5. Chí tâm tinh tấn ( )

Phẩm này tiếp ư phẩm trước. Pháp Tạng Bồ Tát phát đại nguyện rằng: Tôi đă phát tâm Vô Thượng Chánh Giác, lúc tôi thành Phật, quốc độ, Phật hiệu đều nổi tiếng mười phương, hết thảy hữu t́nh cho đến cả các loài trùng bọ hễ sanh vào nước tôi đều thành Bồ Tát, chẳng có thừa nào khác [ngoài Bồ Tát Thừa] và nguyện rằng do Nhất Thừa nguyện hải vừa được phát khởi ấy cơi nước của tôi sẽ siêu việt vô số cơi Phật. Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai đáp ứng lời thỉnh, hiện cho Pháp Tạng thấy hai trăm mười ức cơi Phật. Pháp Tạng liền tu tập siêng gắng trong năm kiếp, kết thành nguyện thù thắng, nhiếp thọ cơi nước vượt trội xa cả hai trăm mười ức Phật sát ấy. Do vậy, phẩm này mang tên Chí Tâm Tinh Tấn.

“Chí tâm” là các thứ tâm hạnh chí thành vô thượng như trong kinh dạy. Hiểu sâu hơn, Pháp Tạng sau khi đích thân được thấy vô biên cơi Phật “tiện nhất kỳ tâm, tuyển trạch sở dục”(liền nhất tâm chọn lựa lấy những điểm ḿnh ưa thích). “Nhất tâm” tức là “chí tâm” vậy. “Tinh tấn”“tinh cần cầu sách, cung thận bảo tŕ, tu tập công đức, măn túc ngũ kiếp” (siêng năng, gắng gỏi, cung kính, thận trọng ǵn giữ, tu tập công đức trọn cả năm kiếp), “thành tựu trang nghiêm Phật độ thanh tịnh chi hạnh” (thành tựu hạnh trang nghiêm cơi Phật thanh tịnh).

Chánh kinh:

已,而 言:我 道,已 心,取 佛,悉 佛。願 法,我 持,如 行,拔 本,速 無上 覺。欲 時,智 明,所 土,教 字,皆 方。諸 類,來 國,悉 菩薩。我 願,都 者,寧 否?

Pháp Tạng tỳ-kheo thuyết thử kệ dĩ, nhi bạch Phật ngôn:

- Ngă kim vi Bồ Tát đạo, dĩ phát vô thượng chánh giác chi tâm, thủ nguyện tác Phật, tất linh như Phật. Nguyện Phật vị ngă quảng tuyên kinh pháp, ngă đương phụng tŕ, như pháp tu hành, bạt chư cần khổ sanh tử căn bản, tốc thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, dục linh ngă tác Phật thời, trí huệ quang minh, sở cư quốc độ, giáo thọ danh tự, giai văn thập phương, chư thiên nhân dân cập quyên nhuyễn loại, lai sanh ngă quốc, tất tác Bồ Tát. Ngă lập thị nguyện, đô thắng vô số chư Phật quốc giả, ninh khả đắc phủ?

Tỳ-kheo Pháp Tạng nói bài kệ ấy xong liền bạch Phật rằng:

- Con nay hành Bồ Tát đạo đă phát tâm Vô Thượng Chánh Giác, phát nguyện thành Phật ngơ hầu được như đức Phật. Nguyện Phật v́ con rộng tuyên kinh pháp, con sẽ phụng tŕ, tu hành đúng như pháp, nhổ các cội rễ sanh tử nhọc nhằn, chóng thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Con muốn khi ḿnh được thành Phật, trí huệ, quang minh, quốc độ ḿnh ở, giáo thọ, danh hiệu đều nổi tiếng mười phương. Chư thiên, nhân dân và các loài bay, ḅ.... hễ sanh về nước con đều là Bồ Tát. Nguyện con lập đây: [“Cơi nước của con] thù thắng hơn vô số nước của chư Phật” có thể đạt được hay chăng?

Giải:

Đoạn kinh văn này tiếp ư đoạn trước, nối kết đoạn sau. Trong phẩm trước, Pháp Tạng dùng kệ tỏ bày thệ nguyện; trong đoạn kinh này, Ngài dùng lối văn trường hàng để bạch Phật: “Dĩ phát vô thượng chánh giác chi tâm” ă phát tâm Vô Thượng Chánh Giác). Đấy là v́: Điều quan trọng để nhập đạo là trước hết phải phát tâm; việc cần gấp trước hết trong tu hành là phải lập nguyện. V́ vậy, Pháp Tạng Bồ Tát sau khi phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, mong kết đại nguyện vượt trỗi hơn vô số cơi Phật, nên Ngài thỉnh đức Thế Tôn v́ ḿnh diễn giảng kinh pháp.

Đại ư của đoạn kinh này là: Con nay lúc hành Bồ Tát đạo, đă phát tâm Vô Thượng Bồ Đề. Nguyện lúc thành Phật, hết thảy đều được như Phật. V́ vậy, xin đức Thế Tôn v́ con rộng nói kinh pháp, con sẽ tin tưởng, phụng tŕ, tu hành đúng như pháp, nguyện vĩnh viễn ĺa khỏi hết thảy gốc sanh tử nhọc nhằn. Ấy là v́ sanh tử rất khổ, nó lại chẳng cạn kiệt, nên bảo là “cần khổ” (nhọc nhằn). Muốn trừ khổ quả sanh tử phải nhổ rễ của nó. Rễ của nó chính là các Hoặc: Kiến, Tư, Trần Sa, Vô Minh... Do đoạn sạch các Hoặc nên bảo là bạt chư cần khổ sanh tử căn bản” (nhổ các cội rễ sanh tử nhọc nhằn).

Lại nguyện chóng thành Chánh Giác. Nghĩa của chữ “tốc” (mau chóng) trong đoạn kinh này giống như chữ “tốc” trong câu “tốc sanh ngă sát thọ an lạc” (chóng sanh về cơi tôi hưởng an vui) của phẩm trước. Hai chữ “tốc” này cùng nói về nhất tâm. Pháp Tạng Bồ Tát tâm độ sanh khẩn thiết nên nguyện: Luân hồi chư thú chúng sanh loại, tốc sanh ngă sát thọ an lạc” (Các loài chúng sanh luân hồi trong các đường mau sanh về cơi tôi hưởng an vui).

Câu chư thiên nhân dân cập quyên nhuyễn loại, lai sanh ngă quốc tất tác Bồ Tát” (chư thiên, nhân dân và các loài trùng bay, ḅ... sanh về cơi tôi đều là Bồ Tát) ư nói: Các loài quần sanh sanh về nước tôi chẳng có Nhị Thừa, chỉ là Bồ Tát, đều thuộc địa vị Bổ Xứ. V́ vậy, đại nguyện của ngài Pháp Tạng thật là Nhất Thừa nguyện hải.

“Tất thành Phật quả” (Đều thành Phật quả) là Nhất Thừa, chẳng có hai hay ba thừa. V́ vậy, ba bậc văng sanh đều cần phải phát Bồ Đề tâm. Rơ ràng, muốn mau thành Phật chỉ để chóng được độ sanh. V́ muốn độ sanh mau chóng nên lúc thành Phật cần phải đạt được “trí huệ, quang minh, sở cư quốc độ, giáo thọ danh tự, giai văn thập phương” (trí huệ, quang minh, quốc độ ḿnh ở, dạy dỗ, danh hiệu đều nổi tiếng cả mười phương). Đây chính là căn bản của nguyện thứ mười bảy “chư Phật khen ngợi”, nguyện thứ mười tám “mười niệm ắt văng sanh”, nguyện thứ mười chín “nghe tên phát tâm” trong bốn mươi tám đại nguyện vậy. Muốn khiến cho mười phương chúng sanh nghe danh hiệu Phật liền phát được tâm Bồ Đề, một dạ chuyên niệm, thậm chí chỉ mười niệm cũng đều được văng sanh. Như vậy, chúng sanh đắc độ trước hết là do nghe danh. Do vậy, Pháp Tạng Bồ Tát nguyện lúc thành Phật th́ quang minh, trí huệ của Phật, cơi nước thù diệu, siêu thắng, công đức, danh hiệu của Đạo Sư (tức giáo chủ Di Đà) vang dội mười phương. Do vậy, chúng sanh nghe danh, phát tâm liền được sanh Cực Lạc, quyết định thành Phật.

Câu cuối trong đoạn kinh văn này là lời thỉnh Phật chứng minh: “Ngă lập thị nguyện, đô thắng vô số chư Phật quốc giả, ninh khả đắc phủ?” (Nguyện con lập đây: [Cơi nước] thù thắng hơn vô số nước của chư Phật có thể đạt được chăng). Nguyện “cơi Phật đă thành sẽ thù thắng hơn các cơi Phật khác” đó chẳng biết có thể thành tựu được chăng, xin Phật dạy cho.

Ngoài ra, trong đoạn kinh trên, chữ “vi” () trong câu “vi Bồ Tát đạo” là thực hành. “Vô Thượng Chánh Giác” là cách nói gọn chữ “Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”, tiếng Phạn là “A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề”. “Kinh pháp” là lời do kim khẩu đức Phật nói ra, là thường pháp (pháp thường hằng) cho muôn đời nên gọi là kinh pháp. “Phụng tŕ” chính là chữ “phụng hành” thường dùng, có nghĩa là “kính vâng nhận lấy”“hành tŕ”. Do vậy, cuối các kinh thường ghi là “tín thọ phụng hành” (tin nhận, phụng hành) ư nói kính nhận lấy, tuân hành, cung kính ǵn giữ.

“Giáo thọ”: Dạy truyền thánh ngôn gọi là “giáo” (), giảng giải nghĩa lư là “thọ” () tức là dạy dỗ và truyền thọ nghĩa lư kinh pháp. Các thiện tri thức như vậy được gọi là “giáo thọ thiện tri thức”. Trong đoạn kinh trên đây, “giáo thọ” là cách nói giản lược về công hạnh của bậc đạo sư.  

Chánh kinh:

佛,即 言:譬 量,經 底。人 道,精 止,會 果,何 得。汝 惟,修 便,而 嚴。 行,汝 知。 國,汝 攝。

Thế Gian Tự Tại Vương Phật, tức vị Pháp Tạng nhi thuyết kinh ngôn: - Thí như đại hải nhất nhân đẩu lượng, kinh lịch kiếp số thượng khả cùng để. Nhân hữu chí tâm cầu đạo, tinh tấn bất chỉ, hội đương khắc quả, hà nguyện bất đắc. Nhữ tự tư duy, tu hà phương tiện, nhi năng thành tựu Phật sát trang nghiêm. Như sở tu hành, nhữ tự đương tri, thanh tịnh Phật quốc, nhữ ưng tự nhiếp.

Thế Gian Tự Tại Vương Phật liền v́ Pháp Tạng mà nói kinh rằng: “Ví như có kẻ dùng đấu đong biển cả, trải qua bao kiếp số c̣n có thể đến tận đáy; người chí tâm cầu đạo tinh tấn chẳng ngơi ắt đều thành công, nguyện ǵ chẳng đạt được. Ông tự suy nghĩ tu phương tiện nào để thành tựu được cơi Phật trang nghiêm. Việc tu hành như thế ông nên tự biết, đối với việc thanh tịnh cơi Phật ông nên tự nhiếp”.

Giải:

Đại ư của đoạn kinh này là Phật bảo Pháp Tạng rằng: Giả sử có một người dùng đấu để đong nước trong biển cả, dẫu trải qua thời kiếp lâu xa vẫn có thể thấy được tột cùng đáy biển; người dùng tâm chí thành cầu đạo, tinh tấn chẳng ngơi ắt sẽ đắc quả. Chữ “hội” () được ngài Nghĩa Tịch giảng như sau: “Giai dă” (Hội nghĩa là đều), ngài Cảnh Hưng giảng là “diệc tất dă” (Hội có nghĩa là “ắt cũng”). Chữ Khắc () giống chữ Khắc (), có nghĩa là đạt được, ắt hẳn, toại nguyện. Hơn nữa, có nguyện nào mà chẳng thể cầu đạt được

Trong cuốn Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận, cư sĩ Bành Thiệu Thăng giảng: “Như ngài Pháp Tạng nói: ‘Con phát tâm Vô Thượng Chánh Giác’ th́ nên biết rằng hết thảy các nguyện vương xuất sanh từ Vô Thượng Chánh Giác, hết thảy Tịnh Độ do đây được kiến lập. Vừa mới phát tâm, ngay lúc ấy Cực Lạc đă trang nghiêm trọn vẹn. V́ vậy, kinh nói: ‘Chí tâm cầu đạo, tinh tấn bất chỉ, hội đương khắc quả’ (Chí tâm cầu đạo, tinh tấn chẳng ngơi, ắt đều thành công, nguyện ǵ chẳng được). V́ sao thế? V́ hết thảy pháp chẳng ngoài tự tâm vậy”. Thuyết của ông Bành tỏ rơ bổn ư của đức Thế Tôn trong lời đáp. Ấy là v́ phát khởi tâm chí thành nên tâm ấy ắt hàm chứa thánh quả. V́ nhân đă cùng tột quả hải nên hoa và quả đồng thời, chỉ cần tinh tấn th́ nguyện ǵ chẳng thành; hết thảy nhân quả chẳng ĺa tự tâm, chẳng có pháp nào ở ngoài tự tâm cả.

Trong đoạn tiếp theo, dùng liên tiếp ba chữ “tự”: “Nhữ tự tư duy” (Ông tự suy nghĩ), rồi: “Nhữ tự đương tri” (Ông tự nên biết), và “nhữ ưng tự nhiếp” (ông nên tự nhiếp) là đức Thế Tôn chẳng đáp trực tiếp, lại phải dùng đến ba chữ “tự”; thật là tấm ḷng tha thiết, tâm ư sâu xa. Trong sách Hội Sớ, ngài Tuấn Đế người Nhật đă giải thích như sau: “Câu ‘nhữ tự đương tri’ có ư giống như ba lượt ngăn không cho nói trong kinh Pháp Hoa: Nghĩa lư đó sâu xa quá, chẳng thể nói một cách dễ dàng được”.

Thuyết này rất hay, câu kinh: “Chỉ chỉ, bất tu thuyết” (Thôi thôi, chớ nên nói) của kinh Pháp Hoa có cùng ư nghĩa với câu kinh này. Lục Tổ bảo: “Mật tại nhữ biên” (Điều ẩn mật ở ngay nơi ngươi), bậc cổ Thiền đức nói: “Nhữ tự hội thủ hảo, ngă bất như nhữ” (Ông tự hiểu nhận lấy cái hay, tôi chẳng giống ông) cũng chính là ư nghĩa của ba chữ “tự” trong đoạn kinh ở đây. Ngài Tuấn Đế giảng tiếp rằng:

“Câu này có ba nghĩa:

1. Từ xưa, Pháp Tạng Bồ Tát đă gieo trồng [thiện căn] sâu dày, cao tài, dũng triết siêu dị hơn đời; đối với việc nghiêm tịnh Phật quốc, Ngài đă rơ thấu từ lâu. Do trí Phật không ǵ không biết nên Ngài dạy: ‘Ông biết như thế nào th́ cứ tự thực hành như thế’ (Điều này lại chứng minh rằng ngài Pháp Tạng là từ quả hướng nhân).

2. Nhiếp thủ Phật quốc đều tùy theo ư thích: Hoặc chọn lấy uế độ, hoặc cầu cơi thanh tịnh, hoặc dung nhiếp tam thừa, hoặc nguyện Nhất Thừa. V́ vậy, tùy ḷng ưa thích của Bồ Tát mà chọn lấy, chẳng cần tuân theo ư chỉ của Như Lai.

3. Phàm là cơi Tịnh Độ, ắt có cơi là báo độ hay hóa độ. Pháp báo[1] cao diệu, Bồ Tát chẳng có phần, chỉ nên thuận theo sức ḿnh mà nhiếp thủ nên bảo: ‘Ông tự nên biết”.

“Chỉ nên thuận theo sức ḿnh” như ngài Tuấn Đế vừa nói chính là điều Tịnh tông dạy: Những việc thuộc về Pháp Thân vượt khỏi khả năng của Bồ Tát, phàm phu chẳng thể lănh hội được nghĩa lư này. Trong đoạn kinh tiếp theo đây, Pháp Tạng Bồ Tát lại thỉnh cầu lần nữa.  

Chánh kinh:

言:斯 深,非 界。惟 知,廣 剎。若 法,思 習,誓 滿 願。

Pháp Tạng bạch ngôn: - Tư nghĩa hoằng thâm, phi ngă cảnh giới. Duy nguyện Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, quảng diễn chư Phật vô lượng diệu sát. Nhược ngă đắc văn như thị đẳng pháp, tư duy tu tập, thệ măn sở nguyện.

Pháp Tạng bạch rằng:

- Nghĩa ấy sâu thẳm chẳng phải là cảnh giới của con, kính xin đấng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri diễn rộng vô lượng cơi nước mầu nhiệm của chư Phật. Nếu con được nghe những pháp như vậy, tư duy, tu tập, thề sẽ viên măn sở nguyện.

Giải:

“Cảnh” () là những điều tâm ḿnh cảm thọ, nghĩ tưởng đến, như Sắc là cái được Nhăn Thức cảm thọ nên gọi là Sắc Cảnh, cho đến Pháp là điều được Ư Thức cảm thọ nên gọi là Pháp Cảnh. Xét về lư Thật Tướng, điều ǵ được diệu trí cảm thọ đều gọi là Cảnh, cũng thuộc về Pháp Cảnh. Giới là khu vực. “Giới” () là khu vực giới hạn. “Cảnh giới” là cảnh, phần hạn, khu vực được quán. Sách Vô Lượng Thọ Kinh Tiên Chú lại bảo: “Khu vực mà sức thế lực của ḿnh ảnh hưởng đến cũng như phần hạn của quả báo ta đạt được đều gọi là cảnh giới”.

“Diễn” () là tuyên thuyết. “Như Lai Ứng Chánh Biến Tri” là ba hiệu trong số mười hiệu từ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri đến Phật. Ở đây chỉ nói tượng trưng về mười hiệu của Phật.

Đại ư của đoạn kinh này là: Pháp Tạng Bồ Tát thưa: “Nghĩa ấy quá sâu, vượt ngoài cảnh giới của con (nếu nói một cách thông thường, ta có thể miễn cưỡng hiểu “cảnh giới” là “tŕnh độ hiểu biết”). V́ vậy, lại thỉnh Phật nói rộng vô lượng cơi Phật, con nghe xong rồi nhất định có thể tu hành đúng pháp, trọn vẹn sở nguyện”.

Sư Tuấn Đế bảo:

Câu ‘tư nghĩa hoằng thâm, phi ngă cảnh giới’ (nghĩa ấy sâu thẳm, chẳng phải là cảnh giới của con) cũng có ba nghĩa:

- Con đă biết cách thức thông thường của việc Bồ Tát trang nghiêm Tịnh Độ rồi, nay muốn đạt được Tịnh Độ tối thắng trong các cơi Phật th́ nghĩa ấy quá sâu thẳm, chẳng phải là cảnh giới của con.

- Quả thật tuy là tùy theo sự ưa thích của mỗi người mà tự chọn lấy Tịnh Độ, nhưng nay con muốn cả năm thừa cùng được thâu tóm vào trong báo độ th́ nghĩa ấy quá sâu thẳm, chẳng phải là cảnh giới của con (Báo Độ là chỗ Pháp Thân Đại Sĩ ở. Nay khiến cho Nhị Thừa và nhân, thiên cùng thuộc vào Báo Độ th́ đấy chẳng phải là điều phàm phu có thể thấu hiểu nổi).

- Tuy pháp báo cao diệu Bồ Tát chẳng có phần, nhưng con có thể trong vô lượng kiếp quyết sẽ đạt được (trải qua vô lượng kiếp ắt sẽ chứng ngộ Pháp Thân và Báo Thân, nhưng lúc này chưa có phần nên bảo là “chẳng phải cảnh giới của con”). Nghĩa ấy hoằng thâm (rộng lớn là Hoằng () , u viễn là Thâm ()) chẳng phải là cảnh giới của con.

Tuy có ba nghĩa khác nhau, nhưng bỏ đi phần ḿnh để chuyên hướng về Phật lực. Đấy chính là Pháp Tạng Bồ Tát tự mở ra tha lực môn vậy”.

Thuyết “mở ra tha lực môn” của ngài Tuấn Đế thật đă chỉ rơ sự thật mầu nhiệm siêu t́nh ly kiến chẳng thể nghĩ bàn, phương tiện rốt ráo Quả Giác nhân tâm của Tịnh tông. Thuyết của sư Tuấn Đế có thể hiểu thô thiển như sau:

Pháp Tạng Bồ Tát nói “phi ngă cảnh giới” (chẳng phải cảnh giới của con) có ba ư nghĩa:

- Một, con tuy đă biết đường lối chung để tạo dựng Tịnh Độ của các Bồ Tát, nhưng nay con muốn tạo dựng cơi Tịnh Độ tối thắng vượt hơn hẳn các cơi Phật th́ đó “chẳng phải là cảnh giới của con”.

- Hai, Tịnh Độ được chọn để giữ lấy đó, trên thực tế tuy là tùy theo ư thích của mỗi cá nhân, nhưng nay con muốn gom trọn hành nhân cả năm thừa đều được sanh vào cơi nước của Báo Thân Phật th́ trong mười phương chẳng có cơi nào được như vậy, nên đó “chẳng phải là cảnh giới của con”. Năm thừa là Nhân Thiên Thừa, Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa, Bồ Tát Thừa, Phật Thừa (Như Lai thừa). Nay muốn khiến cho hành nhân cả năm thừa cùng vào được cơi của Báo Thân Phật thật là khác hẳn thường t́nh. Nhân Thiên Thừa là phàm phu. Thanh Văn, Duyên Giác là Tiểu Thừa. Nay muốn khiến cho hành nhân phàm phu được giống hệt như Đại Thừa và đại Bồ Tát của Nhất Phật Thừa, cùng chứng cơi Thật Báo Tịnh Độ, th́ nghĩa ấy rất sâu nên nói rằng: “Phi ngă cảnh giới” (Chẳng phải là cảnh giới của con).

- Ba, cảnh giới cao diệu của Pháp Thân và Thường Tịch Quang Tịnh Độ, Báo Thân và Thật Báo Trang Nghiêm độ chẳng phải là hạnh thông thường của hết thảy Bồ Tát, nhưng con có thể trong vô lượng kiếp chuyên tinh tu tập sẽ có thể chứng đắc. Chỉ v́ hiện giờ con chưa đủ sức nên bảo là “chẳng phải cảnh giới của con”.

Lời đáp này của Pháp Tạng Bồ Tát tuy có ba nghĩa khác nhau, nhưng đều là “phao khước kỷ phận, chuyên quy Phật lực” (bỏ đi sức ḿnh, chuyên cậy Phật lực). Bốn chữ “phi ngă cảnh giới” (chẳng phải là cảnh giới của con) chính là bỏ đi sức ḿnh, thỉnh Phật khai thị chính là chuyên cậy Phật lực.

Trong đoạn kinh văn trên đây, Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai đáp: “Nhữ tự tư duy” (Ông tự tư duy), “nhữ tự đương tri” (ông tự nên biết) và “nhữ ưng tự nhiếp” (ông nên tự nhiếp), ba chữ “tự” đều chỉ tự tánh của đương nhân, khai hiển diệu tâm, chính là huyền chỉ “tâm này là Phật” của kinh Quán Vô Lượng Thọ. Muốn cho hết thảy chúng sanh hiểu được điểm căn bản này, nhận thức được linh tánh của ḿnh mới có thể sanh khởi vô lượng vô biên diệu hạnh tự giác giác tha, nên Pháp Tạng Bồ Tát lại thỉnh lần nữa: “Phi ngă cảnh giới” (Chẳng phải là cảnh giới của con) xin Phật rộng diễn nói để tỏ vẻ kính mộ chư thánh vậy.

Sư Tuấn Đế nói: “Đấy chính là Pháp Tạng tự mở ra Tha Lực Môn vậy”. Một lời này mở toang điều huyền vi của Tịnh tông, thế gian thường gọi Tịnh tông là Tha Lực Môn. Sở dĩ Tịnh tông có thể thích ứng khắp ba căn, một đời thành Phật, phàm phu, Nhị Thừa cùng chứng bất thoái đều là nhờ vào Nhất Thừa nguyện hải của Phật Di Đà, oai lực của sáu chữ hồng danh. Đó chính là “cậy vào tha lực”. Sở dĩ Tịnh tông là phương tiện rốt ráo là v́ đă lấy Vô Thượng Quả Giác của Phật Di Đà làm sơ tâm cho chúng sanh tu nhân. Nhân đă tột cùng biển quả, quả lại thấu triệt nguồn nhân; nhân quả đồng thời, cảm ứng khó nghĩ bàn. Đấy chính là diệu dụng của Tha Lực Môn.

Hơn nữa, ngoại thánh th́ dễ tin, cái linh tri trong tâm ḿnh th́ khó rơ. Do vậy, phàm phu đầy rẫy phiền năo chỉ có thể tin rằng: “Hữu thế giới danh viết Cực Lạc, kỳ độ hữu Phật hiệu A Di Đà” (Có một thế giới tên là Cực Lạc, cơi ấy có Phật hiệu A Di Đà). Tin sâu xa vào hai chữ “Có” ấy mà khẩn thiết nguyện được văng sanh, một dạ tŕ danh th́ được như nguyện, mau đạt Bất Thoái. Đấy là điều phàm phu có thể thực hiện được. Nếu chỉ nói thấu hiểu tự tâm đến cùng tột, ắt chỉ có bậc thượng trí mới có thể kham nổi!

Trong lúc tu nhân, Pháp Tạng Bồ Tát bi nguyện sâu thẳm, khai hiển pháp môn tha lực này, nên Phật Di Đà được cơi đời xưng tụng là Đại Nguyện Vương.

Ngoài ra, Mật tông cũng là Tha Lực Môn, cũng thuộc về Quả Giáo, cũng là từ quả khởi tu.

Tha Lực Môn thù thắng khó thể suy nghĩ nổi này chính là điểm cùng tột của Di Đà bi nguyện, cũng chính là chỗ phương tiện rốt ráo của cả hai tông Tịnh và Mật. Đó là do Tự, Tha vốn bất nhị, chỉ chịu cậy vào tha lực th́ mới có thể sanh nổi ḷng tin trong sạch nơi pháp khó tin này. Khó tin mà tin nổi, toàn là do trí huệ vô thượng của đương nhân; đấy lại chính là tự lực. Chỉ cần tin nhận, thật thà niệm Phật th́ tự nhiên Năng, Sở đều mất, tự tâm hiện rơ, từ Sự Tŕ đạt đến Lư Tŕ, tâm phàm biến thành tâm Phật. Điểm nhiệm mầu của Tịnh tông hoàn toàn là ở điểm này!

Pháp Tạng Bồ Tát sau khi bày tỏ “chẳng phải cảnh giới của con”, liền khải thỉnh Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai hăy v́ ḿnh diễn rộng vô lượng cơi nước thù thắng nhiệm mầu của chư Phật, Ngài được nghe các cơi nước mầu nhiệm và cách thức nhiếp thủ các cơi như vậy sẽ tư duy, tu tập, thề sẽ viên măn những điều Ngài đă phát nguyện.

Chánh kinh:

明,志 廣,即 淨、廣 滿 相,應 願,悉 之。說 時,經

Thế Gian Tự Tại Vương Phật tri kỳ cao minh, chí nguyện thâm quảng, tức vị tuyên thuyết nhị bách nhất thập ức chư Phật sát độ công đức nghiêm tịnh, quảng đại viên măn chi tướng, ứng kỳ tâm nguyện, tất hiện dữ chi. Thuyết thị pháp thời kinh thiên ức tuế.

Thế Gian Tự Tại Vương Phật biết ông ta cao minh, chí nguyện sâu rộng, liền v́ ông ta tuyên thuyết công đức nghiêm tịnh, tướng trạng viên măn rộng lớn của hai trăm mười ức các cơi nước Phật, ứng theo tâm nguyện ông ta đều hiện cho thấy. Lúc nói pháp ấy trải qua một ngàn ức năm.

Giải:

“Cao” () là trên, cao vời, xa thẳm. “Minh” () là sáng, chiếu, thông suốt. Sách Hội Sớ giảng: “Cao minh: Ư nói đức hạnh đầy đủ. ‘Thâm quảng’ (sâu rộng) là nói về nguyện tâm, nghĩa là: Tŕ Giới, Thiền Định trỗi vượt thế gian nên bảo là Cao. Phương tiện, Bát Nhă chiếu các pháp đến cùng tột nên bảo là Minh. Chiếu cùng tột đời vị lai chẳng nhiễu loạn (Ư nói: Có thể chiếu xa đến cùng cực đời vị lai, nhưng chẳng gây trở ngại) nên bảo là Thâm, bao trùm hết thảy không sót nên bảo là Quảng”. “Tức vị tuyên thuyết” (Liền v́ ông ta tuyên thuyết) là Phật thuyết pháp.

“Tất hiện dữ chi” (Đều hiện cho thấy) nghĩa là Phật hiện ra các cơi nước ấy. Thế Gian Tự Tại Vương Phật tuyên thuyết, thị hiện tướng trạng viên măn rộng lớn, công đức nghiêm tịnh của hai trăm mười ức các cơi của chư Phật.

“Nghiêm tịnh” là trang nghiêm, thanh tịnh. Trong hai chữ “viên măn”, “viên” () nghĩa là trọn khắp, tánh thể trọn khắp là Viên; “măn” (滿) nghĩa là đầy đủ. V́ vậy, “viên măn” c̣n được gọi là “viên túc” ( ). Như vậy, “viên măn” chính là huyền nghĩa “viên minh cụ đức” (tṛn sáng, đầy đủ các đức) của tông Hoa Nghiêm.

Đối với “hai trăm mười ức cơi” ắt có kẻ nghi rằng: Ngay khi ấy, Pháp Tạng Bồ Tát chỉ thấy có hai trăm mười ức cơi, sao lại bảo rằng quốc độ của Ngài tạo dựng “đô thắng vô số chư Phật quốc giả” (đều thù thắng hơn vô số quốc độ của chư Phật)? Có hai cách trả lời câu vấn nạn này:

- Theo phẩm Hoa Tạng Thế Giới trong kinh Hoa Nghiêm, cơi Phật vô lượng nhưng nói chung có hai mươi tầng, số lượng các cơi nước vây quanh các cơi ấy nhiều bằng hai trăm mười vi trần số[2]. Nay trong kinh này, cũng lấy con số hai trăm mười để chỉ số các cơi nước th́ đă ngầm hợp với nghĩa lư kinh Hoa Nghiêm, hàm nhiếp vô lượng cơi nước trong mười phương.

- Hai là như Trí Độ Luận bảo: “Khi xưa, A Di Đà Phật làm tỳ-kheo Pháp Tạng được Phật dẫn đến khắp mười phương chỉ cho cơi nước thanh tịnh để chọn lựa những nước tịnh diệu nhất để tự trang nghiêm cơi nước ḿnh”. Như vậy, kinh dùng chữ “hai trăm mười ức cơi” để phiếm chỉ cơi Phật mười phương.

Hơn nữa, hai trăm mười ức cơi Phật được nói ấy chỉ là những “quốc độ thanh tịnh” hay là tính cả những uế độ? Cổ đức căn cứ các câu kinh “thiên nhân thiện ác” (trời, người, thiện, ác), “quốc độ thô, diệu” mà lập ra hai thuyết khác nhau:

- Một là như Gia Tường Sớ ghi: “Về mặt nhân lành, hai trăm mười ức cơi Phật tuy có phân chia hơn, kém, nhưng các cơi nước được chiêu cảm đều bằng bảy báu hóa hiện một cách thô diệu. Thô là to lớn, diệu là đẹp đẽ. Ư kinh bảo hai trăm mười ức cơi nước được ứng hiện ấy đều là cơi to lớn, đẹp đẽ mà thôi”. Như vậy, Ngài Gia Tường cho rằng những cơi nước đă hiện chỉ là Tịnh Độ.

- Hai là Phật hiện cả cơi nước tịnh lẫn uế. Tịnh Ảnh Sớ chép: “Thô là chẳng tinh. Nói đến cái ác, cái thô để xa ĺa. Nói đến cái lành, cái đẹp là để tu tập”, nghĩa là: Hai trăm mười ức cơi Phật được nói đó có cả tịnh lẫn uế. Các vị Cảnh Hưng, Nghĩa Tịch, Huyền Nhất, Vọng Tây cũng đều cho rằng có cả tịnh lẫn uế độ được hiện. Kinh Bi Hoa dạy: “Hoặc hữu thế giới, nghiêm tịnh diệu hảo, năi chí hoặc hữu thế giới, hữu đại hỏa tai” (Cơi Phật được hiện hoặc có thế giới nghiêm tịnh, hảo diệu, cho đến hoặc có thế giới có đại hỏa tai). Câu này chứng tỏ trong những cơi nước được hiện có cả uế độ.

Hơn nữa, cơi nước được hiện có cơi là báo độ, có cơi là hóa độ. Kinh Bi Hoa nói: “Hoặc hữu thế giới, thuần thị Bồ Tát, biến măn kỳ quốc, vô hữu Thanh Văn, Duyên Giác chi danh” (Hoặc có thế giới thuần là Bồ Tát đầy khắp trong nước, chẳng có danh từ Duyên Giác, Thanh Văn). Đấy là cơi của báo thân Phật.

Kinh cũng nói: “Hoặc hữu thế giới thanh tịnh, vi diệu, vô chư trược ác” (Hoặc có thế giới thanh tịnh, vi diệu, không có các trược ác), đấy chính là Tịnh Độ của hóa Phật.

Lúc bấy giờ, đức Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai “ứng kỳ tâm nguyện” (ứng theo tâm nguyện của ông ta, tức tỳ-kheo Pháp Tạng) liền đều hiện cho thấy các h́nh tướng của cả hai trăm mười ức cơi Phật báo, hóa, tịnh, uế. Câu “thuyết thị pháp thời kinh thiên ức tuế” (lúc nói pháp ấy trải qua ngàn ức năm) thuật chi tiết về việc thuyết pháp, hiện cơi nước tường tận, lại c̣n ngụ ư: Thời gian cũng kéo dài hay rút ngắn vô ngại.

Chánh kinh:

說,皆 見, 願。於 惡,國 妙,思 竟。便 心,選 欲,結 願。精 索,恭 持。修 德,滿 劫。於 事,明 達,如 剎。所 國,超 彼。

Nhĩ thời Pháp Tạng văn Phật sở thuyết, giai tất đổ kiến, khởi phát vô thượng thù thắng chi nguyện. Ư bỉ thiên nhân thiện ác, quốc độ thô diệu, tư duy cứu cánh, tiện nhất kỳ tâm, tuyển trạch sở dục, kết đắc đại nguyện, tinh cần cầu sách, cung thận bảo tŕ, tu tập công đức, măn túc ngũ kiếp. Ư bỉ nhị thập nhất câu-chi Phật độ công đức trang nghiêm chi sự, minh liễu thông đạt, như nhất Phật sát. Sở nhiếp Phật quốc, siêu quá ư bỉ.

Lúc bấy giờ, Pháp Tạng nghe lời Phật dạy thảy đều thấy rơ, khởi phát nguyện thù thắng vô thượng. Với thiên, nhân, thiện, ác, quốc độ thô, diệu của các cơi ấy đều tư duy đến rốt ráo, Ngài liền dốc một ḷng chọn lựa lấy điều ḿnh mong muốn kết thành đại nguyện, siêng gắng cầu lấy, cung kính, thận trọng ǵn giữ, hành tŕ, tu tập công đức trọn đủ năm kiếp. Với các công đức trang nghiêm của hai mươi mốt câu-chi cơi Phật kia, Ngài hiểu rơ, thông đạt như một cơi Phật. Cơi nước được Ngài nhiếp thọ siêu việt các cơi kia.

 Giải:

“Đổ” () là thấy. Sách B́nh Giải giảng: “Đổ là thấy bằng mắt, Kiến () là thấy bằng Huệ như cái thấy của Kiến Phần[3]. Chữ ‘đổ kiến’ có ư nghĩa suy cầu và soi xét”. Như vậy Kiến là thấy bằng trí huệ, tức như cái thấy của Kiến Phần được nói trong Duy Thức, bao gồm ư nghĩa “suy cầu” và “soi xét”. Nay kinh ghi là đổ kiến” tức là cả hai ư nghĩa (tức là thấy bằng mắt và thấy bằng trí huệ) đều trọn đủ.

Ngay trong lúc ấy, ngài Pháp Tạng đối với hai trăm mười ức cơi Phật do đức Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai hiện ra đều tận mắt thấy, tâm hiểu rơ cả. Nếu ai ngờ vực tỳ-kheo Pháp Tạng c̣n đang tu nhân làm sao trông thấy khắp các cơi nước tịnh diệu của mười phương chư Phật nổi, tôi xin đáp rằng:

Kinh Pháp Tập dạy: Bồ Tát Ma Ha Tát, đắc bỉ chư Phật Như Lai thiên nhăn” (Bồ Tát Ma Ha Tát đắc thiên nhăn của đức Phật Như Lai ấy), Trí Độ Luận cũng nói: “Thiên nhăn thấy cùng tột, bất động nhưng đến khắp nơi. Mười phương chẳng đến [chỗ tỳ-kheo], tỳ-kheo cũng chẳng đi qua đấy, nhưng giống như thiên nhăn của Phật, nên cùng một lúc trông thấy rơ cả mười phương cơi nước”. Dựa theo các kinh, luận trên đây, ta thấy được rằng: Pháp Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát nương thần lực gia bị của Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai, được thiên nhăn như Phật, nên có thể bất động mà thấy trọn mười phương. Với các cơi nước Phật đă nói, Ngài đều trông thấy, hiểu rơ cả.

Trong câu “khởi phát vô thượng thù thắng chi nguyện” (khởi phát nguyện thù thắng vô thượng), chữ “khởi” () nghĩa là phát khởi (dấy lên, phát ra). Nguyện ấy không ǵ hơn được nên gọi là “vô thượng”. “Thù thắng”: Sự ǵ siêu tuyệt, hy hữu th́ gọi là “thù thắng”. Sách Hội Sớ giảng: “Không ǵ hơn được nguyện này nên bảo là ‘vô thượng’. Siêu thắng (vượt trỗi xa) các nguyện nên bảo là ‘thù thắng’. Đó là v́ trang nghiêm vô thượng, hưởng vui vô thượng, quang minh, thọ lượng vô thượng, danh hiệu vô thượng, chánh nhân văng sanh vô thượng, lợi ích vô thượng. Đấy chính là đại thể (bản thể to lớn) của cả bốn mươi tám nguyện”.

“Thiên, nhân, thiện, ác”: Phán định về tánh thiện, ác có nhiều thuyết bất nhất. Ở đây, tôi chỉ giới thiệu các thuyết trọng yếu nhất:

- Một, kinh Bồ Tát Anh Lạc coi thuận theo Đệ Nhất Nghĩa Đế là thiện, trái nghịch Đệ Nhất Nghĩa Đế là ác. Kinh dạy: Nhất thiết chúng sanh thức, thỉ khởi nhất tưởng trụ ư duyên. Thuận Đệ Nhất Nghĩa Đế khởi danh thiện, bội Đệ Nhất Nghĩa Đế khởi vi ác” (Thoạt tiên, tâm thức của hết thảy chúng sanh khởi lên một ư tưởng trụ vào duyên. Thuận theo Đệ Nhất Nghĩa Đế mà khởi th́ gọi là thiện, trái nghịch Đệ Nhất Nghĩa Đế mà khởi th́ gọi là ác). Đệ Nhất Nghĩa Đế mà kinh vừa nói chính là Chân Đế, Thánh Đế, Chân Như, Thật Tướng, Trung Đạo v.v... cũng chính là Thật Tế Lư Thể. “Đế” () là đạo lư chân thật. Đạo lư ấy là bậc nhất trong các pháp nên gọi là Đệ Nhất Nghĩa Đế. Nếu chúng sanh khởi một niệm thuận với Lư Thể th́ là thiện, trái với Lư Thể th́ thành ác. Cách phán định này lấy Lư Thể làm chuẩn.

- Hai, Duy Thức Luận coi các hành pháp dù hữu lậu hay vô lậu nhưng thuận ích cho đời này, đời sau là thiện; những hành pháp hữu lậu tổn nghịch đời này, đời sau là ác. Luận viết: “Có thể thuận ích cho đời này, đời khác th́ gọi là Thiện. Quả vui trong cơi trời, người tuy thuận ích cho đời này nhưng chẳng thuận ích đời sau, nên chẳng được gọi là Thiện. Gây tổn hại cho đời này, đời sau th́ gọi là Bất Thiện. Khổ quả trong đường ác tuy là tổn nghịch cho đời này nhưng chẳng tổn hại đời sau, nên chẳng gọi là Bất Thiện”. Đây là cách phán định thiện, ác trên quan điểm thuận ích hay tổn nghịch.

- Ba là như ngài Tịnh Ảnh phán định ba thứ thiện, ác:

a.“Thuận ích là thiện, tổn nghịch là ác”. Cách phán định này giống với Duy Thức Luận.

b. “Thuận lư là thiện, nghịch lư là ác”. Lư là vô tướng tánh không. Ví dụ như: Khi thực hành bố thí, nếu có thể đối với người thí, kẻ nhận, và vật được thí đều thấy Thể của chúng là không, chẳng có ǵ, th́ là thuận theo Lư. Vô tướng mà hành là thiện. Nếu c̣n ư tưởng có kẻ thí, người nhận, vật đem bố thí th́ là trái lư, là hữu tướng hành, nên là ác. Như vậy, thiện pháp đă tu của các vị trên kể từ Phật, Bồ Tát dưới đến A La Hán mới là thiện. Thiện pháp của chúng sanh tu đều là hữu tướng hành nên gọi là ác.

c. “Thuận theo Thể là thiện, trái với Thể là ác”. Quan điểm này vừa tương đồng cách phán định thứ hai vừa giống với quan điểm của kinh Anh Lạc. Chân tánh của pháp giới là tự thể của chính ḿnh. Thể tánh duyên khởi trở thành hạnh đức, sở hạnh chỉ là tự thể; tâm không duyên vào đâu, tùy theo ư thích mà chẳng phạm giới, đấy mới là Thiện. Theo quan điểm này, chẳng luận phàm phu, Nhị Thừa, kể cả tam thừa (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát) dẫu làm điều thiện mà c̣n có chỗ duyên vào th́ đều là ác cả.

- Bốn là như tông Thiên Thai lập ra sáu thứ thiện ác:

a. Cái thiện trong trời, người như Ngũ Giới, Thập Thiện là Sự Thiện (điều lành về mặt Sự), nhưng khi quả báo cơi trời người đă hết, lại đọa trong ba ác đạo nên cũng là ác.

b. Cái thiện của Nhị Thừa: Xa ĺa nỗi khổ tam giới nên gọi là thiện, nhưng chỉ tự độ, chẳng độ được người nên cũng là ác.

c. Cái thiện của Bồ Tát: Từ bi cứu vớt hết cả nên là thiện, nhưng chưa đoạn một mảy phiền năo nên gọi là ác.

d. Cái thiện của tam thừa trong Thông giáo: Tam thừa cùng đoạn được Kiến Tư phiền năo nên là thiện, nhưng rớt vào nhị biên (có và không), chẳng thấy được lư Trung Đạo của Biệt giáo, chưa đoạn được một phần vô minh nên cũng là ác.

e. Cái thiện của Bồ Tát trong Biệt giáo: Thấy được lư Trung Đạo là thiện, nhưng vẫn c̣n cách biệt Trung Đạo, chẳng thể thấy được Diệu Trung (lư Trung Đạo mầu nhiệm) viên dung của Viên giáo, sở hành c̣n vướng trong phương tiện, chẳng xứng hợp lư nên cũng là ác.

f. Cái thiện của Viên giáo Bồ Tát: Lư viên diệu là điều thiện cùng tột, nhưng lư này có hai nghĩa:

* Viên lư thuận với Thật Tướng là thiện, trái nghịch Thật Tướng là ác.

* Thấu đạt viên lư này là thiện, chấp trước viên lư lại thành ác. Chấp vào viên lư c̣n là ác, huống hồ là chấp vào các pháp khác!

Quan điểm “thấu đạt viên lư là thiện, chấp trước viên lư là ác” là giáo thuyết độc đáo do tông Thiên Thai phát huy, nghĩa lư này thật tinh diệu.

“Quốc độ thô diệu”: Chữ “thô diệu” như phần trên đă giảng. “Thô” () là chẳng tinh, “diệu” () là thắng diệu (tốt đẹp tuyệt vời). Sư Nghĩa Tịch bảo: “Trong Tịnh Độ có thô, diệu sai khác. Thô chính là biến hóa, diệu chính là thọ dụng” nghĩa là: Trong Tịnh Độ, có các sự thô hay diệu sai khác. Thô là có suy, có biến đổi, c̣n Diệu là cơi Thật Báo Tự Thọ Dụng hay Tha Thọ Dụng.

Thiên nhân thiện, ác” là nhân, “quốc độ thô, diệu” là quả. Người lành thời cơi nước diệu, người ác ắt cơi nước hèn kém. V́ vậy, sách Hội Sớ bảo: “Quốc độ chính là h́nh bóng của chúng sanh. H́nh dài th́ bóng nó dài, h́nh ngắn th́ cơi đất ngắn ngủi”. Ư nói: Quốc độ thô hay diệu giống như cái bóng. Thân dài hay ngắn là h́nh; cái bóng do h́nh quyết định, bóng ắt phụ thuộc h́nh. V́ vậy, Tịnh Ảnh Sớ ghi: “Câu ‘thiên nhân thiện ác’ phiếm chỉ cái nhân của các cơi nước. ‘Quốc độ thô diệu’ là chỉ chung cái quả hết thảy các cơi”.

“Tư duy cứu cánh, tiện nhất kỳ tâm, tuyển trạch sở dục, kết đắc đại nguyện” (Tư duy đến rốt ráo, Ngài liền nhất tâm chọn lựa lấy điều ḿnh mong muốn kết thành đại nguyện): Với mỗi một cái nhân thiện ác, mỗi quả thô, diệu của các cơi Phật, Pháp Tạng Bồ Tát đều suy nghĩ, phân biệt tỉ mỉ đến cùng cực, thấu đạt rốt ráo. “Cứu cánh” (rốt ráo) chính là Chân Thật Tế được nói trong kinh, cũng là một pháp cú, thanh tịnh cú “chân thật trí huệ vô vi Pháp Thân”. Ngài bèn chuyên nhất tự tâm, chọn lựa lấy ư nguyện độ sanh, khai hóa, hiển thị, nêu lên các thứ y báo, chánh báo trang nghiêm, pháp môn Tịnh Độ chẳng thể nghĩ bàn, kết thành đại nguyện để ban cho chúng sanh cái lợi chân thật.

“Nhất kỳ tâm” (Dốc một ḷng) chính là nhất tâm. V́ thế, phẩm này mang tên Chí Tâm Tinh Tấn. Nhất tâm tức là Chân Như như sách Chỉ Quán nói: “Nhất tâm đủ mười pháp giới”. Sách Thám Huyền Kư cũng nói: “Nhất tâm là tâm không có một niệm khác”. Sách Giáo Hạnh Tín Chứng Văn Loại c̣n viết: “Một niệm là tín tâm không có hai tâm nên bảo là một niệm. Đấy gọi là nhất tâm. Nhất tâm là cái nhân chân thật của báo độ thanh tịnh vậy”. Câu trên giống hệt như câu “nhất tâm kết thành đại nguyện” trong kinh này vậy, chỉ rơ: Nhất tâm chính là cái nhân chân thật của báo độ.

Với câu “tinh cần cầu sách” (siêng gắng cầu lấy), hai bản Hán dịch và Ngô dịch đều chép là “dũng mănh tinh tấn, cần khổ cầu sách” (dũng mănh tinh tấn, vất vả t́m ṭi) nên chữ “tinh” () ở đây là tinh tấn, “cần” () có nghĩa là gắng gỏi, chăm chỉ. “Cầu” () là mong cầu, “sách” () là giữ lấy.

Bản Hán dịch ghi câu “cung thận, bảo tŕ” (cung kính, thận trọng ǵn giữ) như sau: “Ngă đương phụng tŕ, đương tức Trung Trụ” (Con sẽ phụng tŕ, sẽ trụ vào Trung Đạo). “Cung” () là cung kính, “thận” () là cẩn thận, chí thành, tịch tịnh. Câu “đương tức Trung Trụ” (sẽ trụ nơi Trung Đạo) trong bản Hán dịch chính là ư nghĩa thật sự của hai chữ “cung”“thận”. An trụ nơi Trung Đạo là cung kính, chí thành một cách chân thật. Chữ “bảo” () trong “bảo tŕ” (ǵn giữ, hành tŕ) cùng nghĩa chữ “bảo” trong “bảo nhậm” (bảo đảm). Nhà Thiền nói: “Tâm tâm chẳng khác là bảo (ǵn giữ)”. “Tŕ” () là hành tŕ, cũng có nghĩa là giữ lấy. Như vậy, chữ “bảo tŕ” tương đương chữ “phụng tŕ” ( ) của bản Hán dịch. Do đó, “cung thận bảo tŕ” (cung kính, thận trọng ǵn giữ, hành tŕ) có nghĩa là tự nhiên cung kính, nghiêm túc, thung dung Trung Đạo, tâm tâm chẳng khác, tùy ư tự chấp tŕ vậy.

Câu tu tập công đức, măn túc ngũ kiếp” (tu tập công đức trọn đủ năm kiếp) được bản Ngụy dịch ghi như sau: Cụ túc ngũ kiếp, tư duy nhiếp thủ trang nghiêm Phật quốc thanh tịnh chi hạnh” (Tư duy trọn đủ năm kiếp, thâu tóm, giữ lấy hạnh thanh tịnh trang nghiêm Phật quốc). Bản Đường dịch ghi: “Ư bỉ nhị thập nhất ức chư Phật độ trung sở hữu trang nghiêm chi sự, tất giai nhiếp thủ. Kư nhiếp thủ dĩ, măn túc ngũ kiếp, tư duy tu tập” (Với tất cả các sự nghiêm tịnh của hai trăm mười ức cơi Phật ấy đều nhiếp thủ cả. Đă nhiếp thủ xong, tư duy tu tập trọn cả năm kiếp). Bản Tống dịch chép: Trụ nhất tịnh sở, độc tọa tư duy, tu tập công đức, trang nghiêm Phật sát, phát đại thệ nguyện, kinh ư ngũ kiếp” (Ở nơi thanh tịnh, ngồi một ḿnh tư duy, tu tập công đức trang nghiêm cơi Phật, phát đại thệ nguyện trong suốt cả năm kiếp).

Với câu này, cổ đức có nhiều thuyết khác nhau:

* Các vị Tịnh Ảnh, Cảnh Hưng cùng cho rằng năm kiếp là thời gian tu hành sau khi phát nguyện. Sách Tịnh Ảnh Sớ viết: “Nương nguyện tu hành”“v́ vậy, ở ngay nơi đức Phật ấy, ngài Pháp Tạng ngay trong một thân tu hành năm kiếp”. Sách Lược Tiên cũng ghi: “Đấy là thời gian tu hành. Trong thời gian năm kiếp, tư duy, siêng năng tu tập, tu thành tựu viên măn cái hạnh ḿnh đă nguyện. Đă phát nguyện xong chẳng thể không có hạnh”. Các ư kiến trên đều cho rằng năm kiếp là thời gian tu hành sau khi phát nguyện.

* Năm kiếp chính là thời gian phát nguyện. Sách Hợp Tán bảo: “Năm kiếp là thời gian phát nguyện, tư duy”. Ngài Vọng Tây cũng đồng quan điểm này. Sách Hội Sớ viết: “Phàm Bồ Tát kiến lập Tịnh Độ th́ cũng giống như thợ giỏi xây dựng đại thành, trước hết phải suy nghĩ, hoạch định họa đồ.... Năm kiếp tư duy như vẽ đồ án”. Quan điểm này cho rằng năm kiếp tư duy giống như trước khi thi công, phải thực hiện đồ án. Sách Hợp Tán đồng quan điểm với sách Hội Sớ, cũng cho rằng năm kiếp là thời gian phát nguyện, chẳng phải là thời gian tu hành sau khi đă phát nguyện. Sách B́nh Giải cũng có cùng một nhận định. Các vị ấy đều lấy bản Ngụy dịch làm chứng cứ để lập luận.

* Riêng ngài Gia Tường lại bảo: “Trong năm kiếp tu hành phát nguyện”. Thuyết này nêu cả tu hành lẫn phát nguyện nhưng lấy phát nguyện làm chỗ quy thú, rất phù hợp với ư bản Tống dịch. Do bản Tống dịch trước tiên viết: “Tư duy tu tập” rồi viết tiếp: “Phát đại thệ nguyện, kinh ư ngũ kiếp” (Phát đại thệ nguyện suốt trong năm kiếp), ta thấy: Trong năm kiếp Ngài dùng hạnh thanh tịnh tu tập đại nguyện giữ lấy cơi Phật thanh tịnh. Trọn cả năm kiếp đại nguyện mới thành.

Quan điểm này rất phù hợp với ư hội bản: Phải là sau khi tinh cần cầu sách, cung thận bảo tŕ, tu tập công đức, măn túc ngũ kiếp” (siêng gắng t́m lấy, cung kính, thận trọng ǵn giữ, hành tŕ, tu tập công đức trọn đủ năm kiếp) th́ “sở nhiếp Phật quốc, siêu quá ư bỉ” (quốc độ được Ngài nhiếp thủ mới siêu việt các cơi ấy). Kinh chép như vậy thật tương hợp với thuyết của ngài Gia Tường. V́ vậy, “năm kiếp tu hành” là thời gian tu hành và phát nguyện.

Chữ “câu-chi” (koti) trong đoạn kinh trên có nghĩa là một ngàn vạn. Trong năm kiếp, tỳ-kheo Pháp Tạng đối với các thứ công đức kỳ diệu, trang nghiêm thù thắng của hai trăm mười ức cơi Phật, đối với mỗi một thứ thiện, ác, thô, diệu sai biệt đều “minh liễu thông đạt như nhất Phật sát” (hiểu rơ, thông đạt như là một cơi Phật).

Qua một thời gian dài lâu suy nghĩ, chọn lựa, tu tập, nhiếp thủ, nên mới có thể kết thành đại nguyện, ngơ hầu “sở nhiếp Phật quốc, siêu quá ư bỉ” (quốc độ được Ngài nhiếp thủ vượt trội các cơi kia). Chữ “bỉ” (kia) chỉ hai trăm mười ức cơi Phật. Nay cơi Phật được nhiếp thủ bởi đại nguyện của Pháp Tạng Bồ Tát không những thật sự siêu việt hai trăm mười ức cơi Phật mà c̣n siêu việt mười phương cơi Phật, cực tả sự thù thắng độc diệu (nhiệm mầu tuyệt vời độc nhất) của cơi Cực Lạc.

Chánh kinh:

既 攝 受 已,復 詣 世 自 在 王 如 來 所,稽 首 禮 足,繞 佛 三 匝,合 掌 而 住,白 言 世 尊 , 我 已 成 就 莊 嚴 佛 土,清 淨 之 行。

佛 言:善 哉!今 正 是 時,汝 應 具 說,令 眾 歡 喜。亦 令 大 眾,聞 是 法 已,得 大 善 利。能 於 佛 剎,修 習 攝 受,滿 足 無 量 大 願。

Kư nhiếp thọ dĩ, phục nghệ Thế Tự Tại Vương Như Lai sở, khể thủ lễ túc, nhiễu Phật tam táp, hiệp chưởng nhi trụ, bạch ngôn:

- Thế Tôn, ngă dĩ thành tựu trang nghiêm Phật độ, thanh tịnh chi hạnh.

Phật ngôn:

- Thiện tai! Kim chánh thị thời, nhữ ưng cụ thuyết, linh chúng hoan hỷ, diệc linh đại chúng, văn thị pháp dĩ, đắc đại thiện lợi, năng ư Phật sát, tu tập nhiếp thọ, măn túc vô lượng đại nguyện.

Đă nhiếp thọ xong, lại đến chỗ Thế Tự Tại Vương Như Lai, dập đầu lễ dưới chân Phật, nhiễu Phật ba ṿng, đứng chắp tay, bạch rằng:

- Bạch Thế Tôn, con đă thành tựu hạnh thanh tịnh trang nghiêm cơi Phật.

Phật khen:

- Lành thay! Nay chính là đúng lúc, ông nên thuật đủ, khiến cho đại chúng hoan hỷ, cũng khiến cho đại chúng nghe pháp ấy xong được đại thiện lợi, có thể tu tập, nhiếp thọ cơi Phật, đầy đủ vô lượng đại nguyện.

Giải:

Câu “kư nhiếp thọ dĩ” (đă nhiếp thọ[4] xong) là câu để nối kết đoạn kinh trước với đoạn kinh này. Khi đó, Pháp Tạng Bồ Tát lại đến chỗ đức Thế Gian Tự Tại Vương Phật. “Khể thủ” là cúi đầu sát đất. “Lễ túc” là dùng đầu ḿnh áp sát chân Phật. Kế đó, nhiễu Phật cũng là cách kính lễ. “Tam táp” là nhiễu quanh Phật ba ṿng, biểu thị ư trân trọng hành lễ. Đi nhiễu xong liền chắp tay đứng yên trước Phật, hướng về đức Phật bạch rằng: “Ngă dĩ thành tựu trang nghiêm Phật độ, thanh tịnh chi hạnh(Con đă thành tựu hạnh thanh tịnh trang nghiêm cơi Phật). Phật khen “thiện tai!” (lành thay), ư nói: Hạnh của tỳ-kheo Pháp Tạng thật vừa ư thánh tâm, thông suốt bổn hoài của Phật, ứng trọn các căn cơ nên được Phật khen ngợi, chấp thuận. “Thiện tai!” là tiếng biểu lộ sự vui mừng rất sâu của Phật.


Kim chánh thị thời” (Nay chính là đúng lúc): Do thời cơ chín muồi để gom ba thừa về một thừa, hành giả cả ba thừa cùng được hưởng xe trâu trắng lớn, cùng nhập một Như Lai thừa để khai tri kiến Phật, chỉ bày tri kiến Phật cho các chúng sanh nên kinh Pháp Hoa nói: “Kim chánh thị thời!” Trong kinh này cũng thế, muốn cho thập phương cửu giới chúng sanh cùng nhập Nhất Thừa đại thệ nguyện hải của Phật Di Đà, hết thảy hàm linh đều được độ thoát, nên Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai bảo: Kim chánh thị thời, nhữ ưng cụ thuyết, linh chúng hoan hỷ, diệc linh đại chúng văn thị pháp dĩ, đắc đại thiện lợi” (Nay chính là đúng lúc, ông nên thuật đủ khiến đại chúng hoan hỷ, cũng khiến cho đại chúng nghe pháp ấy xong được đại thiện lợi). Như Lai có ư khuyên Pháp Tạng tuyên thuyết để toàn bộ đại chúng được lợi ích. Hai chữ “đại chúng” bao gồm đại chúng hiện diện khi ấy lẫn hết thảy phàm phu, Nhị Thừa và Bồ Tát trong đời tương lai (bọn phàm phu chúng ta ngày nay cũng nằm trong số này). Nói ra sẽ khiến cho khắp đại chúng được nghe cùng phát nguyện văng sanh, mau vượt khỏi biển khổ sanh tử nên “linh chúng hoan hỷ” (khiến cho đại chúng hoan hỷ); cũng khiến cho đại chúng nghe pháp được lợi ích, phát trọn khắp cái nguyện của Di Đà, học theo hạnh của ngài Pháp Tạng, nhiếp thủ cơi Phật, viên măn đại nguyện.

Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Pháp Tạng tự nói nguyện của ḿnh xong khiến các Bồ Tát học theo Ngài cùng phát nguyện”. Sách Hội Sớ cũng nói: “Bồ Tát nghe xong tự phát tâm dũng mănh. Ổng là trượng phu, ta cũng vậy, ổng đă phát nguyện nhiệm mầu, ta há chẳng bằng ổng sao? V́ vậy, nguyện của Pháp Tạng làm duyên viên măn đại nguyện [của đại chúng].

“Măn túc vô lượng đại nguyện” ầy đủ vô lượng đại nguyện) là viên măn hết thảy chí nguyện. Sách Văng Sanh Luận Chú viết: “Viên măn một nguyện văng sanh Tịnh Độ chính là viên măn hết thảy các chí nguyện, nên bảo là: Măn túc vô lượng đại nguyện”. Đàm Loan đại sư (tác giả sách Văng Sanh Luận Chú) quả thật đă giăi bày trọn vẹn tâm tủy của chư Phật. Cái đại nguyện do Pháp Tạng Bồ Tát trong cả năm kiếp siêng gắng t́m cầu, chọn lọc [các cơi Phật thanh tịnh] thật ra chỉ là một nguyện nhằm làm cho chúng sanh chân thật phát khởi ư nguyện cầu văng sanh Tịnh Độ. V́ vậy, bọn phàm phu đời mạt chúng ta chỉ cần viên măn nguyện này ắt liền xứng hợp Di Đà đại nguyện, liền nhập Nhất Thừa nguyện hải, liền có cùng một thể với Di Đà đại nguyện, nên mới bảo: “Đầy đủ vô lượng đại nguyện”. Những ǵ là phương tiện, những ǵ là đường thẳng chóng? Chính là từ quả khởi tu thẳng đến cứu cánh. Pháp môn Tịnh Độ thật chẳng thể nghĩ bàn!



[1] Tức cơi của Pháp Thân và Báo Thân ở, tức Thường Tịch Quang Tịnh Độ và Thật Báo Trang Nghiêm Độ.

[2] Vi trần số: Số lượng vi trần (bụi nhỏ) trong một cơi. Như vậy nói “hai trăm mười vi trần số” tức là bằng số lượng của các vi trần trong hai trăm mười cơi Phật.

[3] Kiến phần: C̣n gọi là Năng Thủ Phần. Kiến có nghĩa là soi rơ, nhận thức. Kiến Phần chỉ cho tác dụng nhận thức của tám thức (Duy Thức học gọi là Năng Duyên Dụng). Cái được Kiến Phần nhận thức gọi là Tướng Phần. Ví dụ như: Mắt có khả năng thấy được các h́nh sắc th́ khả năng nh́n thấy là Kiến Phần, các h́nh sắc được thấy bởi mắt là Tướng Phần.

[4] Trong đoạn này, kinh văn dùng chữ “nhiếp thọ” nghĩa là tiếp nhận trọn hết, c̣n trong đoạn trên, lời chú giải dùng chữ “nhiếp thủ” (giữ lấy trọn hết) là theo từ ngữ của bản Ngụy dịch, ư nghĩa cũng tương đồng.