng dần dần. Cơi ấy là cơi vô sanh
nên rừng cây cũng trụ trong vô sanh tức là Vô Lượng
Thọ. Hữu t́nh lẫn vô t́nh đều b́nh đẳng
nhất vị, đều chẳng thể nghĩ bàn. Do chẳng
thể nghĩ bàn nên cây sẽ tự nhiên vang ra tiếng kỳ
diệu tự nhiên ḥa tiếng nhau như đoạn kinh
dưới đây sẽ kể.
Chánh kinh:
清 風 時 發,出 五 音 聲,微 妙 宮 商,自 然 相 和。是 諸 寶 樹,周 徧 其 國。
Thanh phong
thời phát, xuất ngũ âm thanh, vi diệu
cung thương, tự nhiên tương ḥa. Thị chư bảo
thụ, châu biến kỳ quốc.
Gió mát đúng thời
thổi, cây phát ra tiếng ngũ âm Cung, Thương vi diệu
tự nhiên ḥa tiếng. Các cây báu ấy mọc khắp cả
cơi nước.
Giải:
Sách Hội Sớ nói: “Gió
thanh tịnh vô lậu nên bảo là thanh phong. Đúng thời thổi
qua nên bảo là thời phát”.
“Ngũ âm thanh” tức là
ngũ thanh: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ.
Năm âm thanh ấy bao gồm hết thảy các thanh âm
(Năm thanh ấy chính là cái gốc của nhạc luật
Trung Quốc cổ đại. Sau này thêm vào hai âm Biến
Cung và Biến Chủy thành ra bảy thanh. Đấy chính là bảy
notes trong nhạc lư hiện đại).
Trong câu “vi diệu Cung,
Thương”, kinh dùng hai thanh Cung và Thương để
nói lên hết thảy âm thanh đều vi diệu.
“Tương ḥa” (相 和) nghĩa là âm thanh
tương ứng với nhau. Sách Hội Sớ bảo: “Do nguyện lực thành tựu,
chẳng cần phải gơ hay thổi nên bảo là tự
nhiên ḥa tiếng”. Cây phát ra tiếng nhịp nhàng, hiển
thị một nhánh cỏ, một thân cây trong cơi Cực Lạc
cũng đều là viên minh cụ đức.