2. Đức Tuân Phổ Hiền (德 遵 普 賢)
Phẩm thứ hai nói chi tiết thêm về các vị
thánh chúng đă được đề cập trong phẩm
trên. Đầu phẩm này, trong hàng Bồ Tát, lại nêu lên
mười sáu vị Chánh Sĩ thượng thủ như
Hiền Hộ v.v... Cuối phẩm cũng nêu ba chúng kia và
chư thiên đại chúng nhằm bổ túc Chúng Thành Tựu
trong sáu thứ thành tựu đă được nói trong phẩm
đầu. Đập ngay vào mắt chúng ta là tên của phẩm
này là Đức Tuân Phổ Hiền, ngụ ư: Vô lượng vô
biên các đại Bồ Tát đến hội đều
cùng tuân tu Phổ Hiền đức. “Phổ Hiền
đức” thật ra vô lượng, nhưng điểm cốt
lơi lại chính là “mười đại nguyện
vương dẫn dắt về Cực Lạc”. Đó là
điểm trọng yếu của phẩm này.
Chánh kinh:
又 賢 護 等 十 六 正 士,所 謂 善 思 惟 菩 薩、慧 辯 才 菩薩、觀 無 住 菩 薩、神 通 華 菩 薩、光 英 菩 薩、寶 幢 菩 薩、智上 菩 薩、寂 根 菩 薩、信 慧 菩 薩、願 慧 菩 薩、香 象 菩 薩、寶英 菩 薩、中 住 菩 薩、制 行 菩 薩、解 脫 菩 薩,而 為 上 首。
Hựu Hiền Hộ
đẳng thập lục Chánh Sĩ, sở vị: Thiện Tư
Duy Bồ Tát, Huệ Biện Tài Bồ Tát, Quán Vô Trụ Bồ
Tát, Thần Thông Hoa Bồ Tát, Quang Anh Bồ Tát, Bảo Tràng
Bồ Tát, Trí Thượng Bồ Tát, Tịch Căn Bồ
Tát, Tín Huệ Bồ Tát, Nguyện Huệ Bồ Tát,
Hương Tượng Bồ Tát, Bảo Anh Bồ Tát,
Trung Trụ Bồ Tát, Chế Hạnh Bồ Tát, Giải
Thoát Bồ Tát, nhi vi Thượng Thủ.
Lại có nhóm Hiền
Hộ mười sáu vị Chánh Sĩ, tức là: Thiện
Tư Duy Bồ Tát, Huệ Biện Tài Bồ Tát, Quán Vô Trụ
Bồ Tát, Thần Thông Hoa Bồ Tát, Quang Anh Bồ Tát, Bảo
Tràng Bồ Tát, Trí Thượng Bồ Tát, Tịch Căn Bồ
Tát, Tín Huệ Bồ Tát, Nguyện Huệ Bồ Tát,
Hương Tượng Bồ Tát, Bảo Anh Bồ Tát,
Trung Trụ Bồ Tát, Chế Hạnh Bồ Tát, Giải
Thoát Bồ Tát làm Thượng Thủ.
Giải:
“Chánh Sĩ”: Kinh Độ Thế
nói: “Khai Sĩ, Đại Sĩ, Thánh
Sĩ, Lực Sĩ, Chánh Sĩ đẳng, giai Bồ Tát
chi dị xưng” (Khai Sĩ, Đại
Sĩ, Thánh Sĩ, Lực Sĩ, Chánh Sĩ v.v... đều
là những danh xưng khác của Bồ Tát).
Sách B́nh Giải giảng: “Chánh
(正) là chánh đạo, Sĩ (士)
là sĩ phu, là danh xưng của
người tại gia. Các vị Đại Sĩ này ngoài hiện
h́nh tướng phàm phu, bên trong thấu hiểu sâu xa chánh
đạo, sống tại gia, gọi là Chánh Sĩ”.
Lại nữa, sách Hội Sớ viết: “Mười sáu vị Chánh Sĩ
như kinh Văn Thù Sư Lợi Nghiêm Tịnh nói: ‘Bồ
Tát tám vạn bốn ngàn và mười sáu vị Chánh Sĩ’
cho thấy danh xưng Chánh Sĩ chỉ hàng tại gia Bồ
Tát. Chánh là chánh đạo, Sĩ là cư sĩ. Các vị Đại
Sĩ này tuy sống lẫn với phàm nhân nhưng đă
thoát khỏi tà đạo từ lâu, thâm đạt chánh pháp
nên gọi là Chánh Sĩ”.
Theo trên, ta thấy rằng Chánh Sĩ là tại gia Bồ
Tát. Ngoài ra, trong Mật Tông, con số mười sáu biểu
thị sự viên măn vô tận. Sách Xuất Sanh Nghĩa nói:
“Số lượng dẫu
đến hà sa trần hải[1]
cũng chỉ nêu mười sáu vị mà thôi, số nhiều
đến trần sa cũng chẳng ra ngoài số này”.
Nhóm “Hiền Hộ” mười sáu vị Chánh Sĩ
thường được thấy nhắc đến
trong kinh, luận. Kinh Thắng Tư Duy Phạm Thiên và kinh
Tư Ích có nêu tên mười sáu vị này.
Trí Độ Luận nhắc đến mười sáu vị,
nhưng chỉ nêu tên sáu vị đầu. Luận chép: “Nhóm Thiện Thủ (Hiền Hộ)
mười sáu vị Bồ Tát là Bồ Tát tại gia”, rồi
nêu tên năm vị, ở đây tôi chẳng dẫn đủ
các tên.
Kinh Tư Ích chép: “Nhược
chúng sanh văn danh giả, tất cánh đắc Tam Bồ
Đề, cố vân Thiện Thủ” (Nếu có chúng sanh nghe tới tên bọn họ
sẽ rốt ráo đắc Tam Bồ Đề. V́ vậy, gọi
họ là Thiện Thủ).
Lại nữa, kinh Đại Phương Đẳng Đại
Tập Hiền Hộ chép: “Vương
Xá đại thành hữu ưu-bà-tắc danh viết Hiền
Hộ, vi chúng Thượng Thủ” (Đại thành Vương Xá có
ưu-bà-tắc tên là Hiền Hộ làm Thượng Thủ
của đại chúng).
Trong pháp hội Hiền Hộ Trưởng Giả của
kinh Đại Bảo Tích, đức Phật nói về các
điều vui của trưởng giả Hiền Hộ
như sau: “Kỳ thọ
ư khoái lạc quả báo, tuy phục Đao Lợi Đế
Thích thiên vương, do bất năng cập, huống phục
nhân gian” (Ông ta hưởng
quả báo khoái lạc, dẫu đến đại
vương Đế Thích của trời Đao Lợi c̣n chẳng
thể bằng nổi, huống hồ nhân gian).
Sách Danh Nghĩa Tập viết: “Bạt Đà Bà La (Bhadrapala) dịch là Hiền Hộ, tự
ǵn giữ hiền đức, lại hộ tŕ chúng sanh. Hoặc
dịch là Hiền Thủ, do Ngài ở địa vị Đẳng
Giác là Thượng Thủ của các bậc hiền nhân”.
Đủ thấy Chánh Sĩ Hiền Hộ thị hiện
sanh trong thành Vương Xá, là vị tại gia Bồ Tát ở
địa vị Đẳng Giác. Trong kinh Bát Châu Tam-muội, Bồ
Tát Bạt Đà Ḥa (Hiền Hộ) là người phát khởi
Niệm Phật tam-muội, đích thân thấy được
Phật Di Đà. Xét ra, trong kinh này Ngài đến trong pháp hội
thù thắng đây để giúp Phật hiển bày pháp môn
Niệm Phật tam-muội vô thượng.
“Thiện Tư Duy Bồ Tát”: Bản Đường dịch
ghi là Thiện Tư Duy Nghĩa Bồ Tát, bản Ngụy dịch
ghi là Thiện Tư Nghĩa Bồ Tát. Theo phẩm Hiện
Sanh của kinh Tứ Đồng Tử, các vị Chánh Sĩ
như Thiện Tư Duy Bồ Tát từ thế giới
phương khác đến cơi này thị hiện làm tại
gia Bồ Tát:
“Đông phương khứ thử
Phật sát thập thiên câu-chi, hữu nhất thế giới
danh Bảo Minh. Phật danh Sư Tử Minh Thanh Như Lai,
hữu nhất Bồ Tát danh Thiện Tư Nghị (tức
Thiện Tư Duy), ứng thác lai đáo thử độ,
hóa sanh A Xà Thế vương cung nội. Nam phương khứ
thử ngũ bách ức thế giới, hữu nhất thế
giới, Phật danh Bảo Tích Thiện Hiện Như Lai,
hữu nhất Bồ Tát danh Tịch Tĩnh Chuyển (tức
Huệ Biện Tài), ư thử Xá Vệ thành nội, sanh
đại cư sĩ Tự Sư Tử gia. Tây
phương khứ thử quá bát ức bách thiên Phật sát,
Lạc Âm Như Lai sở, hữu nhất Bồ Tát danh Vô
Phan Duyên (tức Quán Vô Trụ). Ư thử Ba La Nại quốc,
hóa sanh đại cư sĩ Thiện Quỷ gia. Bắc
phương khứ thử lục vạn tứ bách thiên ức
Phật độ, trụ Bồ Đề Phần Chuyển
Như Lai sở, hữu nhất Bồ Tát danh Khai Phu Thần
Đức (tức Thần Thông Hoa), sanh thử Tỳ Da Ly
thành đại tướng Sư Tử gia. Thử tứ
đồng tử dữ vô lượng đại chúng, cộng
lai Sa La Song Thọ sở, cung kính cúng dường” (Về phương Đông, cách đây mười
ngàn câu-chi cơi Phật có một thế giới tên là Bảo
Minh, Phật hiệu Sư Tử Minh Thanh Như Lai, có một
vị Bồ Tát tên là Thiện Tư Nghị (tức là Thiện
Tư Duy) thác sanh đến cơi này, hóa sanh trong cung vua A Xà Thế.
Nơi phương Nam cách đây năm trăm ức thế
giới có một thế giới, Phật hiệu Bảo
Tích Thiện Hiện Như Lai, có một Bồ Tát tên Tịch
Tĩnh Chuyển (tức là Huệ Biện Tài) sanh vào nhà
đại cư sĩ Tự Sư Tử trong thành Xá Vệ
đây. Ở phương Tây, cách khỏi đây tám ức
trăm ngàn cơi Phật, chỗ đức Lạc Âm Như
Lai có một vị Bồ Tát tên Vô Phan Duyên (tức Quán Vô Trụ)
hóa sanh vào nhà đại cư sĩ Thiện Quỷ trong
nước Ba La Nại này. Về phương Bắc, cách
đây sáu vạn bốn trăm ngàn ức cơi Phật, ở
chỗ đức Trụ Bồ Đề Phần Chuyển
Như Lai có một Bồ Tát tên là Khai Phu Thần Đức (tức
là Thần Thông Hoa) sanh trong nhà đại tướng Sư
Tử của thành Tỳ Gia Ly này. Bốn đồng tử
này cùng với vô lượng đại chúng đến rừng
Sa La Song Thọ cung kính cúng dường).
Thêm nữa, bốn vị Chánh Sĩ Quang Anh Bồ Tát
v.v... tiếp theo đó như quyển bảy kinh Phật
Danh có nói: Bốn vị Bồ Tát Quang Anh, Huệ Thượng
(tức là Trí Thượng), Tịch Căn, Nguyện Huệ
từ cơi Phật ở bốn phương nhóm đến.
Hơn nữa, kinh Văn Thù Sư Lợi Nghiêm Tịnh
cũng nói bốn vị Chánh Sĩ này từ bốn
phương đến, giống như trong kinh Tứ
Đồng Tử đă nói. Hơn nữa, quyển ba kinh Nguyệt
Đăng Tam-muội lại chép: “Hương
Tượng Bồ Tát tùng Đông phương A Súc Phật,
dữ na-do-tha Bồ Tát cộng lai vấn tấn Thích Ca Mâu
Ni Phật” (Hương
Tượng Bồ Tát từ chỗ đức A Súc Phật
ở phương Đông và na-do-tha Bồ Tát cùng đến
chào hỏi đức Thích Ca Mâu Ni Phật).
Từ Hiền Hộ đến Hương Tượng
Bồ Tát tổng cộng là mười vị Chánh Sĩ,
c̣n sáu vị khác th́ như sách B́nh Giải chép: “Ngoài ra, Trí Tràng (tức là Bảo
Tràng), Bảo Anh, Trung Trụ,
Chế Hạnh, Giải Thoát v.v... tuy chưa thấy chứng
cớ trong các kinh khác, nhưng cứ theo trên mà suy, họ
cũng phải là Đại Sĩ từ phương khác đến
cơi này”.
Xét ra, sách B́nh Giải dùng bản Ngụy dịch để
chú giải, trong bản ấy chỉ nêu tên mười
lăm vị Chánh Sĩ, thiếu tên Huệ Biện Tài Bồ
Tát. Tên vị Bồ Tát này thấy trong bản Đường
dịch.
Sách B́nh Giải cho rằng Tín Huệ chính là Huệ Biện
Tài. Kinh này tách thành hai người (Tín Huệ và Huệ Biện
Tài) th́ mới phù hợp với con số mười sáu vị.
V́ vậy biết Tín Huệ Bồ Tát cũng giống
như các vị Chánh Sĩ như Bảo Tràng v.v... đều
từ phương khác đến. Sách B́nh Giải có giảng
rơ điều trên, nguyên văn:
“Đầu tiên nêu lên nhóm Hiền
Hộ mười sáu vị Chánh Sĩ để chỉ rơ
pháp này chẳng lấy phát tâm xuất gia làm gốc. Kế
đến, nêu ra các vị ấy đến từ
phương khác, ngụ ư: Trong cơi Phật mười
phương đều dùng pháp này làm đại sự xuất
thế, cùng tinh tấn đến cầu pháp này”.
Lời bàn trên rất phù hợp yếu chỉ của
kinh v́ đối với kẻ tại gia tu hành, Tŕ Danh Niệm
Phật là thích hợp nhất. Thập phương Đại
Sĩ đều đến nghe pháp nhằm biểu thị
pháp này thù thắng, thật là đại sự nhân duyên vậy.
Hơn nữa, chữ Hiền Hộ ngụ ư Như Lai
khéo hộ niệm các Bồ Tát. Nhất Thừa nguyện hải,
sáu chữ hồng danh, độ khắp ba căn, thâu trọn
vạn loại, đúng là ư nghĩa của chữ Hiền
Hộ.
Thêm nữa, Thiện Tư Duy biểu thị chánh trí
minh liễu (hiểu trọn vẹn rơ ràng), tin sâu Phật
huệ, lại c̣n biểu thị: Ngài Pháp Tạng lúc c̣n tu
nhân, tư duy trong năm kiếp, kết thành thắng nhân
đại nguyện.
Huệ Biện Tài biểu thị: Tin Phật huệ,
biện tài vô ngại như trong kinh nói: “Diễn từ biện, thọ pháp nhăn” (Diễn từ
biện, trao truyền pháp nhăn),
“thường dĩ pháp âm giác chư thế gian” (thường
dùng pháp âm giác ngộ các thế gian).
Quán Vô Trụ (xem bản Đường dịch. Bản Ngụy
dịch ghi là Không Vô) biểu thị ư nghĩa sau đây
trong kinh này: “Thí thiện huyễn
sư, hiện chúng dị tướng, ư bỉ tướng
trung, thật vô khả đắc” (Ví như huyễn
sư giỏi hiện các tướng khác lạ, nhưng
trong các tướng ấy thật chẳng thể
được), cũng biểu thị ngài Pháp Tạng bao
kiếp tu nhân hạnh, nói pháp Không, Vô Tướng, Vô Nguyện.
Thần Thông Hoa biểu thị sức thần thông, muôn
hạnh kết thành đức hoa để tự trang
nghiêm, đầy đủ phương tiện thành tựu
chúng sanh như kinh chép: “Du bộ
thập phương, hành quyền phương tiện”.
Quang Anh biểu thị quang minh chiếu rực. Các chữ
Vô Lượng Quang, Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang v.v... tôn quư nhất
trong các quang minh là ư nghĩa của chữ Quang Anh.
Bảo Tràng (thấy trong bản Đường dịch,
bản Ngụy dịch ghi là Trí Tràng) biểu thị trí huệ
thù thắng ví như tràng báu.
Trí Thượng (thấy trong bản Đường dịch,
bản Ngụy dịch ghi là Huệ Thượng) biểu
thị các ư nghĩa “trí thù thắng
tối thượng, không ǵ bằng, không ǵ sánh”, “trí oai
đức rộng lớn chẳng thể nghĩ bàn”
trong kinh. Diệu trí vô thượng như vậy siêu xuất
hết thảy, nên gọi là Thượng Trí.
Về Tịch Căn, sách Hội Sớ giảng: “Trí và cảnh đều vắng
lặng, các căn thanh tịnh nên gọi là Tịch Căn”.
Sách B́nh Giải cho rằng: “Cảnh
và trí đều tịch diệt, căn bản nghiêm tịnh
th́ gọi là Tịch Căn”. Theo như phẩm Chân Thật
Công Đức của kinh này chép: “Cứu
cánh Bồ Tát chư Ba La Mật, nhi thường an trụ
bất sanh bất diệt chư Tam Ma Địa” (Rốt
ráo các Ba La Mật của Bồ Tát mà thường an trụ
các Tam Ma Địa bất sanh, bất diệt) th́ đúng
là biểu thị: Tịch là căn bản, có công năng
chiếu soi vô cùng, chiếu mà thường tịch. V́ vậy,
Tịch Căn biểu thị thọ mạng vô lượng.
Sách Hội Sớ giảng “Tín Huệ” như sau: “Tín tâm trí huệ, vĩnh viễn
cắt đứt lưới nghi”. Sách B́nh Giải giảng: “Tin rơ Phật trí là vô thượng
trí huệ”.
Trong kinh này, theo như các câu: “Dĩ
tằng cúng dường chư Như Lai, tắc năng
hoan hỷ tín thử sự” (Đă từng cúng dường
các Như Lai th́ có thể hoan hỷ tin được sự
này), “nhân thân nan đắc, Phật
nan trị, tín huệ văn pháp nan trung nan” (thân người
khó được, Phật khó gặp, tín huệ, nghe pháp là
điều khó nhất trong các điều khó) th́ Tịnh
Độ Tông là pháp khó tin. Nếu ai có thể tin nhận
được đều là do huệ căn đă sẵn
có từ trước.
Nguyện Huệ biểu thị trí huệ rộng lớn,
đại nguyện vương của Phật Di Đà lại
được hỗ trợ bằng tín huệ của bậc
Chánh Sĩ, biểu thị Tịnh Độ dùng “tín, nguyện,
tŕ danh” làm Tông.
Hương Tượng là Bồ Tát từ cơi A Súc Phật
(Aksobhya) ở phương Đông đến,
Ngài từng ở trong hội Duy Ma làm người cùng nghe
pháp [với Bồ Tát Duy Ma Cật]. Thân hương tượng
tỏa ra mùi thơm, mùi nơi thân Bồ Tát này cũng thế.
Sức hương tượng rất mạnh biểu thị
Di Đà nguyện lực vô biên.
Bảo Anh biểu thị Di Đà nguyện hải trang
nghiêm bằng vô lượng công đức diệu bảo
có thể khiến cho phàm phu không có công đức được
mau chóng thăng lên địa vị Bất Thoái, chứng
nhập Niết Bàn. Đấy thật là thứ quư báu nhất
trong các báu nên nói là Bảo Anh.
Trung Trụ: An trụ trong Trung Đạo, chẳng rơi
vào hai bên (chấp Có, chấp Không), từ ngay nơi tướng
chính là đạo, ngay nơi sự tức là chân, tịnh
niệm nối tiếp, ở ngay nơi niệm ĺa
được niệm (đương niệm ly niệm)
là ư nghĩa của Trung Trụ.
Chế Hạnh biểu thị nghiêm tŕ tịnh giới,
ngừa ác làm lành. Hơn nữa, “Niệm Phật chính là tŕ giới” là ư nghĩa của
Chế Hạnh.
Giải Thoát biểu thị “trừ diệt kết
phược nên gọi là Giải Thoát”. Như kinh nói: “Thân độc độ thoát, hoạch
kỳ phước đức, khả đắc trường
thọ Nê Hoàn chi đạo” (Riêng thân ḿnh độ thoát
đạt được phước đức, đắc
đạo Nê Hoàn trường thọ) và “trị tư kinh giả, tùy ư sở nguyện giai khả
đắc độ” (kẻ gặp được kinh
này, tùy ư mong muốn đều được đắc
độ).
Câu “vi Thượng Thủ”
(làm Thượng Thủ) ngụ ư mười sáu vị
Đại Sĩ là Thượng Thủ của vô lượng
vô biên Bồ Tát tại gia cùng lúc đến dự hội.
Theo sách Hội Sớ và B́nh Giải th́:
- Phổ Hiền, Văn Thù là Thượng Thủ trong
pháp hội của Phật Thích Ca nên nêu tên hai vị Đại
Sĩ này để tổng nhiếp hết thảy Bồ
Tát.
- Di Lặc là Thượng Thủ của các Bồ Tát
tương lai thành Phật trong Hiền Kiếp.
- Mười sáu vị Chánh Sĩ như Hiền Hộ
v.v... là Thượng Thủ của hàng Bồ Tát tại
gia.
Thuyết này hợp lư nên tôi chẳng chấp nhận
thuyết của ngài Tịnh Ảnh. Ngài Tịnh Ảnh cho
rằng Văn Thù, Phổ Hiền cũng thuộc số
các Bồ Tát thành Phật trong Hiền kiếp.
Chánh kinh:
咸 共 遵 修 普 賢 大 士 之 德,具 足 無 量 行 願,安 住 一 切功 德 法 中。遊 步 十 方,行 權 方 便。入 佛 法 藏,究 竟 彼 岸。
Hàm cộng tuân tu Phổ Hiền Đại Sĩ chi
đức, cụ túc vô lượng hạnh nguyện, an trụ
nhất thiết công đức pháp trung, du bộ thập
phương, hành quyền phương tiện, nhập Phật
pháp tạng, cứu cánh bỉ ngạn.
Đều cùng tuân
tu đức của Đại Sĩ Phổ Hiền, đầy
đủ vô lượng hạnh nguyện, an trụ trong hết
thảy pháp công đức, du bộ thập phương,
hành quyền phương tiện, nhập Phật pháp tạng,
rốt ráo đến bờ kia.
Giải:
Trong phẩm này, từ câu “hàm
cộng tuân tu” (đều cùng tuân tu) cho đến câu cuối
cùng “bất khả tư nghị”
(chẳng thể nghĩ bàn) đều là khen ngợi
đức hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát và hết
thảy Bồ Tát trong hội.
“Đại Sĩ” tức là Bồ
Tát, tức là đại đạo tâm hữu t́nh. Sĩ là
sĩ phu, Đại như trong phần giảng về Đại
Đạo Tâm đă nói. Pháp hội kinh này lấy Phổ Hiền
Bồ Tát làm Thượng Thủ của hết thảy Bồ
Tát. Các vị khác như Văn Thù, Di Lặc, Hiền Hộ
v.v... các vị xuất gia, tại gia Bồ Tát và mười
phương vô lượng vô biên các đại Bồ Tát
đến nhóm hội đều tuân hành theo đức của
Phổ Hiền Đại Sĩ.
Phổ Hiền Đại Sĩ là Hoa Nghiêm trưởng tử.
Cốt lơi tột cùng của phẩm đức của Ngài
là mười đại nguyện vương dẫn về
Cực Lạc. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của
kinh Hoa Nghiêm nói mười đại nguyện rộng lớn
của Đại Sĩ như sau: Một là lễ kính chư
Phật, hai là khen ngợi Như Lai, ba là rộng tu cúng
dường, bốn là sám hối nghiệp chướng,
năm là tùy hỷ công đức, sáu là thỉnh chuyển
pháp luân, bảy là thỉnh Phật ở lâu nơi đời,
tám là thường học theo Phật, chín là hằng thuận
chúng sanh, mười là đều hồi hướng về
khắp tất cả. Mười nguyện như trên, nguyện
nào cũng nói:
“Ngă thử đại nguyện,
vô hữu cùng tận, niệm niệm tương tục, vô
hữu gián đoạn, thân ngữ ư nghiệp, vô hữu b́
yếm” (Đại nguyện
này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm nối
tiếp chẳng có gián đoạn. Thân, ngữ, ư nghiệp
chẳng có nhọc mỏi).
Phẩm Hạnh Nguyện c̣n nói:
“Ngă thử đại nguyện,
vô hữu cùng tận, niệm niệm tương tục, vô
hữu gián đoạn, thân ngữ ư nghiệp, vô hữu b́
yếm. Nhược nhân tụng thử nguyện giả…
thị nhân lâm mạng chung thời, tối hậu sát-na, nhất
thiết chư căn tất giai tán hoại, nhất thiết
thân thuộc tất giai xả ly, nhất thiết oai thế
tất giai thoái thất, phụ tướng, đại thần,
cung thành nội ngoại, tượng mă xa thặng, trân bảo
phục tạng, như thị nhất thiết, vô phục
tương tùy, duy thử nguyện vương bất
tương xả ly. Ư nhất thiết thời, dẫn
đạo kỳ tiền. Nhất sát-na trung tức đắc
văng sanh Cực Lạc thế giới. Đáo dĩ, tức
kiến A Di Đà Phật… Kỳ nhân tự kiến sanh liên
hoa trung, mông Phật thọ kư, đắc thọ kư dĩ,
kinh ư vô số bách thiên vạn ức na-do-tha kiếp, phổ
ư thập phương bất khả thuyết bất
khả thuyết thế giới, dĩ trí huệ lực tùy
chúng sanh tâm nhi vi lợi ích… Năng ư phiền năo đại
khổ hải trung, bạt tế chúng sanh, linh kỳ xuất
ly, giai đắc văng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc
thế giới” (Nếu ai tụng
nguyện này, người ấy lúc lâm chung, trong sát-na cuối
cùng, hết thảy các căn thảy đều tán hoại,
hết thảy thân thuộc thảy đều ĺa bỏ, hết
thảy oai thế thảy đều thoái thất. Phụ
tướng, đại thần, cung thành trong ngoài, voi, ngựa,
xe cộ, trân bảo, kho đụn, hết thảy các thứ
như thế không c̣n theo ḿnh nữa. Chỉ có nguyện
vương này chẳng hề ĺa bỏ, trong hết thảy
thời luôn dẫn đường đằng trước.
Trong một sát-na liền văng sanh Cực Lạc thế giới.
Đến nơi rồi, liền thấy A Di Đà Phật...
Người ấy tự thấy ḿnh sanh trong hoa sen,
được Phật thọ kư. Được thọ kư
xong, trải vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp,
khắp trong bất khả thuyết bất khả thuyết
thế giới ở mười phương, dùng sức
trí huệ tùy ḷng chúng sanh mà làm lợi ích... Có thể ở
trong biển phiền năo đại khổ cứu vớt
chúng sanh khiến cho họ được thoát ĺa, đều
được văng sanh thế giới Cực Lạc của
A Di Đà Phật).
Hơn nữa, nguyện thứ mười là “phổ
giai hồi hướng” hiển thị nghĩa chữ “Phổ”.
Từ nguyện lễ kính ban đầu đến nguyện
thứ chín “hằng thuận chúng sanh” hiển thị ư
nghĩa chữ Hiền.
Do đó, mười đại nguyện hiển thị
ư nghĩa danh xưng Phổ Hiền. Hiền là theo chiều dọc tột cùng ba đời,
Phổ là bao hàm trọn vẹn không sót.
Thanh Lương Sớ nói: “Với
quả không ǵ chẳng đạt đến cùng tột là
Phổ, chẳng bỏ tu nhân là Hiền”. Rơ ràng, Phổ
Hiền trong kinh này là Vị Hậu Phổ Hiền, cũng
tức là như Thiện Đạo đại sư nói là
tướng từ Quả hướng đến Nhân.
Hơn nữa, bài kệ của Phổ Hiền có câu: “Ngă kư văng sanh bỉ quốc
dĩ, hiện tiền thành tựu thử đại nguyện…
Phổ nguyện trầm nịch chư chúng sanh, tốc văng
Vô Lượng Quang Phật sát” (Tôi đă văng sanh cơi kia rồi, hiện tiền thành tựu
đại nguyện này... Nguyện tất cả các chúng
sanh đang bị ch́m đắm, chóng sanh về cơi Phật
Vô Lượng Quang), đúng
là ngài Phổ Hiền tự nói: Tôi đă văng sanh cơi Cực
Lạc kia rồi, thành tựu mười đại nguyện
đă phát, bèn dùng công đức hạnh nguyện thù thắng
hồi hướng cho chúng sanh đều cùng sanh sang Cực
Lạc.
“Phổ giai hồi hướng” thành tựu
nghĩa Phổ. Bốn mươi tám nguyện của Phật
Di Đà thâu tóm hết thảy chúng sanh chính là bổn nguyện
“phổ giai hồi hướng”. Mười đại
nguyện vương của Phổ Hiền chính là sự
diễn giảng rộng răi đại nguyện thứ ba
mươi lăm của Phật Di Đà. Nguyện rằng: “Sanh ngă quốc giả, cứu
cánh tất chí Nhất Sanh Bổ Xứ. Trừ kỳ bổn
nguyện vị chúng sanh cố, bị hoằng thệ khải,
giáo hóa nhất thiết hữu t́nh giai phát tín tâm, tu Bồ Tát
hạnh, hành Phổ Hiền đạo” (Kẻ sanh trong nước ta ắt rốt
ráo chứng Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ những ai do
bổn nguyện độ chúng sanh, mặc giáp hoằng thệ,
giáo hóa hết thảy hữu t́nh cho họ đều phát
tín tâm, tu Bồ Đề hạnh, hành Phổ Hiền đạo).
Do đó thấy được rằng: Đa số thánh
chúng trong hội đă từng sanh Cực Lạc mặc
giáp hoằng thệ, du hóa thập phương giúp Phật
hoằng hóa. Lần lượt giáo hóa, lần lượt
độ thoát như thế. V́ vậy, trong kinh này, vô
lượng vô biên hết thảy các Bồ Tát đều
tuân theo đức của Phổ Hiền Đại Sĩ.
“Cụ túc vô lượng
hạnh nguyện, an trụ nhất thiết công đức
pháp trung” (Đầy đủ vô
lượng hạnh nguyện, an trụ trong hết thảy
các pháp công đức): Hai câu này khen ngợi thật đức
của Đại Sĩ. “Vô lượng” là lớn, nhiều,
không cách nào đo lường nổi th́ gọi là “vô lượng”.
Sách Nhiếp Đại Thừa Luận Thích giảng: “Chẳng thể dùng thí dụ so
sánh để biết nổi th́ là vô lượng”.
“Hạnh” là các đại
hạnh như Lục Độ, Tứ Nhiếp v.v... “Nguyện”
là các nguyện thù thắng: Tứ Hoằng Thệ, mười
đại nguyện v.v... Nguyện để dẫn dắt
Hạnh. Hạnh để viên măn Nguyện. Hạnh như
chân, Nguyện như mắt, nương dựa lẫn
nhau.
“Cụ túc” là viên măn không
thiếu sót. Hạnh Nguyện Phẩm chép: “Văn thử nguyện vương, độc, tụng,
thư tả… thị chư nhân đẳng ư nhất niệm
trung, sở hữu hạnh nguyện giai đắc thành tựu”
(Nghe nguyện vương này, đọc, tụng, biên
chép... th́ những người ấy trong khoảng một
niệm tất cả hạnh nguyện đều
được thành tựu) chính là từ quả hướng
về nhân, dùng phương tiện thiện xảo của
Phật Di Đà để gia tŕ hồi hướng thành tựu
vô lượng hạnh nguyện siêu xuất các thánh vị
(địa vị thánh nhân) của Thập Địa.
“An trụ nhất thiết
công đức pháp trung” (An trụ trong hết thảy
pháp công đức): “Nhất
thiết công đức pháp” (hết thảy pháp công
đức) chỉ công đức vô tận của Phật
quả. Nhân Vương Kinh Sớ giảng: “Tặng cho chúng sanh gọi là Công, quy về ḿnh gọi
là Đức”. Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Công là công năng, các hạnh
đều có công năng lợi ích nên gọi là Công. Công này
là gia đức (đức vốn tự có sẵn) của thiện hạnh nên gọi
là công đức. Thể của đức gọi là pháp”.
“Pháp”: Tiếng Phạn
là Đạt Ma, chỉ chung cho hết thảy các thứ chẳng
luận là lớn hay nhỏ, hữu h́nh, vô h́nh, chân thật
hay hư vọng, là sự vật hay là đạo lư...
đều gọi là Pháp.
Duy Thức Luận nói: “Pháp
là quỹ tŕ”. Quỹ (軌) là khuôn phép có
thể giúp cho chúng sanh khởi lên kiến giải. Ví dụ:
“Vô thường” khiến cho chúng sanh khởi lên kiến giải
vô thường. “Tŕ” (持) là ǵn giữ, chẳng bỏ tự
tướng. Hết thảy các pháp mỗi thứ đều
có tướng của nó.
Câu “an trụ nhất thiết”
(an trụ hết thảy) được
Hội Sớ giảng như sau: “An trụ nghĩa là bất động. Đức thành
chẳng thoái nên bảo là an trụ. Không đức nào chẳng
đủ nên nói là hết thảy”.
Trong đoạn Hạnh Nguyện phẩm vừa dẫn
ở trên, câu “ư nhất niệm
trung, sở hữu hạnh nguyện giai đắc thành tựu”
(trong khoảng một niệm, tất cả hạnh
nguyện đều được thành tựu) ư nói: Trong
một niệm viên thành hạnh nguyện nên có thể an trụ
trong hết thảy pháp công đức của Như Lai Phật
quả.
“Du bộ thập
phương, hành quyền phương tiện”: Hai câu này khen ngợi
quyền đức của Đại Sĩ.
“Du bộ” (遊 步) có nghĩa là du hành và du hóa. “Thập
phương” là bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc
và bốn góc Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc hợp
thành tám phương; kể cả hai phương trên,
dưới thành ra mười phương. Chữ “thập
phương” biểu thị hết thảy nơi chốn
trong không gian. “Du bộ thập
phương” là thần thông du hư của Đại Sĩ, du
hành tự tại, hóa độ hết thảy chúng sanh
trong mười phương thế giới.
Trong câu “hành quyền
phương tiện”, chữ Quyền là đối với
Thật mà nói.
Quyền (權) có nghĩa là “quyền nghi” hay
“quyền biến”, người đời hay nói: “Thông quyền đạt biến”.
Quyền là tên khác của Phương Tiện. Sách Pháp Hoa
Văn Cú giảng: “Phương
là pháp, Tiện là dùng”. Nói một cách thô thiển,
Phương (方) là phương pháp, Tiện (便) là tiện lợi.
Xét trong Phật giáo, chữ Phương Tiện có
nghĩa như kinh Đại Tập dạy: “Năng điều chúng sanh, tất linh thú hướng
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, thị
danh phương tiện” (Có thể điều
phục chúng sanh khiến cho họ đều hướng
đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác th́ gọi
là Phương Tiện).
Lại như sách Pháp Hoa Huyền Tán giảng: “Thực hành, tạo tác là
Phương, khéo phù hợp cơ nghi là Tiện”.
Lại như Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Hóa hạnh (hạnh giáo hóa) khéo
léo, thích nghi với từng chúng sanh mà hiện ra các thứ
khác nhau th́ gọi là Quyền phương tiện”.
Tổng hợp ư kiến của những kinh luận
trên, ta thấy rằng: Dùng phương pháp khéo léo, ổn
thỏa, tiện lợi, khéo khế hợp căn cơ của
chúng sanh để dẫn dắt họ hướng đến
Quả Giác Cứu Cánh th́ gọi là “hành quyền” hoặc
“hành phương tiện”.
“Nhập Phật pháp tạng,
cứu cánh bỉ ngạn” (Nhập pháp tạng của Phật,
rốt ráo đến bờ kia): Ngài Gia Tường giảng
chữ Nhập (入) là “khế
giải tông nguyên”, Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Chứng hội là Nhập”.
Có thể thấy được rằng Nhập là khế
hội, chứng nhập, cũng chính là chữ Nhập
trong câu “nhập Phật tri kiến”
của kinh Pháp Hoa. Gia Tường sớ giảng chữ
“Phật pháp tạng” như sau: “Gọi
Lư là Tạng”, nghĩa là: Phật pháp tạng là Lư Thể
của pháp tánh. Pháp tánh hàm tàng vô lượng tánh đức
nên gọi là Phật pháp tạng.
Hơn nữa, pháp tánh hàm chứa, bao gồm hết thảy
Phật pháp nên gọi là “Phật pháp tạng”. V́ vậy, ư
nghĩa câu “nhập Phật
pháp tạng” giống như câu “thiện nhập Phật huệ, thông đạt
đại trí” (khéo nhập Phật huệ, thông đạt
đại trí) của kinh Pháp Hoa.
Ngoài ra, sách B́nh Giải căn cứ trên ư nghĩa từ
nhân hướng đến quả, giảng như sau: “Tạng báu hết thảy công
đức của Như Lai là công đức của Phật
quả. Biển báu lớn công đức ấy gọi là
Phật pháp tạng, tức là Nhất Thừa mà Phật
đă sở đắc”.
Luận thuyết của sách B́nh Giải chỉ rơ: Các vị
Bồ Tát trong hội này đều là bậc đại quyền
thị hiện từ quả hướng đến nhân,
đă nhập Nhất Thừa quả hải của Như
Lai, nhưng chẳng bỏ nhân hạnh nên đến hội
này nhằm tán trợ đức Thích Ca.
“Cứu cánh” (究 竟) nghĩa là đạt đến cùng cực.
Trí Độ Luận giảng chữ “bỉ ngạn” (bờ kia) như sau: “Chữ Ba-la, Hán dịch là bỉ
ngạn”. Lại nói: “Coi sanh
tử là bờ bên này, Niết Bàn là bờ bên kia”. Kinh Niết
Bàn cũng chép: “Bỉ ngạn
giả, dụ Như Lai dă” (Bờ kia là dụ cho Như
Lai).
V́ vậy, sư Tịnh Ảnh giảng chữ “cứu
cánh Niết Bàn” như sau: “Nêu
rơ quả tất cánh, đạt đến bờ kia Niết
Bàn th́ gọi là cứu cánh” (ư lời sớ nói: Thể
hiện rơ ràng giác quả cùng cực mà ḿnh đă chứng
đắc, đạt đến bờ kia Niết Bàn th́ gọi
là “cứu cánh”).
Theo sách B́nh Giải th́ [cứu cánh Niết Bàn] lại là
chứng nhập biển báu Nhất Thừa đại công
đức, khế hợp với Niết Bàn mà Phật
đă chứng đắc. Các vị Đại Sĩ này đă
viên chứng quả đức, từ quả hướng
đến nhân, tuân theo Phổ Hiền đức, hiện
khắp mười phương, đến trong pháp hội
để cùng hoằng dương Tịnh pháp.
Cư sĩ Bành Tế Thanh nói: “Hành quyền phương tiện, nhập Phật
pháp tạng, rốt ráo đến bờ kia, ư nghĩa của
ba câu này bao trọn pháp môn Tịnh Độ. Hết thảy sở hạnh của Bồ
Tát chẳng rời phương tiện. Do phương tiện
nên giữ lấy Tịnh Độ, thường được
thấy Phật. Do thấy Phật, nghe pháp, tu hành, nhập
Phật pháp tạng nên viên măn giác tâm, đạt đến
bờ kia một cách rốt ráo. Nếu không có phương
tiện th́ vô lượng hạnh môn trọn chẳng thành tựu như kinh Đại Bát Nhă dạy:
‘Thị Bồ Tát do dữ Bát Nhă Ba La Mật Đa
tương ứng cố, tùng thử xứ một, sanh
dư Phật độ. Tùng nhất Phật quốc,
chí nhất Phật quốc, tại tại sanh xứ,
thường đắc trị ngộ chư Phật Thế
Tôn, cúng dường cung kính, tôn trọng tán thán, năi chí Vô
Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, chung bất
ly Phật” (Bồ Tát này do
tương ứng với Bát Nhă Ba La Mật nên từ chốn
này chết đi, sanh trong cơi Phật khác. Từ một cơi
Phật này đến cơi Phật khác, nơi nơi, chốn
chốn, thường được gặp gỡ chư
Phật Thế Tôn để cung kính, cúng dường, tôn trọng,
tán thán, cho đến khi thành Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ
Đề trọn chẳng rời Phật). Nên biết: Muốn
chẳng rời Phật, phải lấy Niệm Phật
làm nhân như Thập Địa trong kinh Hoa Nghiêm, thủy chung
chẳng rời niệm Phật”.
Theo ông Bành, Bồ Tát độ sanh cần phải có
phương tiện. Phương tiện tối thắng
là dạy người ta niệm Phật. Niệm Phật
sanh về Phật quốc, thấy Phật, nghe pháp, trọn
chẳng rời Phật, nên nhập được Phật
pháp tạng, rốt ráo đến bờ kia. Ông Bành bàn
như vậy chứng tỏ đă lănh hội sâu xa ư chỉ
kinh này.
Chánh kinh:
願 於 無 量 世 界 成 等 正 覺。捨 兜 率,降 王 宮,棄 位 出家,苦 行 學 道,作 斯 示 現,順 世 間 故。以 定 慧 力,降 伏 魔怨。得 微 妙 法,成 最 正 覺。天 人 歸 仰,請 轉 法 輪。常 以 法音,覺 諸 世 間。破 煩 惱 城,壞 諸 欲 塹。洗 濯 垢 污,顯 明 清白。調 眾 生,宣 妙 理,貯 功 德,示 福 田。以 諸 法 藥,救 療 三 苦。昇 灌 頂 階,授 菩 提 記。為 教 菩 薩,作 阿 闍 黎,常 習 相 應 無 邊 諸 行。成 熟 菩 薩 無 邊 善 根,無 量 諸 佛 咸 共 護念。
Nguyện
ư vô lượng thế giới thành Đẳng Chánh
Giác, xả Đâu Suất, giáng vương cung, khí vị xuất
gia, khổ hạnh học đạo. Tác tư thị hiện, thuận thế
gian cố. Dĩ định huệ lực, hàng phục ma
oán, đắc vi diệu pháp, thành tối Chánh Giác. Thiên nhân
quy ngưỡng, thỉnh chuyển pháp luân. Thường
dĩ pháp âm, giác chư thế gian, phá phiền năo thành, hoại
chư dục tiệm, tẩy trạc cấu ô, hiển
minh thanh bạch. Điều chúng sanh, tuyên diệu lư, trữ
công đức, thị phước điền. Dĩ
chư pháp dược, cứu liệu tam khổ. Thăng
quán đảnh giai, thọ Bồ Đề kư. Vị giáo Bồ
Tát, tác A Xà Lê, thường tập tương ứng vô biên
chư hạnh, thành thục Bồ Tát vô biên thiện
căn. Vô lượng chư Phật hàm cộng hộ niệm.
Nguyện trong
vô lượng thế giới thành Đẳng Chánh Giác. Bỏ
Đâu Suất, giáng hạ vương cung, bỏ ngôi vị, xuất
gia, khổ hạnh học đạo. Thị hiện
như thế để thuận theo thế gian. Dùng sức
Định Huệ hàng phục ma oán, đắc vi diệu
pháp thành Chánh Giác cao tột. Thiên nhân quy ngưỡng, thỉnh
chuyển pháp luân. Thường dùng pháp âm giác ngộ các thế
gian, phá thành phiền năo, hoại các hào dục, rửa sạch
cấu ô, hiển minh thanh bạch. Điều ngự chúng sanh,
tuyên diệu lư, trữ công đức, bày phước
điền. Dùng các pháp dược cứu chữa ba khổ.
Lên địa vị quán đảnh, thọ kư cho Bồ
Tát. Để dạy Bồ Tát bèn làm A Xà Lê, thường tu tập
vô biên các hạnh tương ứng, thành thục Bồ Tát
vô biên thiện căn, vô lượng chư Phật đều
cùng hộ niệm.
Giải:
Hai câu cuối của đoạn trước: “Nhập Phật pháp tạng, cứu
cánh bỉ ngạn” (Nhập Phật pháp tạng, rốt
ráo đến bờ kia) là lần
thứ hai khen ngợi Thật Đức của bậc Đại
Sĩ. Đoạn kinh văn này và hai đoạn tiếp theo
sau lại khen ngợi Quyền Đức của Bồ Tát:
Trong khắp mười phương, thị hiện tám
tướng thành đạo thù thắng.
“Nguyện ư vô lượng
thế giới thành Đẳng Chánh Giác” (Nguyện trong vô lượng thế giới
thành Đẳng Chánh Giác): Nguyện (願) là thệ nguyện.
Sách Pháp Quật viết: “Mong cầu
đạo xuất thế là Nguyện”.
“Thế giới”: Thế (世) chỉ thời
gian, Giới (界) chỉ không gian. Kinh Thủ
Lăng Nghiêm nói: “Thế vi
thiên lưu, giới vi phương vị. Nhữ kim
đương tri, Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Bắc,
thượng hạ vi Giới. Quá khứ, vị lai, hiện
tại vi Thế” (Thế là dời
chuyển, Giới là phương vị. Nay ông nên biết:
Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, thượng, hạ
là Giới. Quá khứ, vị lai, hiện tại là Thế)
“Đẳng Chánh Giác” (等 正 覺) là chữ trong bản Đường
dịch, là cách dịch theo kiểu Tân dịch. Bản Ngụy
dịch ghi là Đẳng Giác, đó là Cựu dịch. Đẳng
Giác có hai nghĩa:
- Đẳng Giác là địa vị cùng tột của Bồ
Tát, sẽ đắc Diệu Giác Phật quả. Công đức,
trí huệ của bậc này gần tương
đương với Diệu Giác nên gọi là Đẳng
Giác. Đại sư Đàm Loan nói: “So
với Diệu Giác c̣n kém một bậc nên gọi là Đẳng
Giác”.
- Đẳng Giác là Phật quả. Sách Văng Sanh Luận Chú
giảng: “Do các pháp b́nh đẳng
nên các Như Lai b́nh đẳng. V́ vậy, chư Phật
Như Lai gọi là Đẳng Giác”.
Trí Độ Luận cũng viết: “Chư Phật b́nh đẳng nên gọi là Đẳng
Giác”. Sách Hội Sớ nói: “Đẳng
Giác có hai nghĩa: Một là Như Lai gọi là Đẳng Giác.
Hai là địa vị Nhất Sanh Bổ Xứ”.
Do đó, các nhà chú giải kinh đối với đoạn
kinh này cũng có hai cách giải thích:
- Một, Bồ Tát trụ địa vị Đẳng
Giác trong mười phương thị hiện tám tướng
thành đạo.
- Hai, đấy chính là Phật quả: Từ quả
hướng nhân, thị hiện tám tướng cho đến
lực dụng sau khi đă thành Phật.
Nói tóm lại, Đại Giác diệu dụng chẳng thể
nghĩ bàn, chẳng nên đối với hai thuyết này
cưỡng chấp một thuyết. Áp dụng cả hai
thuyết chẳng trở ngại nhau v́ chúng Bồ Tát
đông đảo ắt hẳn cảnh giới của họ
chẳng phải chỉ có một.
“Xả Đâu Suất, giáng
vương cung, khí vị, xuất gia, khổ hạnh học
đạo…” (Bỏ Đâu Suất,
giáng hạ vương cung, bỏ ngôi vị, xuất gia, khổ
hạnh học đạo) là tám tướng thành đạo.
Do địa vị chẳng chỉ có một nên thành ra
năm thứ. Sách B́nh Giải viết:
“1. Như phẩm Hiền Thủ
kinh Hoa Nghiêm và Khởi Tín Luận có nói: Bồ Tát trọn vẹn
địa vị Thập Tín, thị hiện tám tướng.
Kinh Chiêm Sát nói trong bốn loại thành Phật, loại thứ
nhất là Tín Măn sẽ làm
Phật.
2. Như trong kinh Đại Tập,
Quán Đảnh Trụ Bồ Tát (Bồ Tát đă viên măn các
địa vị thuộc Thập Trụ) có thể ở trong thế giới không có Phật thị
hiện tám tướng. Kinh
Chiêm Sát nói loại thứ hai thành Phật là Giải Măn sẽ
thành Phật.
3. Phẩm Giáo Hóa Bồ Tát của
kinh Nhân Vương nói tám tướng của bậc Sơ
Địa. Loại thứ ba thành Phật trong kinh Chiêm Sát là Chứng
Măn sẽ làm Phật.
4. Kinh Nhập Như Lai Trí Đức
Bất Tư Nghị nói Cứu Cánh Địa (Nhất Sanh Bổ
Xứ) thị hiện tám
tướng. Loại thứ tư thành Phật trong kinh
Chiêm Sát là hết thảy
công đức hạnh măn sẽ thành Phật.
5. Phẩm Bất Tư Nghị
kinh Hoa Nghiêm nói đến trí xuất
sanh trong mỗi niệm của chư Phật. Đó là Hậu
Đắc Trí của Phật xuất sanh thị hiện tám
tướng.
Trong năm loại này, bốn
loại trước là từ nơi nhân thị hiện. Loại
thứ năm là nghiệp dụng sau khi đă thành Phật.
Đa số các sư cho rằng
tám tướng thị hiện được nói đến
trong kinh này là loại thứ tư (Bổ Xứ) thành Phật. Nếu căn cứ
theo tông của kinh [Vô Lượng
Thọ] đây th́ tám tướng thành đạo không thể
thuộc loại thứ tư. Do được tạo
thành bởi phương tiện hồi hướng khéo léo
của Phật Di Đà cho nên nhân quả đều chẳng thể
nghĩ bàn. Nếu cưỡng luận, may ra chỉ có loại
thứ năm (đă thành Phật) là phù hợp”.
Do những ư kiến trên, ta thấy: Người thị
hiện tám tướng thành đạo có đến năm
địa vị. Một khuynh hướng cho rằng
đấy là tướng thị hiện của bậc Nhất
Sanh Bổ Xứ thành Phật, sách B́nh Giải thiên trọng
ư kiến “đă thành Phật”.
Các thuyết chẳng mâu thuẫn nhau, năm địa
vị cùng tồn tại nào trở ngại đến nhau?
Do có vô lượng vô biên Bồ Tát mười phương
đến nhóm hội, nên xét về mặt b́nh đẳng,
dẫu địa vị của họ sai biệt cũng
nào có trở ngại ǵ. Thêm nữa, “tám tướng thành
đạo” là lệ thường thị hiện thành đạo
của Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật và hết thảy
chư Phật. Hiềm v́ các kinh luận tách ra hay gộp lại
khác nhau nên thành khác biệt: Hoặc nói bảy tướng,
cho đến chín tướng, mười tướng. Ở
đây chỉ nói tám tướng là điều được
đa số các kinh, luận đề cập.
Ngay cả trong tám tướng, nội dung tám tướng
trong mỗi kinh, luận cũng chẳng giống nhau:
- Đại Thừa Khởi Tín Luận nói tám tướng
là: Từ trời Đâu Suất giáng hạ, nhập thai, trụ
thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp
luân, nhập Niết Bàn.
- Nhưng trong Tứ Giáo Nghi, tám tướng lại là:
Từ trời Đâu Suất giáng hạ, gá thai, sanh ra, xuất
gia, hàng ma, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết
Bàn.
So sánh hai thuyết này th́ sách Tứ Giáo Nghi tách tướng
“thành đạo” của luận Khởi Tín ra làm hai: hàng ma
và thành đạo, gộp hai tướng “nhập thai” và
“trụ thai” của luận Khởi Tín thành “gá thai”. Rơ ràng,
hai thuyết này chỉ v́ tách ra hay gộp lại nên thành ra
bất đồng, chứ nội dung chẳng khác.
Gia Tường Sớ dựa theo sách Tứ Giáo Nghi phán
định tám tướng thành đạo rất phù hợp
với bản hội tập kinh này; do vậy, tôi dùng thuyết
của Gia Tường Sớ:
“Xả Đâu Suất” (Bỏ cơi trời
Đâu Suất) là tướng thứ nhất. “Giáng vương cung” là tướng thứ hai và
thứ ba. “Khí vị, xuất
gia, khổ hạnh học đạo” (Bỏ ngôi vị,
xuất gia, khổ hạnh học đạo) là tướng
thứ tư. “Hàng phục ma
oán” là tướng thứ năm. “Thành tối Chánh Giác” là tướng thứ sáu. “Thỉnh chuyển pháp luân, thường
dĩ pháp âm, giác chư thế gian” (Thỉnh chuyển
pháp luân, thường dùng pháp âm, giác ngộ các thế gian)
cho đến các câu tiếp theo đó là tướng thứ
bảy. Trong đoạn kế tiếp, câu “ư thử
trung hạ, nhi hiện diệt độ” (trong hạng trung hạ căn, hiện diệt
độ) là tướng thứ tám.
“Xả Đâu Suất” là tướng
thứ nhất: Từ trời Đâu Suất giáng hạ.
Đâu Suất (Tushita) hoặc Đâu Thuật, Đổ Sử Đa
vốn là một chữ, chỉ dịch âm sai khác, có
nghĩa là Diệu Túc, Tri Túc, Hỷ Túc v.v... Đó là tầng trời
thứ tư trong Dục giới, nội viện hiện
là Tịnh Độ của Di Lặc Đại Sĩ. Ngoại viện
là chốn dục lạc của thiên chúng. Phẩm Thuyết
Pháp Môn của kinh Phổ Diệu nói:
“Kỳ Đâu Thuật thiên, hữu
đại thiên cung, danh viết Cao Tràng, quảng trường
nhị thiên ngũ bách lục thập lư, Bồ Tát thường
tọa, vị chư thiên nhân, phu diễn kinh pháp” (Trời Đâu Thuật có đại thiên cung tên là
Cao Tràng rộng lớn hai ngàn năm trăm sáu mươi dặm.
Bồ Tát thường ngự ở đó, v́ các vị trời
phô diễn kinh pháp). Quyển thứ năm Phật Địa
Luận chép: “Hậu thân Bồ
Tát giáo hóa trên trời Đổ Sử Đa”. Hậu thân Bồ
Tát tức là Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát. Trong thế
giới này, quá khứ, vị lai hiện tại, tam thế
bổ xứ Đại Sĩ đều từ cơi trời này
giáng hạ.
“Giáng vương cung” là giáng sanh vào
vương cung, gộp cả tướng thứ hai “gá
thai” và tướng thứ ba “xuất sanh”. Kinh Nhân Quả
chép đức Bổn Sư Thích Ca gá thai như sau:
“Ư thời, Ma Da phu nhân ư
miên ngụ chi tế, kiến Bồ Tát thừa lục nha
tượng, đằng không nhi lai, tùng hữu hiếp nhập.
Thân hiện ư ngoại, như xử lưu ly” (Khi ấy, Ma Gia phu nhân trong khi ngủ say thấy
Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà từ trên không hạ
xuống, chui vào hông phải. Thân hiện bóng ra ngoài như
đang ở trong lưu ly). C̣n như khi sanh ra th́ như
kinh Niết Bàn tả: “Tùng mẫu
Ma Da nhi sanh, sanh dĩ, tức châu hành thất bộ” (Từ mẹ là Ma Gia mà sanh. Sanh xong, liền
bước khắp nơi, mỗi nơi bảy bước”. “Châu hành” là bước đủ
cả mười phương: bốn góc, trên, dưới…
Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Trong thập phương, mỗi phương đều
bước bảy bước, thị hiện sức
trượng phu phấn tấn, trong mười
phương độc xuất vô úy”.
Bản Ngụy dịch c̣n chép: “Tùng hữu hiếp sanh” (Sanh từ hông phải).
Sách Thích Ca Phổ cũng chép: “
Bồ Tát tiệm tiệm tùng hữu hiếp sanh” (Bồ
Tát được dần dần sanh ra từ hông phải của
mẹ) .
“Khí vị, xuất gia, khổ
hạnh học đạo” là tướng xuất gia thứ
tư. Bản Ngụy dịch chép tỉ mỉ, nguyên
văn như sau:
“Hiện xử cung trung sắc
vị chi gian, kiến lăo bệnh tử, ngộ thế phi
thường, khí quốc tài vị, nhập sơn học
đạo, phục thừa bạch mă, bảo quan, anh lạc,
di chi linh hoàn, xả trân diệu y, nhi trước pháp phục.
Thế trừ tu phát, đoan tọa thọ hạ, cần
khổ lục niên, hành như sở ứng” (Thị hiện sống trong vương cung,
trong khoảng sắc vị[2].
Thấy già, bịnh, chết, hiểu đời vô thường,
bỏ đất nước, của cải, ngôi vị,
vào núi học đạo, cưỡi ngựa trắng. Măo
báu, chuỗi ngọc, sai người đem trả về.
Bỏ áo quư đẹp để khoác pháp phục, gọt sạch
râu tóc, ngồi đoan nghiêm dưới cội cây, siêng khổ
sáu năm, thực hành điều nên làm).
Kinh Phổ Diệu chép: “Nhĩ thời
Thái Tử nhật phục nhất ma, nhất mạch, lục
niên chi trung, kết già phu tọa” (Khi ấy, Thái Tử ngày ăn một hạt mè, một
hạt lúa mạch. Trong sáu năm, ngồi xếp bằng) tu tập hạnh gian nan siêng
khổ.
“Tác tư thị hiện,
thuận thế gian cố” (Thị hiện như thế
để thuận theo thế gian): Câu này xuất phát từ
bản Đường dịch, hiển thị sâu xa huyền
chỉ kinh Pháp Hoa. Phẩm Thọ Lượng kinh Pháp Hoa
chép:
“Nhất thiết thế gian
thiên nhân cập A Tu La, giai vị kim Thích Ca Mâu Ni Phật, xuất
Thích thị cung, khứ Già Da thành bất viễn, tọa
ư đạo tràng, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề, nhiên thiện nam tử, ngă thật thành
Phật dĩ lai, vô lượng vô biên, bách thiên vạn ức
na-do-tha kiếp… Tự tùng dĩ lai, ngă thường tại
thử Sa Bà thế giới, thuyết pháp giáo hóa, diệc
ư dư xứ, bách thiên vạn ức na-do-tha A-tăng-kỳ
quốc, đạo lợi chúng sanh… Như Lai kiến
chư chúng sanh, nhạo ư tiểu pháp, đức bạc,
cấu trọng giả, vị thị nhân thuyết, ngă thiểu
xuất gia, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề. Nhiên ngă thành Phật dĩ lai, cửu viễn
nhược tư. Đản dĩ phương tiện
giáo hóa chúng sanh, linh nhập Phật đạo, tác như thị
thuyết” (Hết thảy
thế gian trời, người, A Tu La đều cho rằng
Thích Ca Mâu Ni Phật nay bỏ cung họ Thích đến
thành Già Gia chẳng xa, ngồi đạo tràng đắc Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nhưng này thiện nam tử!
Thật ra, ta từ khi thành Phật đến nay đă là
vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp...
Từ đấy trở đi, ta thường trụ trong
thế giới Sa Bà này thuyết pháp giáo hóa, cũng ở
nơi khác, trong trăm ngàn vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ
cơi, dạy dỗ lợi ích chúng sanh.... Như Lai thấy
các chúng sanh ưa thích pháp nhỏ, đức mỏng, cấu
nặng, nên v́ kẻ ấy nói: ‘Ta xuất gia không lâu liền
đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác’. Nhưng thật
ra từ khi ta thành Phật đến nay đă lâu xa dường
ấy, chỉ v́ phương tiện giáo hóa chúng sanh cho họ
nhập Phật đạo mà nói như thế). Đối chiếu hai kinh, tin chắc
đức Bổn Sư thị hiện tám tướng
thành đạo chỉ v́ tùy thuận căn cơ của
chúng sanh trong thế gian, hành phương tiện quyền
biến khiến cho khắp tất cả đều
được độ thoát mà thôi. Thật ra, đức
Thích Tôn đă thành Phật từ rất lâu.
“Dĩ Định Huệ lực,
hàng phục ma oán” (Dùng sức Định Huệ hàng phục ma
oán): Câu này cũng trích từ bản Đường dịch,
là tướng hàng ma thứ năm. Ma là tiếng gọi tắt
của chữ Phạn “Ma La” (Māra), Hán dịch là
Chướng Ngại v́ nó hay gây chướng ngại cho
người tu đạo, cũng dịch là Sát Giả (kẻ
giết chóc) v́ làm hại sự lành của người ta,
và cũng bởi do nó thường hành phóng dật, đoạn
huệ mạng. Ma La c̣n dịch là Ác Giả (kẻ ác) v́ lắm
ái dục. Có bốn loài ma, ngài Tịnh Ảnh nói:
“Một là Phiền Năo Ma tức
là tham, sân v.v... hay hại thiện pháp. Hai là Ấm Ma, tức
là thân Ngũ Ấm hoại diệt lẫn nhau. Ba là Tử
Ma hoại được mạng căn. Bốn là Thiên Ma
thích hủy hoại sự lành của người khác”. Loài ma bị
hàng phục trong kinh này là Thiên Ma.
Bà Sa Luận (tức Tỳ Bà Sa Luận) chép: “Xưa kia, Bồ Tát ở dưới
gốc Bồ Đề, đầu đêm ma nữ đến
quấy nhiễu, nửa đêm ma quân cùng đến bức
năo... Trong khoảnh khắc, [Bồ Tát] quán sát thấy vậy,
liền nhập Định khiến cho binh chúng của ma
tan bại, đọa lạc”.
Sách Tây Vực Kư cũng chép: “Nhóm
các thần chúng, tề chỉnh ma quân, sắp bày quân
ngũ, kéo đến bức bách Bồ Tát. Bồ Tát ngay khi
ấy nhập đại từ định. Binh khí của
chúng đều biến thành hoa sen, quân ma hoảng loạn,
thất bại, rùng rùng thua
chạy”.
Các đoạn trích dẫn trên đều nói về
định lực của Bồ Tát.
Lại như Trí Độ Luận chép: “Bồ Tát do sức trí huệ đại phá ma quân”
là nói về huệ lực của Bồ Tát. V́ vậy, kinh
này chép: “Dĩ Định Huệ
lực, hàng phục ma oán” (Dùng sức Định Huệ
hàng phá ma oán). Chữ “oán” chỉ oán gia.
“Đắc vi diệu pháp, thành
tối chánh giác”: Hai câu này là
tướng thành đạo thứ sáu.
“Vi diệu” là như kinh
Duy Ma nói: “Vi diệu
thị Bồ Đề, chư pháp nan tri cố” (Vi diệu là Bồ Đề v́ các pháp khó biết).
Bồ Đề là tri kiến của Phật, cũng chính là Thật
Tế Lư Thể, là tự tánh của đương nhân.
Kinh dạy: “Phi thị
ngữ ngôn phân biệt chi sở năng tri” (Chẳng phải do ngữ ngôn, phân biệt mà
ḥng biết được nổi) nên nói là “vi diệu khó biết” và “vi diệu thị Bồ Đề” (vi diệu là
Bồ Đề). Tịnh Ảnh Sớ cũng viết: “Lư là diệu pháp, do đắc
pháp này nên thành Chánh Giác”. Lư chỉ cho Thật Tế Lư Thể
nên ư câu này cũng giống với đoạn kinh vừa
nêu trên. Thêm nữa, kinh Trường A Hàm nói: “Như Lai đại trí, vi diệu
độc tôn” (Đại trí của Như Lai vi diệu
độc tôn).
Gộp tất cả các ư trên th́ “đắc
vi diệu pháp” là khế hợp với Phật Trí của
đức Thế Tôn, nhập diệu lư Thật Tướng,
chứng Bồ Đề chánh chân nên thành Chánh Giác. Chánh Giác là Thật
Trí của Như Lai. V́ vậy, thành Phật là thành Chánh Giác.
“Tối Chánh Giác” là sự giác ngộ
vô thượng cứu cánh viên măn của Phật như sách
Thích Ca Phổ giảng: “Đắc
đạo vô thượng chánh chân là Tối Chánh Giác”.
Sách Hội Sớ giải: “Giác
ngộ tột bậc nên nói là thành Tối Chánh Giác”. Thành
Tối Chánh Giác là rốt ráo thành Phật.
Câu “thiên nhân quy ngưỡng,
thỉnh chuyển pháp luân” và các câu tiếp theo đó là
tướng thứ bảy.
“Thiên nhân” là những kẻ thuộc thiên đạo. “Quy”
(歸) là quy kính, “ngưỡng” (仰) là khâm ngưỡng.
Trí Độ Luận chép: “Ngay
sau khi đức Thích Ca Văn Phật thành đạo, trong
năm, bảy ngày im lặng chẳng thuyết pháp, tự
nhủ: ‘Pháp ta rất sâu, khó hiểu, khó biết, hết thảy
chúng sanh bị pháp thế tục trói buộc nên chẳng thể
hiểu nổi, chi bằng ta yên lặng nhập niềm
vui Niết Bàn’. Ngay khi ấy,
các vị Bồ Tát và Thích Đề Hoàn Nhân, Phạm thiên
vương, chư thiên chắp tay kính lễ, thỉnh Phật
v́ các chúng sanh chuyển pháp luân lần đầu. Khi đó, đức Phật im lặng
nhận lời thỉnh, đến rừng Nai nơi thành
Ba La Nại chuyển pháp luân”.
Kinh Pháp Hoa cũng chép: “Nhĩ thời
chư Phạm vương cập chư thiên Đế Thích,
Hộ Thế tứ thiên vương, cập Đại Tự
Tại thiên, tịnh chư dư thiên chúng, quyến thuộc
bách thiên vạn, cung kính hiệp chưởng lễ, thỉnh
ngă chuyển pháp luân” (Khi ấy, các Phạm
vương, và các trời Đế Thích, Hộ Thế Tứ
thiên vương, cùng Đại Tự Tại thiên và các chúng trời
khác, quyến thuộc trăm ngàn vạn, cung kính chắp
tay lễ, thỉnh ta chuyển pháp luân).
Chữ “Pháp Luân” chỉ giáo pháp của Phật. Diễn
thuyết giáo pháp của Phật gọi là Chuyển Pháp
Luân. “Luân” (輪) chính là luân bảo (bánh xe báu) của
Chuyển Luân Thánh Vương xoay chuyển trong tứ thiên
hạ, đè bẹp các oán địch. V́ vậy, nó thường
được ví với giáo pháp của Phật: cũng
lưu chuyển trong hết thảy chúng sanh giới, phá trừ
các phiền năo.
Sách Pháp Hoa Văn Cú viết: “Chuyển
pháp hóa độ người khác từ nơi tâm Phật
khiến cho nó lọt vào tâm người khác gọi là Chuyển
Pháp Luân”. Sư Gia Tường nói: “Từ ḿnh đem đến người khác nên nói là
Chuyển”. Ngoài ra, sách Thám Huyền Kư giảng chữ
“pháp luân” như sau:
“Pháp nghĩa là Quỹ Tŕ,
nói chung có bốn nghĩa là Giáo, Lư, Hạnh, Quả. Luân là
cái được thành tựu, cũng có bốn nghĩa:
1. Viên măn: Do chẳng khuyết giảm.
2. Đức đầy đủ:
Do các tướng: vành, đùm, căm... đều đầy
đủ.
3. Hữu dụng: Do nghiến
nát các Hoặc chướng.
4. Chuyển động:
Nghĩa là từ đây tới kia, tức là từ Phật
chuyển tới chúng sanh. Cũng có nghĩa là từ kia
hướng đến đây, tức là từ chúng sanh
đạt đến Phật quả”.
“Thường dĩ pháp âm giác
chư thế gian” (Thường
dùng pháp âm giác ngộ các thế gian): Từ câu này trở
đi, cho đến trước câu “ư thử trung hạ, nhi hiện diệt độ”
(trong hạng trung, hạ ấy mà hiện diệt độ) đều
nói về tướng Chuyển Pháp Luân.
“Pháp âm” chỉ chung tất
cả giáo pháp của Như Lai chẳng giới hạn
trong thanh âm, ngôn ngữ. Ấy là v́ đức Thế Tôn
thuyết pháp th́ vi trần nói, hoặc cơi nước nói,
nói một cách mạnh mẽ, nói không gián đoạn, lúc nói
là thuyết pháp, mà lúc im lặng cũng là thuyết pháp, chẳng
phải chỉ hữu t́nh nói mà vô t́nh cũng nói. V́ vậy,
chẳng thể cho rằng pháp âm chỉ thu hẹp trong ngôn
giáo của đức Thế Tôn.
Đại sư La Thập giảng chữ “thế gian”
như sau: “Thế gian là tam giới”,
tức là Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới.
Đức Thế Tôn sau khi nhận lời thỉnh, cả
một đời diễn giảng đủ các pháp Đại,
Tiểu, Quyền, Thật, Thiên, Viên để đánh thức
hết thảy chúng sanh trong tam giới, nên nói là: “Thường dĩ pháp âm giác ngộ
chư thế gian”. Đây chính là tổng tướng của
Chuyển Pháp Luân.
Câu “phá phiền năo thành” (phá thành phiền năo)
trích từ bản Đường dịch. Phiền Năo là
tham, sân, si v.v... phiền tâm năo thân nên gọi là “phiền
năo”. Hơn nữa, mười thứ tham, sân, si, mạn,
nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới
thủ được gọi là mười phiền năo.
Tông Thiên Thai gọi ba thứ Hoặc: Kiến Tư, Trần
Sa, Vô Minh, là ba phiền năo. Trí Độ Luận chép: “Phiền năo khiến cho tâm phiền
v́ nó gây năo loạn”.
“Thành” (城) là thành tŕ. Phật diễn diệu
pháp phá tan thành lũy phiền năo trong thân tâm chúng sanh nên kinh
nói: “Phá phiền năo thành”.
Tịnh Ảnh Sớ giảng câu “hoại chư dục tiệm” (hoại các hào dục) như sau: “Tâm ái dục sâu thẳm khó vượt được
nên gọi là Hào, dạy đoạn trừ [tâm ái dục]
khiến cho nó tan nát”.
Sách B́nh Giải viết: “Hoại
chư dục tiệm (hoại các hào dục) là bỏ dục tâm. Ái dục là gốc các khổ.
Ḍng dục sâu rộng chúng sanh ch́m đắm trong ấy khó
vượt qua được nên gọi là Hào. Sách Tự Uyển
giảng: ‘Tiệm (塹) là mương nước lớn
bao quanh thành’. Gươm Phật pháp chặt nát tan hào
lũy dục”.
Sách Hội Sớ giảng câu
“tẩy
trạc cấu ô, hiển minh thanh bạch” (rửa sạch cấu ô, hiển minh thanh bạch)
như sau:
“Coi ái phiền năo dường
như cấu ô (bẩn thỉu), Không Huệ trừ
được [phiền năo] nên cũng như là ‘tẩy trạc’
(rửa sạch). Trừ tà hiển chánh là ‘hiển minh’. Do
ǵn giữ pháp thành nên bảo là ‘thanh bạch’. Vượt
khỏi các hủy báng nên nói là thanh bạch”.
Chữ “pháp thành” trong đoạn văn trên ám chỉ
Trí Đoạn Quả như sách Hợp Tán viết: “Trí đoạn quả gọi là
pháp thành”. Gia Tường Sớ ghi: “Trừ bỏ mê cấu nên nói là tẩy trạc… Hiểu
được vô tướng là vô lậu minh, v́ vậy bảo
là thanh bạch”.
Sách B́nh Giải cũng viết: “Rửa sạch cấu ô, hiển minh thanh bạch là
đức tính của mưa xối. Mưa có khả
năng rửa sạch bụi nhơ của các vật, có
đức tính hiển hiện cái Thể thanh bạch. Pháp luân của Như Lai
rửa sạch bụi nhơ trần lao, khai hiển tịnh
thể sẵn có”.
So với hai cách giải thích trên đây của Gia Tường
Sớ và sách B́nh Giải th́ cách hiểu chữ “thanh bạch”
của sách Hợp Tán hay hơn. Tổng hợp các cách giải
thích trên th́ “thanh bạch” là Trí Đoạn Quả, là vô lậu
minh, là tịnh thể vốn có. Nếu nh́n theo quan điểm
Thiền môn, “tẩy trạc cấu ô” chính là “hồi thoát
căn trần” (thoát khỏi Căn và Trần), “hiển
minh thanh bạch” là “linh quang độc diệu”. Quy về
Tịnh Tông: “Đô nhiếp lục
căn” (cùng nhiếp sáu căn) là “tẩy trạc cấu
ô”, “tịnh niệm tiếp nối” và “tự được
tâm khai” là “hiển minh thanh bạch”. V́ “một tiếng Phật
hiệu là một tiếng tâm”, Niệm
Phật chính là Thỉ Giác hợp với Bổn Giác vậy.
“Điều chúng sanh, tuyên diệu
lư”:
“Điều” (調) là điều ḥa. “Chúng sanh” là hết thảy hữu t́nh. Tuyên (宣) là chỉ bày. “Diệu lư” là Lư Thể của
Thật Tướng, cũng chính là “Phật tri kiến” của
kinh Pháp Hoa. Khai Phật tri kiến, thị Phật tri kiến
chính là “tuyên diệu lư” khiến
cho hết thảy hữu t́nh ngộ Phật tri kiến; nhập
Phật tri kiến là “điều chúng sanh”. Điều ḥa dây
đàn khiến nó phát ra đúng âm thanh, điều ḥa chúng
sanh khiến họ khế hợp Trung Đạo. Pháp môn Tịnh
Độ là tri kiến Phật, tŕ danh niệm Phật là ḥa hợp
vào Trung Đạo.
“Trữ công đức, thị phước
điền”: “Trữ” (貯) là tích chứa. “Phước điền”: Ruộng
gieo lúa của thế gian gọi là “đạo điền”
(稻 田: Ruộng cấy
lúa), dùng ngay h́nh ảnh ấy làm thí dụ, chỗ để
chúng sanh gieo phước th́ gọi là “phước điền”.
Tịnh Ảnh Sớ viết:
“Tích chứa nhiều đức
gọi là ‘trữ công đức’. Thị hiện nhận
lănh vật cúng dường nên gọi là Thị (示). Sanh phước thiện
cho đời như ruộng sanh ra các vật nên gọi là
Phước Điền”.
Sách B́nh Giải viết: “Phước
Điền là cúng dường Như Lai, vật thí tuy nhỏ
nhưng được phước rộng lớn; giống
như ruộng tốt, tuy gieo ít giống, thâu hạt rất
nhiều. Kinh Bồ Đề Bổn Sanh nói: ‘ Sở dĩ Phật
vi phước điền, trữ vô thượng công đức
cố dă’ (Sở dĩ Phật là phước điền
là v́ chứa công đức vô thượng)”.
Các cách giải thích trên đây đều phù hợp ư
kinh này. Hơn nữa, luận Câu Xá nói có bốn thứ
phước điền:
- Thú điền: tức là súc sanh.
- Khổ điền: người bần cùng khốn khổ.
- Ân điền như cha mẹ v.v…
- Đức điền: thánh hiền trong tam thừa.
Đấy là nghĩa rộng của phước điền.
“Dĩ chư pháp dược,
cứu liệu tam khổ” (Dùng các pháp dược, cứu chữa
ba khổ): Chư Phật
độ sanh theo bệnh cho thuốc. Thuốc ví với diệu
pháp của Như Lai, bệnh ví cho chúng sanh tật khổ
như kinh Niết Bàn nói: “Độ
chúng sanh cố, vị thuyết vô thượng vi diệu
pháp” (V́ độ chúng sanh
nên nói pháp dược vi diệu vô thượng).
“Tam khổ” là:
1. Khổ khổ: Do việc khổ xảy đến
nên sanh phiền năo.
2. Hoại khổ: Do pháp vui mất đi mà sanh khổ
năo.
3. Hành khổ: Hành (行) nghĩa là dời
chuyển. Do hết thảy đều dời chuyển, vô
thường nên sanh khổ năo.
Gia Tường Sớ viết: “Sự khổ trong tam hữu (tức là sanh tử
trong ba cơi) gọi là tam khổ”.
Sách B́nh Giải cho rằng lời giải thích của sư
Gia Tường thỏa đáng v́ trừ diệt cái khổ
sanh tử trong ba cơi rất phù hợp với tông chỉ của
Tịnh tông.
Sách B́nh Giải giảng đoạn văn trên như
sau: “Như Lai đại y
vương biết được bệnh, tùy theo bệnh
cho thuốc, trị cái khổ trong ba cơi. Bệnh có nhiều
loại nên pháp dược cũng nhiều. V́ vậy, nói là
các pháp dược”.
“Thăng quán đảnh
giai” (Lên địa vị quán đảnh - Câu này trích từ
bản Đường dịch): “Giai” (階) là địa
vị. Quán Đảnh là ở Ấn Độ vào thời cổ,
khi quốc vương lên ngôi, lấy nước bốn biển
rưới[3]
lên đảnh đầu vua. Mật Giáo cũng giống
như thế, có pháp Quán Đảnh. Quán Đảnh có nhiều
loại, nói giản lược th́ có hai thứ:
1. Kết Duyên Quán Đảnh: Để hành nhân cầu
pháp được kết duyên với Phật, dẫn hành
nhân vào đàn, truyền cho ấn và chân ngôn của Bổn
Tôn[4].
Từ đấy trở đi, hành nhân có thể
nương theo lời dạy, tùy sức tu tập. Đó là Kết
Duyên Quán Đảnh.
2. Thọ Chức Quán Đảnh: Để bậc
tích chứa công hạnh đúng pháp được phép truyền
thọ bí pháp, nên làm pháp Quán Đảnh. Được quán
đảnh xong, người ấy kham làm thầy dạy,
làm bậc A Xà Lê trong Mật pháp. Đấy là Thọ Chức
(hoặc truyền giáo) Quán Đảnh.
Đó chỉ là phân chia một cách đại lược. Nếu
bàn tỉ mỉ th́ với hai loại Quán Đảnh vừa
nói trên, lại có bốn cách Quán Đảnh thường
được sử dụng:
1. B́nh quán: Được tùy ư tu tập cách sanh khởi
theo thứ lớp.
2. Mật quán: Được tùy ư tu tập về
các khí mạch, minh điểm[5].
3. Huệ quán: Được tự tại tu tŕ Bồ
Đề tâm quyết.
4. Đại Thủ Ấn quán: Được tự
tại tu tŕ pháp môn Đại Thủ Ấn (Mahamudra).
Mật Giáo đặt nặng vấn đề truyền
thừa: Chưa qua Quán Đảnh chẳng được
tự tiện tu tập; các nghi quỹ, kinh điển
cũng chẳng được tự tiện đọc.
Ngoài ra, Quán Đảnh c̣n phân biệt giữa Sơ Vị
và Hậu Vị như quyển thứ mười lăm Đại
Nhật Kinh Sớ giảng:
“Ví như ḍng Sát-lợi trong
thế gian muốn kế tục ngôi vị để ḍng
vua chẳng dứt, phải quán đảnh cho đích tử:
Lấy nước bốn biển đựng vào bốn
cái b́nh báu... giội lên đầu Thái Tử. Giội nước
ấy xong, lớn tiếng xướng ba lần: ‘Mọi người nên biết:
‘Thái Tử đă nhận lănh địa vị xong. Từ
nay trở đi, với tất cả mệnh lệnh của
Ngài đều phải phụng hành’. Nay đấng Như
Lai Pháp Vương cũng giống như vậy, muốn
cho ḍng Phật chẳng đoạn, nên dùng cam lộ pháp thủy
rưới lên đảnh Phật
tử... Từ đây trở đi, hết thảy thánh
chúng đều phải kính ngưỡng, cũng phải biết
rằng người này rốt ráo chẳng thoái thất vô
thượng Bồ Đề, quyết định kế tục
địa vị Pháp Vương của Như Lai”.
Cách giải thích trong đoạn sớ văn trên
đây là xét theo hành nhân thuộc Sơ Vị.
C̣n với hạng Hậu Vị th́ như sách Bí Mật
Kư giảng: “Bồ Tát từ
Sơ Địa đến Đẳng Giác lúc gần đạt
quả Phật cứu cánh, chư Phật dùng nước
đại bi quán đảnh, tự hạnh liền viên
măn, chứng đắc Phật quả là nghĩa của chữ
Đảnh”.
Quyển bảy của sách Bí Tạng Kư Sao viết: “Quán nghĩa là đại bi hộ
niệm. Đảnh nghĩa là Phật quả cao tột nhất.
Chư Phật hộ niệm
làm cho trụ nơi Phật đảnh đều gọi
là Quán Đảnh”.
Nay kinh này
chép: “Thăng Quán Đảnh
giai” (Lên địa vị Quán Đảnh), nếu xét về
các bậc Đại Sĩ trong hội th́ là Hậu Vị, c̣n
về phía chúng sanh được dạy dỗ th́ người
được Quán Đảnh là Sơ Vị.
“Thọ Bồ Đề kư”: Thọ (授) nghĩa là trao
cho. Kư (記) là ghi biết, cũng có nghĩa là huyền
kư. Phật đối với chúng sanh đă phát đại
tâm trao lời huyền kư “tương lai quyết định
thành Phật” th́ gọi là “thọ kư”.
Ngài Cảnh Hưng bảo: “Đức
thánh nói đương quả (quả trong tương
lai) khiến cho biết
được nhân lợi (cái lợi do tu nhân) th́ gọi là thọ kư”.
Nghĩa là: Đức Phật tiên đoán tương lai sẽ
thành quả Phật khiến cho hành nhân ngay khi ấy biết
được cái lợi của việc tu nhân của chính
ḿnh, làm cho hành nhân biết được rằng cái nhân Bồ
Đề hiện tại quyết định trở thành cái
quả thành Phật, nên gọi là Thọ Kư.
Ư của câu “thọ Bồ Đề kư” trong
kinh là
các bậc Đại Sĩ trong hội đều được
thọ kư quyết định sẽ thành Phật. Lại
c̣n hàm ư: Các vị Đại Sĩ này rộng v́ chúng sanh thọ
kư thành Phật.
“Vị giáo Bồ Tát, tác A Xà
Lê, thường tập tương ứng vô biên chư hạnh”
(V́ dạy Bồ Tát mà làm A Xà Lê, thường
tu tập vô biên các hạnh tương ứng): A Xà Lê
(Acarya) dịch là Giáo Thọ, cũng dịch là Quỹ Phạm
Sư, là bậc khuôn phép về chánh hạnh, là tiếng tôn
xưng bậc mô phạm cho chúng Tăng, thường dùng
để chỉ bậc dạy dỗ pháp lành.
Trong kinh này, nếu nói theo ư câu “thăng Quán Đảnh giai” (lên địa vị
Quán Đảnh) th́ A Xà Lê là bậc A Xà Lê chỉ dạy chân
ngôn, cũng gọi là “Kim Cang A Xà Lê” do vị này kế tục
địa vị tổ sư Kim Cang Tát Đỏa. A Xà Lê là tiếng
tôn xưng bậc truyền pháp Quán Đảnh.
“Tương ứng” nghĩa là khế
hợp, như: Tam mật tương ứng, cảnh trí
tương ứng v.v... Mật Tông lấy ư chỉ “tam mật
tương ứng” làm điều cốt lơi ngơ hầu ba
nghiệp thân, khẩu, ư của chúng sanh mau chóng khế hợp
với tam mật của Như Lai, cho nên thành Phật ngay
nơi thân này. V́ vậy, Mật Tông c̣n gọi là
Tương Ứng Tông.
Câu này và câu “thăng Quán
Đảnh giai” (lên địa vị Quán Đảnh) ở
trên biểu thị sâu xa ư chỉ “Tịnh, Mật chẳng
hai”, ngụ ư: Các Đại Sĩ trong hội do hoằng truyền
Mật thừa, do dạy dỗ các Bồ Tát thành Kim Cang A Xà
Lê nên bản thân luôn luôn tu tập vô lượng vô biên hạnh
tương ứng.
“Thành thục Bồ Tát vô
biên thiện căn, vô lượng chư Phật hàm cộng
hộ niệm” (Thành thục Bồ Tát vô biên thiện căn.
Vô lượng chư Phật đều cùng hộ niệm):
Thiện căn là sự lành nơi ba nghiệp thân, miệng,
ư. Vững chắc chẳng thể lay động nổi
th́ gọi là Căn. Thêm nữa, sự lành sanh ra diệu quả,
sanh ra các điều lành khác nên gọi là Căn.
“Hộ niệm” là giữ ǵn, ức
niệm. Sách Hội Sớ giảng: “Hộ (護) là
che chở, ǵn giữ. Niệm (念) là nghĩ nhớ”. Tịnh Ảnh Sớ giảng:
“Giữ ǵn (hộ) khiến cho
ĺa ác, niệm khiến cho tăng trưởng thêm lên”.
V́ vậy, hai câu trên là lời khen ngợi chung các vị Đại
Sĩ trong hội tuân tu Phổ Hiền đức, khiến
cho các Bồ Tát đều thành thục vô biên thiện
căn. Do đó, chư Phật đều cùng hộ niệm.
Chánh kinh:
諸 佛 剎 中 皆 能 示 現。譬 善 幻 師,現 眾 異 相,於 彼 相中,實 無 可 得。此 諸 菩 薩,亦 復 如 是。通 諸 法 性,達 眾 生 相。供 養 諸 佛,開 導 群 生。化 現 其 身,猶 如 電 光。裂 魔 見 網,解 諸 纏 縛。遠 超 聲 聞 辟 支 佛 地,入 空、無 相、無 願 法門。善 立 方 便,顯 示 三 乘。
Chư Phật sát trung, giai
năng thị hiện. Thí thiện huyễn sư, hiện
chúng dị tướng. Ư bỉ tướng trung, thực
vô khả đắc. Thử chư Bồ Tát, diệc phục
như thị, thông chư pháp tánh, đạt chúng sanh tướng,
cúng dường chư Phật, khai đạo quần sanh,
hóa hiện kỳ thân, do như điện quang, liệt ma
kiến vơng, giải chư triền phược, viễn
siêu Thanh Văn, Bích Chi Phật địa, nhập Không, Vô
Tướng, Vô Nguyện pháp môn, thiện lập
phương tiện, hiển thị tam thừa.
Trong các cơi Phật
đều có thể thị hiện ví như huyễn
sư giỏi hiện các tướng lạ. Trong các tướng
ấy, thật không có ǵ để được. Các vị
Bồ Tát này cũng lại như thế: Thông các pháp tánh,
đạt chúng sanh tướng, cúng dường chư Phật,
chỉ dạy quần sanh, hóa hiện thân ḿnh tựa
như ánh chớp, xé rách lưới Kiến Hoặc của
ma, cởi các trói buộc, vượt xa địa vị
Thanh Văn, Bích Chi Phật, nhập pháp môn Không, Vô Tướng,
Vô Nguyện, khéo lập phương tiện hiển thị
tam thừa.
Giải:
Đoạn kinh văn trên tiếp tục nói về tướng
thứ bảy: Chuyển pháp luân. Tên của phẩm này là Đức
Tuân Phổ Hiền thật phù hợp với ư nghĩa Phổ
Hiền Bồ Tát được kể làm Thượng Thủ.
Kinh này là Viên Giáo, từ quả khởi nhân, nên kế ngay
sau ngài Phổ Hiền là Văn Thù. Phổ Hiền tượng
trưng cho Hạnh, Văn Thù tượng trưng cho Trí.
Không có trí th́ chẳng thể khởi hạnh nên lại
phải kể rơ tên ngài Văn Thù, đúng như sách Vô
Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận nhận định:
“Chẳng qua khỏi nổi
biển trí Văn Thù th́ khó nhập Phổ Hiền hạnh
môn v́ chẳng biết rơ: Một niệm viên đốn,
b́nh đẳng chánh tánh, phàm lẫn thánh cùng có, không sai khác chút nào. Do chẳng hiểu
rơ nên tất cả hạnh nguyện đều chẳng
đầy đủ. V́ sao vậy? Do từ bên ngoài tâm mà khởi
tu nên thành hữu lậu. Do
vô biên công đức chẳng ngoài tự tâm, tùy thuận
Chân Như tu hết thảy pháp th́ đầy đủ
được vô biên công đức”.
V́ vậy, từ câu “chư Phật
sát trung, giai năng thị hiện” (trong các cơi Phật, đều có thể thị
hiện) trở đi là nói về trí đức của
Văn Thù, chẳng hạn như những câu “thí thiện
huyễn sư, hiện chúng dị tướng. Ư bỉ
tướng trung, thực vô khả đắc” (ví như huyễn sư giỏi hiện các
tướng lạ. Trong các tướng ấy, thật
không có ǵ để được) v.v… đều biểu
thị ư nghĩa: Từ Văn Thù diệu trí tu tập viên
măn hạnh Phổ Hiền thù thắng.
Tám câu từ chữ “chư
Phật sát trung” (trong các cơi Phật) trở đi đều
hiển thị trí đức của các Bồ Tát trong hội.
Câu “chư Phật sát trung, giai
năng thị hiện” (trong các cơi Phật
đều có thể thị hiện - Câu này trích từ bản
Đường dịch) biểu thị phẩm đức
Phổ Môn thị hiện của các Đại Sĩ: Chẳng
chỉ riêng trong cơi nước này thị hiện tám tướng
mà c̣n ở trong mười phương thế giới hiện
trọn tám tướng.
“Huyễn sư” là
thí dụ, Trí Độ Luận nói: “Phương
Tây có nhà huyễn thuật có thể hóa hiện hết thảy
cung điện, thành quách, nhà viện, thắt khăn thành
thỏ, biến đai thành rắn... các thứ biến hiện”.
V́ vậy, kinh này mượn tài huyễn hóa của nhà ảo
thuật để ví cho Đại Sĩ phổ môn thị hiện.
Do đó, kinh chép: “Thí thiện
huyễn sư, hiện chúng dị tướng” (Ví như huyễn sư giỏi, hiện các
tướng lạ).
Rồi nói: “Ư bỉ
tướng trung, thực vô khả đắc” (Trong các tướng ấy, thật không có ǵ
để được - Câu này trích từ bản
Đường dịch) v́ thật sự biết [các
tướng ấy] là huyễn nên với huyễn chẳng
mê, như trong kinh Bảo Tích, Học Huyễn Thái Tử nói
kệ khen ngợi Phật rằng: “Như huyễn sư huyễn hóa, ư huyễn
bất mê, dĩ tri huyễn hư cố, Phật quán thế
diệc nhiên” (Như huyễn
sư huyễn hóa, tự chẳng mê nơi huyễn, v́ biết
huyễn hư vọng, Phật xem đời cũng thế).
Đây cũng chính là như kinh Viên Giác dạy: “Tri huyễn tức ly, ly huyễn
tức giác” (Biết huyễn
liền ĺa, ĺa huyễn chính là Giác). V́ vậy, đối với
huyễn tướng chẳng chấp, chẳng đắc.
Kinh văn nhiều lần khen ngợi tỉ mỉ Thật
Đức và Quyền Đức của Đại Sĩ: “Giai năng thị hiện” (Đều
có thể thị hiện) là Quyền Đức, “thực bất khả đắc”
(thật chẳng thể được) là Thật Đức.
Các Đại Sĩ trong hội đều trọn vẹn hai
đức Quyền, Thật này nên nói rằng: “Bỉ chư Bồ Tát diệc
phục như thị” (Các Bồ Tát ấy cũng lại
giống như thế).
“Thông chư pháp tánh, đạt
chúng sanh tướng”: Pháp Tánh cũng gọi là Thật
Tướng, Pháp Giới, Niết Bàn, Thật Tế v.v...
“Tánh” là Thể. Tự thể của hết thảy pháp gọi
là “pháp tánh” như Khởi Tín Luận Nghĩa Kư giảng: “Pháp tánh nghĩa là hiểu rơ chân
thể này phổ biến... thông với hết thảy pháp
làm tánh”.
Lại nữa, sách Duy Thức Thuật Kư giảng: “Tánh là Thể. Thể của hết
thảy pháp gọi là pháp tánh”. Sách Đại Thừa
Nghĩa Chương, quyển một, cũng viết: “Thể tánh của pháp gọi là
pháp tánh”.
V́ vậy, pháp tánh là Thể của vạn pháp, dù trong
pháp nhiễm hay tịnh, dù nơi hữu t́nh hay nơi vô
t́nh, tánh của nó chẳng hề biến đổi nên gọi
là Pháp Tánh.
Lại nữa, Pháp Tánh chính là Chân Như, cũng chính là
Thật Tướng. Quyển thứ năm của bộ
Gia Tường Pháp Hoa Sớ viết: “Pháp tánh chính là Thật Tướng, tam thừa
đắc đạo không ai chẳng do nó”.
Quyển một sách Chỉ Quán cũng chép: “Pháp tánh gọi là Thật Tướng,
c̣n chẳng phải là cảnh giới của Nhị Thừa,
huống hồ phàm phu”.
Hoa Nghiêm Tông cho rằng Chân Như có hai nghĩa là bất
biến và tùy duyên. Về mặt tùy duyên, do nó tạo ra hết
thảy các pháp nên gọi Chân Như là pháp tánh. Lại do chẳng
bất biến nên tuy tùy duyên tạo ra nhiễm hay tịnh,
hữu t́nh hay vô t́nh vạn pháp mà Chân Như chẳng đổi,
chẳng biến. Ví dụ: Nước biến thành sóng mà
chẳng biến mất tánh nước. Pháp tánh Chân Như
thuần thiện chẳng nhiễm, chỉ do duyên mà có nhiễm
hay tịnh, nhưng pháp bị biến đổi th́ lại
có nhiễm hay tịnh khác biệt.
Sách Hội Sớ lại viết: “Bồ Tát có hai thứ trí làm căn bản cho hết
thảy hạnh tu. Những ǵ là hai?
- Một là Như Lư Trí chiếu
soi bản tánh các pháp chẳng một, chẳng khác, chẳng
sanh, chẳng diệt th́ gọi là thông các pháp tánh.
- Hai là Như Lượng
Trí chiếu soi tướng khác biệt của chúng sanh, mê,
ngộ, phàm, thánh đều khác. Đây gọi là đạt
chúng sanh tướng”.
Như vậy, “thông chư
pháp tánh” là Căn Bản trí, “đạt
chúng sanh tướng” là Sai Biệt trí.
“Cúng dường chư Phật”: Cúng dường
có hai loại:
- Một là tài cúng dường: Cúng dường
hương hoa thức ăn, tài vật....
- Hai là pháp cúng dường: Đúng như lời dạy
tu hành, lợi ích chúng sanh.
Lại có ba loại cúng dường:
1. Lợi cúng dường: Dùng hương, hoa, thức
ăn v.v..
2. Kính cúng dường: Khen ngợi, cung kính
3. Hạnh cúng dường: Thọ tŕ, tu hành diệu
pháp.
Sách B́nh Giải viết: “Có
thể đi qua vô lượng cơi Phật, khởi lên cúng
dường nhiều như mây nên bảo là cúng dường
chư Phật”.
“Khai đạo quần sanh” là như kinh
Duy Ma chép: “Tuy tri
chư Phật quốc cập chúng sanh không, nhi thường
tu Tịnh Độ, giáo hóa chúng sanh” (Tuy biết các cơi Phật và chúng sanh là không mà
thường tu Tịnh Độ giáo hóa chúng sanh) th́ gọi “khai đạo quần sanh”.
“Hóa hiện kỳ thân, do
như điện quang” (Hóa hiện thân ḿnh ví như ánh chớp): Duy Thức Luận quyển
mười chép: “Thần lực
khó nghĩ lường nên có thể hóa hiện”. Các Đại
Sĩ nhằm độ chúng sanh, hóa hiện các thứ thân
h́nh, hành động nhanh chóng giống như ánh chớp,
đến khắp mười phương cơi nước, trên cúng dường, dưới
hóa độ, b́nh đẳng phổ chiếu; cũng chẳng
phân biệt: ưu, liệt, thân, sơ, vật, ngă, kia,
đây...
Sách Hội Sớ chép: “Ánh
chớp gồm bốn ư nghĩa: Một là rất nhanh
chóng, hai là phá tối tăm, ba là chẳng trụ, bốn là
chẳng phân biệt. Bồ Tát trong một niệm, một
thời, đến khắp tất cả mười
phương thế giới, trên cúng dường chư Phật,
dưới lợi ích quần sanh, chẳng có tướng
xuất nhập, trước sau lẹ làng như ánh chớp. Bồ Tát có thể
chiếu các Phật hội, phá tối tăm cho chúng sanh
như ánh chớp trừ tối. Bồ Tát hiện ra vô
lượng thân ứng hiện trong các cơi nước nhiều
như vi trần, chẳng có trụ xứ, chẳng có dấu vết như ánh chớp
nháng trên không, chẳng biết từ đâu đến,
đi, cũng không có dấu tích nhất định. Bồ
Tát b́nh đẳng, không có phân biệt trước, sau,
đây, kia... như ánh chớp soi sáng mọi vật chẳng
phân biệt trước, sau, đây, kia”. (Đoạn trên
đây nói trong một niệm Bồ Tát đến khắp
mười phương, nên sự thần tối ấy
nhanh hơn tốc độ ánh sáng vô lượng ức lần).
“Liệt ma kiến vơng” (Xé lưới
Kiến Hoặc của ma): “Liệt” (裂: xé) là phá hoại.
Ma th́ như Trí Độ Luận giảng: “Đoạt huệ mạng, hoại đạo pháp và gốc
lành công đức nên gọi là Ma”.
“Kiến” (見) là suy nghĩ, t́m cầu, quyết
định v.v… bao hàm cả chánh lẫn tà. Sách Chỉ Quán,
quyển năm viết: “Hết
thảy phàm phu chưa đạt thánh đạo hễ khởi
lên một niệm nhỏ nhiệm th́ đều là Kiến”.
Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển năm lại
giảng: “Suy cầu gọi là
Kiến”. Trên đây là nghĩa rộng: Phàm có suy nghĩ,
so sánh, phân biệt, suy cầu v.v... đều gọi là Kiến.
Sách Chỉ Quán, quyển mười lại viết: “Có tri giải quyết định
th́ gọi là Kiến”, nghĩa này khá hẹp v́ chỉ xét
tới tri giải có tánh quyết định. Kiến có
chánh, tà, các loại kiến: hữu, vô, tạm, thường...
đều là tà kiến.
“Ma kiến vơng” (Lưới Kiến
Hoặc của ma) là tà kiến bời bời đan rối
vào nhau khiến người khó thoát ly, giống như
lưới rập nên gọi là “tà kiến vơng” (lưới
tà kiến). Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Ngă mạn
khái quán, kiến vơng tăng trưởng” (Ngă
mạn tưới tắm, lưới kiến tăng
trưởng).
Trí Độ Luận, quyển mười một cũng
viết: “Vào trong lưới tà
kiến, phiền năo phá chánh trí”.
“Ma kiến vơng” (Lưới Kiến
Hoặc của ma) chính là lưới tà kiến. Trí Độ
Luận, quyển tám viết:
“Hữu niệm đọa lưới ma, vô niệm th́
thoát được” cho thấy: Khởi tâm động
niệm đều đọa lưới ma, chỉ có tịnh
niệm nối tiếp, vô niệm mà niệm mới xuất
ly được.
“Giải chư triền
phược” (Cởi các triền phược): Triền (纒) là vấn vít.
Phược (縛) là trói buộc.
Theo đại sư Cảnh Hưng, “triền phược chính là tám triền ba phược”
(Các vị khác đa số cho rằng có mười Triền,
bốn Phược. Ở đây, tôi theo thuyết của
sư Cảnh Hưng). Tám Triền là: vô tàm, vô quư, ganh ghét,
keo kiệt, làm việc ác, ham ngủ, lao chao, hôn trầm. Ba
Phược là tham, sân, si.
Tịnh Ảnh Sớ viết: “Cũng có thể hiểu rằng các Phiền Năo Kết
gọi chung là Triền Phược. Bồ Tát dạy
người đoạn ĺa chúng th́ bảo là Giải (cởi gỡ)”. Hai câu trên
đây ư nói các Bồ Tát trong hội do “thông chư pháp tánh, đạt chúng sanh tướng”,
đầy đủ Căn Bản Trí và Sai Biệt Trí nên
có thể v́ chúng sanh phá lưới ma kiến khiến họ
ĺa bỏ tà nghiệp, có thể v́ hữu t́nh giải trừ
các triền phược cho họ được thoát phiền
năo.
“Viễn siêu Thanh Văn, Bích Chi
Phật địa, nhập Không, Vô Tướng, Vô Nguyện
pháp môn” (Vượt xa địa vị Thanh Văn,
Bích Chi Phật, nhập pháp môn Không, Vô Tướng, Vô Nguyện
- Câu này thấy trong bản Đường dịch): Hai câu
này lại khen ngợi Thật Đức của các vị Đại
Sĩ trong hội: Sở giác (những điều các ngài
giác ngộ) thù thắng vượt xa địa vị
Thanh Văn, Bích Chi Phật.
“Thanh Văn” (Śrāvaka)
là
đệ tử theo pháp Tiểu Thừa của Phật,
nghe giáo pháp của Phật ngộ lư Tứ Đế, đoạn
hai hoặc Kiến và Tư, thoát khỏi phần đoạn
sanh tử[6]
nhập Niết Bàn. Tịnh Ảnh Sớ nói: “Ngôn giáo của đức Phật
thuyết gọi là Thanh. Nghe tiếng giải ngộ nên gọi
là Thanh Văn”.
“Bích Chi Phật” (Pratyekabuddha): Bích Chi (Pratyeka) là tiếng Phạn,
Hán dịch là Nhân Duyên. Phật (Buddha) nghĩa là Giác. V́ vậy,
cựu dịch Bích Chi Phật là Duyên Giác, tân dịch là Độc
Giác. Theo Đại Thừa Nghĩa Chương, Duyên Giác có hai
cách hiểu:
- Một là quán mười hai nhân duyên, đoạn Hoặc
chứng Chân, từ duyên mà giác ngộ nên gọi là Duyên Giác.
- Hai là do các duyên sự tướng của ngoại giới
như gió thổi cây động v.v... mà được giác
ngộ nên bảo là Duyên Giác.
Tông Thiên Thai lại phân chia hai danh từ này như sau:
- Ra đời gặp nhằm lúc Phật xuất hiện,
quán mười hai nhân duyên được giác ngộ là
Duyên Giác.
- Ra đời nhằm lúc không có Phật, thấy ngoại
duyên: gió thổi cây động, lá rụng, hoa bay… mà thành
đạo th́ là Độc Giác.
Hai thừa Thanh Văn, Bích Chi Phật nói trên đều
là bậc hạ căn trong hàng đệ tử Phật.
Nay các Đại Sĩ đây vượt xa hơn bọn họ
như sách B́nh Giải nói: “Nhị
Thừa tuy đắc ba Không môn, nhưng ch́m đắm
nơi Thiên Không. Bồ Tát chẳng giống như vậy,
thấu đạt lưới huyễn, đắc pháp b́nh
đẳng. V́ vậy, tuy trụ ba Không môn mà chẳng trụ
vô vi, cho nên dẫu làm Thanh
Văn, làm Duyên Giác lại siêu việt địa vị
Thanh Văn, Duyên Giác”.
Hơn nữa, kinh Đại Bảo Tích, pháp hội Thiện
Đức Thiên Tử có chép:
“Dĩ
Thanh Văn pháp giáo hóa chúng sanh, cố ngă thị Thanh Văn.
Dĩ Bích Chi Phật pháp hóa ích chúng sanh, cố ngă thị Bích
Chi Phật dă. Dĩ đại bi pháp giáo hóa chúng sanh, cố
ngă thị Bồ Tát. Ư nhất thiết pháp đắc
giải thoát, nhất thiết vô ngại cố, tùng sở
hóa chúng sanh, hoặc dĩ Thanh Văn pháp hóa ích, hoặc
dĩ Bích Chi Phật pháp hóa ích, hoặc dĩ Bồ Tát pháp
hóa ích. Cố ngă thị Thanh Văn, ngă thị Duyên Giác, ngă
thị Bồ Tát dă” (Dùng pháp Thanh
Văn giáo hóa chúng sanh nên ta là Thanh Văn. Dùng pháp Bích Chi Phật
giáo hóa, tạo lợi ích cho chúng sanh nên ta là Bích Chi Phật.
Dùng pháp đại bi giáo hóa chúng sanh nên ta là Bồ Tát. Trong hết
thảy pháp được giải thoát v́ hết thảy
vô ngại. Đối với chúng sanh được ta hóa
độ, hoặc dùng pháp Thanh Văn giáo hóa để làm lợi
ích, hoặc dùng pháp Bích Chi Phật giáo hóa để làm lợi
ích, hoặc dùng pháp Bồ Tát giáo hóa để làm lợi
ích, nên ta là Thanh Văn, ta là Duyên Giác, ta là Bồ Tát).
Câu này nói đến phương tiện khéo léo của
các Đại Sĩ: Tùy cơ độ sanh thị hiện làm
Nhị Thừa, chẳng bỏ h́nh tướng Thanh
Văn, Bích Chi Phật nên bảo là “viễn siêu” (vượt xa). Chữ Địa trong
chánh kinh là địa vị, là cảnh giới.
Chữ “Không, Vô Tướng,
Vô Nguyện” được Tịnh Ảnh Sớ giảng
như sau: “Chúng sanh và pháp đều
không có tự tánh nên gọi là Không. Cho đến nhân duyên cũng chẳng có tướng
nên bảo là Vô Tướng. Do vượt khỏi cái bị
lấy (sở thủ), xa ĺa tâm chấp lấy nên bảo
là Vô Nguyện”.
Trí Độ Luận lại nói: “Vô
Nguyện nên chẳng tạo nghiệp sanh tử, nên
cũng gọi là Vô Tác”.
Lại viết: “Quán các pháp
không gọi là Không. Trong cái Không đó chẳng thể giữ
lấy tướng, ngay khi ấy, chuyển được
cái Không nên gọi là Vô Tướng. Trong Vô Tướng, chẳng có thứ ǵ được
làm ra để sanh trong tam giới nên ngay khi ấy chuyển
được Vô Tướng nên gọi là Vô Tác (tức
là Vô Nguyện).
Ví như cái thành có ba cửa,
một thân người chẳng thể cùng lúc vào được
ba cửa. Nếu muốn vào thành, phải theo một cửa
mà vào. Thật tướng của các pháp là Niết Bàn thành.
Thành có ba cửa: Không, Vô Tướng, Vô Tác.
Nếu người theo cửa
Không mà vào, chẳng thấy là
Không, cũng chẳng chấp tướng, th́ người ấy
ngay khi đó đă xong việc, chẳng cần đến
hai cửa kia nữa.
Nếu ai vào cửa Không lại
chấp tướng cho rằng ḿnh đắc cái Không ấy,
cho nên người ấy chẳng qua nổi khỏi cửa, đường thông hóa nghẽn.
Nếu trừ được tướng Không th́ theo cửa
Vô Tướng mà vào.
Nếu tâm chấp trước
tướng Vô Tướng sanh hí luận th́ để trừ
tướng Vô Tướng, phải vào cửa Vô Tác”.
Ư nói: Không, Vô Tướng, Vô Nguyện ví như ba cái cửa.
Do pháp môn này khế nhập thành Niết Bàn Thật Tướng
của các pháp. Nếu ai từ cửa Không đi vào
nhưng chẳng thấy Không tướng liền vào thẳng
ngay ṭa thành Niết Bàn. Nếu thấy có tướng Không
th́ chẳng thể vào nổi. Nếu trừ được
tướng Không th́ liền có thể theo cửa Vô Tướng
mà vào. Nếu như chấp “tướng của Vô Tướng
thật sự là tướng của Vô Tướng” th́
cũng chẳng thể vào được. Để trừ
tướng Vô Tướng này, cần phải từ cửa
Vô Tác (tức là Vô Nguyện) vào thẳng trong thành. V́ vậy,
kinh dạy: “Nhập Không, Vô
Tướng, Vô Nguyện pháp môn”.
“Thiện lập
phương tiện, hiển thị tam thừa” (Khéo lập
phương tiện, hiển thị tam thừa):
Phương là phương pháp, Tiện là tiện dụng.
Sách Pháp Hoa Văn Cú giảng:
“Phương là phương pháp, Tiện là dùng”. Sách Pháp
Hoa Huyền Tán ghi: “Tạo tác,
thực hành th́ là Phương. Khéo thích ứng căn cơ
là Tiện”.
Sách Pháp Hoa Nghĩa Sớ viết: “Phương tiện là tên khác của thiện xảo.
Thiện xảo là công dụng của trí”.
Kinh Đại Tập dạy: “Năng
điều chúng sanh tất linh thú hướng A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, thị danh
phương tiện” (Có thể
điều
phục chúng sanh khiến cho họ quy hướng Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác th́ gọi là Phương Tiện).
Hội Sớ cũng nói: “Kinh
Niết Bàn chép: ‘Trí độ Bồ Tát mẫu,
phương tiện dĩ vi phụ’ (Bát Nhă Ba La Mật
là mẹ của Bồ Tát, Phương Tiện là cha). Hiểu thấu suốt Không, Vô
Tướng là đại trí. Tùy nghi sắp bày, thi hành là
phương tiện. Phương tiện có hai thứ: Một
là hiểu sâu Không mà chẳng chấp tướng thọ chứng.
Hai là do lư Thật Tướng thẳm sâu không ai tin nhận
nổi nên phải dùng phương tiện dụ dẫn quần
sanh khiến cho họ giác ngộ
dần dần. Đức ấy rộng lớn chỉ có Bất
Nhị Thừa (tức là không thuộc hàng Nhị Thừa) mới làm nổi. V́ thế, bảo
là khéo lập”.
Chữ Thừa (乘) trong “tam
thừa” là cỗ xe. Sách Tứ Giáo Nghi Tập Chú giảng:
“Thừa có nghĩa là chuyên chở,
chở ra khỏi tam giới trở về Niết Bàn”.
Hơn nữa, Thừa ví như công cụ chuyên chở khiến
cho người ngự trên thừa (cỗ xe) ấy đều
đạt tới quả địa.
Kinh Pháp Hoa dùng ba loại xe dê, nai và trâu để ví cho
ba thừa Tiểu, Trung, Đại. Tiểu là Thanh Văn
Thừa. Trung là Duyên Giác Thừa. Đại là Bồ Tát Thừa.
Phẩm Thí Dụ kinh Pháp Hoa chép:
“Như Lai hữu vô lượng
trí huệ, lực vô sở úy, chư pháp chi tạng.
Năng dữ nhất thiết chúng sanh đại thừa
chi pháp, đản bất tận năng thọ. Xá Lợi
Phất! Dĩ thị nhân duyên, đương tri chư Phật
phương tiện lực cố, ư nhất Phật thừa,
phân biệt thuyết tam” (Như Lai có vô
lượng trí huệ, lực, vô sở úy, các pháp tạng,
có thể ban cho hết thảy chúng sanh pháp Đại Thừa
(chỉ cho nhất Phật thừa), nhưng họ chẳng
thể lănh nhận hết nổi. Này Xá Lợi Phất! Bởi
nhân duyên đó, phải biết rằng: Chư Phật do sức
phương tiện nên nơi một Phật thừa phân
biệt thành ba).
Sách Pháp Hoa Văn Cú cũng nói: “Phương tiện là cửa... Thể nhập
được chân thật, hiển lộ được
chân thật toàn là do công của phương tiện. Theo
cách giải thích này, Tiểu Thừa là cái cửa để
vào được Đại Thừa nên Tiểu Thừa
được gọi là giáo pháp phương tiện.
Hơn nữa, tam thừa thông với Nhất Thừa nên
tam thừa cũng gọi là Phương Tiện Giáo”.
Những đoạn kinh, luận trên thật đă tỏ
rơ được yếu chỉ
“thiện lập phương tiện, hiển thị tam thừa”
(Tướng thứ bảy “chuyển pháp luân” đến
đây đă xong).
Chánh kinh:
於 此 中 下,而 現 滅 度。
Ư
thử trung hạ, nhi hiện diệt độ.
Trong hạng
trung căn, hạ căn ấy, thị hiện diệt
độ.
Giải:
(Chữ “trung hạ”
căn cứ theo bản Ngụy dịch trong Tích Sa Đại
Tạng[7]
và Cao Ly Đại Tạng) Đây là tướng thứ tám của
tám tướng thành đạo: Bát Niết Bàn.
Niết Bàn, cựu dịch là Diệt Độ, tân dịch
là Viên Tịch. “Diệt độ” là diệt nhân quả
sanh tử, diệt hết ḍng lũ sanh tử. Kinh Niết
Bàn dạy: “Diệt
chư phiền năo, danh vi Niết Bàn. Ly chư hữu giả,
năi vi Niết Bàn” (Diệt các phiền
năo gọi là Niết Bàn. Ĺa các hữu (tam giới) mới
là Niết Bàn).
Sách Tâm Kinh Lược Sớ của ngài Hiền Thủ
ghi: “Niết Bàn, Hán dịch là
Viên Tịch, ư nói: Không đức ǵ chẳng đủ nên bảo
là Viên, không chướng nào chẳng tận nên nói là Tịch”.
Sách B́nh Giải cũng viết: “Nghĩa đầy ắp pháp giới, đức
đầy đủ như cát sông Hằng là Viên. Thể
cùng tột chân tánh, dứt tuyệt hoàn toàn sự vướng
mắc vào h́nh tướng là Tịch”.
Các kinh luận trên đây đều nói về bậc
Pháp Thân Đại Sĩ chuyên chí Phật quả, chẳng trụ
vào diệt tận như tro tàn, nhưng v́ để nhiêu
ích (làm lợi ích) hai thừa Trung và Hạ, nên dùng phương
tiện khéo léo thị hiện tướng diệt độ.
Như phẩm Thọ Lượng kinh Pháp Hoa chép:
“Nhược Phật cửu trụ
ư thế, bạc đức chi nhân bất chủng thiện
căn, bần cùng hạ tiện, tham trước ngũ dục,
nhập ư ức tưởng vọng kiến vơng trung.
Nhược kiến Như Lai thường tại bất
diệt, tiện khởi kiêu tứ, nhi hoài yếm đăi, bất
sanh nan tao chi tưởng, cung kính chi tâm… Thị cố
Như Lai tuy bất thực diệt, nhi ngôn diệt độ”
(Nếu đức Phật trụ
lâu dài trong cơi đời th́ kẻ đức mỏng chẳng
gieo trồng căn lành, bần cùng, hạ tiện, tham
đắm ngũ dục, bị vướng vào lưới
ức tưởng vọng kiến, nếu thấy Như
Lai thường trụ bất diệt sẽ khởi ư kiêu
ngạo, phóng túng, sanh ḷng mỏi nhác, lười biếng,
chẳng thể sanh nổi ư tưởng khó gặp Phật
và tâm cung kính được... V́ vậy, Như Lai tuy thật
sự chẳng diệt, lại nói là diệt độ).
Chẳng phải là diệt độ lại hiện có
diệt độ nên bảo là “thị
hiện”. Thị hiện như vậy là để
độ căn cơ trung, hạ. Nếu là thượng
căn th́ thấy Như Lai chẳng từ đâu đến,
cũng không đi về đâu. Vốn đă thoát khỏi
sanh diệt th́ nào có Niết Bàn? V́ vậy, Trí Giả đại
sư đời Tùy khi đọc đến phẩm Dược
Vương của kinh Pháp Hoa thấy một hội Linh
Sơn nghiễm nhiên chưa tan.
Chánh kinh:
得 無 生 無 滅 諸 三 摩 地,及 得 一 切 陀 羅 尼 門。隨 時 悟入 華 嚴 三 昧,具 足 總 持 百 千 三 昧。住 深 禪 定,悉 睹 無 量 諸 佛。於 一 念 頃,徧 遊 一 切 佛 土。
Đắc
vô sanh vô diệt chư tam ma địa, cập đắc
nhất thiết đà-ra-ni môn, tùy thời ngộ nhập
Hoa Nghiêm tam-muội, cụ túc tổng tŕ bách thiên tam-muội,
trụ thâm Thiền Định, tất đổ vô lượng
chư Phật. Ư nhất
niệm khoảnh, biến du nhất thiết Phật độ.
Đắc các
tam-ma-địa vô sanh vô diệt, và đắc hết thảy
đà-ra-ni môn, tùy thời ngộ nhập Hoa Nghiêm tam-muội,
đầy đủ tổng tŕ, trăm ngàn tam-muội, trụ
Thiền Định sâu, đều thấy vô lượng
chư Phật. Trong khoảng một niệm, qua khắp hết
thảy cơi Phật.
Giải:
Tam-ma-địa (Samadhi) là tiếng Phạn, xưa
phiên âm là Tam-muội, Tam-ma-đề, Tam-ma-đế v.v... dịch
nghĩa là Định, Chánh Định, Chánh Thọ, Điều Nghi Định,
Chánh Tâm Hạnh Xứ, Đẳng Tŕ v.v...
Trí Độ Luận giảng: “Tâm
khéo trụ một chỗ chẳng động gọi là
tam-muội” và: “Hết thảy
Thiền Định cũng gọi là Định, cũng gọi
là tam-muội”, và: “Các hạnh
ḥa hợp đều gọi là tam-muội”, “hết thảy
Thiền Định nhiếp tâm đều gọi là
Tam-ma-đề, Hán dịch là Chánh Tâm Hạnh Xứ”.
Thêm nữa, sách Pháp Hoa Huyền Tán viết: “Tiếng Phạn là Tam-ma-địa,
Hán dịch là Đẳng Tŕ. B́nh đẳng ǵn giữ cái tâm
để tiếp xúc với cảnh th́ chính là Định”.
Ngài Thiên Thai giảng: “Dùng
Không huệ chiếu soi các pháp môn Thiền Định, xuất
sanh cho đến vô lượng tam-muội”.
Trong kinh đây, tiếp ngay theo câu “nhi hiện diệt độ” (mà hiện diệt
độ) là câu “đắc vô
sanh vô diệt chư tam-ma-địa” (đắc các tam-ma-địa vô sanh vô diệt)
là ư nói: Các Đại Sĩ tuy thị hiện tướng Niết
Bàn, nhưng thật sự chẳng sanh chẳng diệt,
b́nh đẳng thường trụ Như Như Pháp Thân.
Các vị Đại Sĩ này đều tuân theo Phổ Hiền
đức, từ quả hướng đến nhân.
“Đà-ra-ni” (Dharani) là tiếng Phạn, Hán dịch là Tŕ,
Năng Tŕ, Năng Giá. Trí Độ Luận giảng: “Đà-ra-ni,
Hán dịch là Năng Tŕ hoặc Năng Giá.
1. Năng Tŕ là nhóm họp
các thiện pháp, ǵn giữ khiến cho chúng chẳng tan, chẳng
mất; ví như đồ
đựng hoàn hảo đem đựng nước,
nước chẳng ṛ rỉ mất.
2. Năng Giá là có thể
ngăn chặn khiến cho ác tâm bất thiện chẳng
sanh. Nếu toan gây tội ác th́ khiến cho chẳng thực
hiện được. Do vậy, gọi là đà-ra-ni”.
Luận c̣n viết: “Bồ
Tát đắc hết thảy các tam-muội: Tam thế vô ngại
minh v.v… ấy th́ với mỗi một tam-muội sẽ
đắc vô lượng A-tăng-kỳ đà-ra-ni. Các thứ
ấy ḥa hợp thành ra năm trăm đà-ra-ni môn. Đấy
là thiện pháp công đức tạng của Bồ Tát”.
Như vậy, tam-muội là Định. Sở đắc
do định lực phát huệ gọi là đà-ra-ni,
như sách Trí Độ Luận giảng: “Tu hành tam-muội này phải tu hành lâu rồi mới
thành được đà-ra-ni. Các tam-muội ấy cùng trí
huệ Thật Tướng của các pháp sanh ra
đà-ra-ni”.
Sách c̣n nói: “Tam-muội chỉ
là pháp tương ứng với tâm. Đà ra ni lại chẳng
tương ứng với tâm, tâm chẳng tương ứng
với đà-ra-ni. Tâm chẳng
tương ứng với đà-ra-ni là nếu như có người đắc văn tŕ
đà-ra-ni, tuy tâm có nóng giận, đà-ra-ni cũng chẳng
tan mất, thường theo hành nhân như bóng theo h́nh”.
Như vậy th́ theo Trí Độ Luận, tam-muội phải
do tâm tương ứng mới hiện hữu; như b́nh,
chén chưa nung, tuy có h́nh dạng b́nh, chén mà chẳng đựng
được nước. Đà-ra-ni như b́nh, chén đă qua
lửa nung nên ǵn giữ được vô lượng công
đức của Bồ Tát. Tuy có lúc tâm chẳng
tương ứng (chẳng hạn như khi tâm sanh phiền
năo), đà-ra-ni vẫn thường theo hành nhân như bóng
theo thân.
Trí Độ Luận c̣n viết: “Đà-ra-ni đời đời thường theo Bồ
Tát, c̣n các tam-muội chẳng được như vậy,
hễ đổi thân liền bị mất”. V́ vậy,
đà-ra-ni một phen đă đạt được là
vĩnh viễn được, hơn hẳn tam-muội.
Hoa Nghiêm tam-muội là tên gọi khác của Phật Hoa
Nghiêm tam-muội: Dùng Nhất Chân pháp giới vô tận duyên
khởi làm lư thú. Thấu đạt lư thú ấy th́ liền
từ tri giải khởi ra vạn hạnh, trang nghiêm Phật
quả nên gọi là Hoa Nghiêm. Do nhất tâm tu nên gọi là
tam-muội.
Tịnh Ảnh Sớ viết: “Như kinh Hoa Nghiêm nói, tam-muội này thống nhiếp
hết thảy Phật pháp trong pháp giới vào trong bản
thân nó”.
Kinh Bát Thập Hoa Nghiêm chép: “Nhĩ
thời, Phổ Hiền Bồ Tát nhập quảng đại
tam-muội, danh Phật Hoa Nghiêm” (Lúc ấy, Phổ Hiền
Bồ Tát nhập tam-muội rộng lớn tên là Phật
Hoa Nghiêm).
Kinh Lục Thập Hoa Nghiêm lại chép: “Phổ Hiền Bồ Tát chánh thọ tam-muội, kỳ
tam-muội danh Phật Hoa Nghiêm” (Phổ Hiền Bồ
Tát chánh thọ tam-muội, tam-muội ấy tên là Phật
Hoa Nghiêm).
Sách Pháp Giới Kư viết:
“Hoa Nghiêm tam-muội
được giải thích như sau: Hoa là vạn hạnh
của Bồ Tát, v́ sao? Do công dụng của hoa là có thể
kết trái (chỉ quả đức), hạnh có khả năng cảm được quả.
Tuy là pháp nội, ngoại khác nhau, nhưng lực dụng
sanh cảm tương tự.
Dùng sự để tỏ
bày pháp nên gọi là Hoa. Nghiêm là hạnh thành, quả măn, khế
hợp tương ứng, cấu chướng vĩnh viễn
tiêu trừ, chứng lư viên măn. Dựa trên Dụng để
khen ngợi Đức nên gọi là Nghiêm. Tam-muội là lư
trí vô nhị, triệt để dung hội, đây, kia
đều chẳng c̣n, năng, sở dứt bặt nên nói
là tam-muội”.
Kinh Hoa Nghiêm lại chép: “Nhất
thiết tự tại nan tư nghị, Hoa Nghiêm tam-muội
thế lực cố” (Hết thảy tự tại khó
nghĩ bàn là do thế lực của Hoa Nghiêm tam-muội vậy).
Sách Hợp Tán lại viết: “Pháp giới duy tâm gọi là Phật Hoa Nghiêm. Dùng hoa
nhân hạnh trang nghiêm khiến cho tướng trạng của
quả đức được hiển hiện. Nhập
tam-muội này sẽ thấy thập phương Phật
và cơi Phật trong hiện tại”.
Gia Tường Sớ lại viết: “Tam-muội này dùng để trang hoàng Pháp Thân nên gọi
là Hoa Nghiêm”.
Các thuyết như trên đều tỏ rơ ư nghĩa của
Hoa Nghiêm tam-muội.
Thuyết “pháp giới duy
tâm gọi là Phật Hoa Nghiêm” của sách Hợp Tán ngụ
ư: Nhất Chân pháp giới chỉ là tự tâm. Thấu đạt
được điều này th́ đó chính là Hoa Nghiêm tam-muội.
C̣n thuyết “tam-muội này dùng
để trang hoàng Pháp Thân” của Gia Tường Sớ
ngụ ư: Tam-muội đều dùng để trang nghiêm Pháp
Thân, Pháp Thân chính là tâm diệu minh vốn có, cũng chính là tự
tâm. V́ vậy, hết thảy các pháp không pháp nào chẳng từ
pháp giới lưu xuất, lại cũng quy về pháp giới
ấy.
“Tổng tŕ” là đà-ra-ni. “Cụ túc” là trọn vẹn,
ư nói: Hết thảy đà-ra-ni, không môn nào chẳng đầy
đủ. Đà-ra-ni có bốn loại:
1. Pháp đà-ra-ni: C̣n gọi là văn đà-ra-ni, tức
là với giáo pháp của Phật, nghe, giữ chẳng quên.
2. Nghĩa đà-ra-ni: Đối với nghĩa của
các pháp, tổng tŕ chẳng quên.
3. Chú đà-ra-ni: Đối với các chú, tổng tŕ chẳng
quên. Chú là câu nói bí mật, có oai lực thần dị không
lường nổi do Phật, Bồ Tát từ trong Thiền
Định phát ra, nên gọi là chú đà-ra-ni. Dịch theo ư
nghĩa thành ra bốn tên: minh, chú, mật ngữ, chân ngôn.
Sách Bí Mật Kư viết: “Phàm
phu, Nhị Thừa chẳng thể biết được
nổi nên gọi là Mật Ngữ. Chân ngôn của Như
Lai thật chẳng hư vọng, nên gọi là Chân Ngôn”.
4. Nhẫn đà-ra-ni: An trụ trong thật tướng
của pháp gọi là Nhẫn. Giữ cái Nhẫn đó là nhẫn
đà-ra-ni.
Sách Hội Sớ giảng câu “bách thiên tam muội” (trăm ngàn tam-muội” rằng:
“Trăm ngàn tam-muội là chúng
sanh vô lượng, tâm hạnh bất đồng, có lợi
căn, có độn căn. Với các kiết sử, có kẻ
sâu dày, có kẻ mỏng nhẹ. V́ vậy, Bồ Tát thực
hành trăm ngàn các tam-muội để đoạn trừ
trần lao cho họ. Giống như muốn làm cho những
kẻ nghèo được giàu có lớn th́ phải chuẩn
bị đủ các tài vật. Đủ hết thảy vật
dụng rồi, sau đấy mới có thể cứu giúp những kẻ nghèo. Lại
như muốn trị các bệnh, phải chuẩn bị
đủ các thứ thuốc, sau đó mới trị
được”.
Lại như Trí Độ Luận nói: “Từ Thủ Lăng Nghiêm tam-muội cho đến
Hư Không Tế Vô Sở Trước Giải Thoát tam-muội,
lại như Kiến Nhất Thiết Phật tam-muội
cho đến Nhất Thiết Như Lai Giải Thoát Tu Quán
Sư Tử Tần Thân v.v... vô lượng A-tăng-kỳ
tam-muội của Bồ Tát. Với
các tam-muội như thế ấy, không môn nào chẳng
đầy đủ nên nói là: Đầy đủ thành tựu
trăm ngàn tam-muội”.
Trong luận c̣n viết: “Trong
mỗi một tam-muội đắc vô lượng
đà-ra-ni”. Đà ra ni chính là tổng tŕ. V́ vậy, kinh dạy:
“Cụ túc tổng tŕ, bách thiên
tam-muội” (Đầy đủ tổng tŕ trăm ngàn
tam-muội).
“Trụ thâm Thiền Định,
tất đổ vô lượng chư Phật” (Trụ Thiền Định sâu, đều thấy
vô lượng chư Phật): Trụ thâm Thiền Định
là an trụ trong Thiền Định thâm diệu. Sách Hội
Sớ giảng: “Thiền Định
sâu là trụ trong tam-muội vi diệu, sâu xa, u huyền, chẳng
phải là pháp Nhị Thừa và sơ tâm Bồ Tát có thể
thực hành nổi”.
Sách B́nh Giải lại viết: “Bản Đường dịch ghi là ‘nhất thiết
chủng thậm thâm Thiền Định’. Nhất thiết
chủng là Nhất Thiết Chủng Trí. Do hết thảy
Sự là Lư nên bảo là thậm thâm”. V́ vậy, thâm định
thật ra là Lư Định, chẳng phải chỉ là Sự
Định.
Tịnh Ảnh Sớ lại viết: “Trụ thâm định môn làm chỗ y cứ để
khởi hạnh. Tâm không có đến đi, dùng ngay sức
của pháp môn tam-muội để khởi hạnh nên phải
trụ định. Tiếp đó, nói đến khởi hạnh:
‘Tất đổ hiện tại vô lượng chư Phật’
(Đều thấy hiện
tại vô lượng chư Phật) nghĩa là nhiếp hạnh rất rộng”.
Ư của ngài Tịnh Ảnh nói: “Tất đổ chư Phật” (Đều thấy
chư Phật) là hạnh môn. Khởi hạnh môn này
nương vào Thiền Định sâu, chẳng đợi
phải khởi tâm động niệm, trực tiếp từ
sức của pháp môn tam-muội mà khởi hạnh. V́ vậy,
cần phải trụ Thiền Định thậm thâm.
Xét trong kinh này, việc hành giả được thấy
Phật trong khi nhập định chính là đại nguyện
thứ bốn mươi lăm của Phật Di Đà: “Trong
Định cúng Phật”. Lời nguyện như sau: “Thập phương Phật sát
chư Bồ Tát chúng văn ngă danh dĩ, giai tất đăi
đắc thanh tịnh, giải thoát, Phổ Đẳng
tam-muội, chư thâm tổng tŕ, trụ Tam Ma Địa,
chí ư thành Phật, Định trung thường cúng vô
lượng vô biên nhất thiết chư Phật, bất
thất Định ư” (Các chúng Bồ
Tát trong các cơi Phật mười phương nghe danh hiệu
của ta rồi đều đạt được Phổ
Đẳng tam-muội thanh tịnh, giải thoát, các tổng
tŕ sâu, trụ tam-ma-địa; cho đến khi thành Phật,
trong Định thường cúng vô lượng vô biên hết
thảy chư Phật, chẳng mất Định ư).
Sách B́nh Giải giảng: “Phổ
Đẳng tam-muội là thâm định môn. Tam-muội này do
trí nguyện của Phật Di Đà tạo thành, rất sâu
không bờ đáy, nên gọi là thâm Thiền Định. ‘Tất
đổ châu biến’ (đều
thấy trọn khắp)
là nói đến nghiệp dụng của nó”.
Dựa theo lời nguyện trên có thể thấy rằng:
Các vị Bồ Tát trong hội đều cậy vào sức
trí nguyện của Phật Di Đà, do nghe được danh
hiệu Di Đà nên đều đắc Phổ Đẳng tam-muội
v.v... được nguyện lực gia tŕ: trong Định
cúng dường vô lượng chư Phật. Do đến
[mười phương cơi Phật] cúng Phật, nhất
định thấy Phật, nên nói là “tất đổ vô lượng chư Phật” (đều
thấy vô lượng chư Phật).
Kinh Bát Châu lại nói: “Thị Bồ Tát bất tŕ thiên nhăn triệt
thị, bất tŕ thiên nhĩ triệt thính, bất tŕ thần
túc đáo kỳ Phật sát, bất ư thử gian chung
sanh bỉ gian, tiện ư thử tọa kiến chi… Phật
(Thích Tôn) ngôn: ‘Bồ Tát ư thử gian quốc độ,
niệm A Di Đà Phật, chuyên niệm cố đắc
kiến chi. Tức vấn tŕ hà pháp đắc sanh bỉ quốc?
A Di Đà Phật cáo ngôn: Dục lai văng giả,
đương niệm ngă danh”
(Bồ Tát này chẳng
dùng thiên nhăn thấy tỏ, chẳng dùng thiên nhĩ nghe suốt,
chẳng dùng thần túc đến cơi Phật kia, chẳng
từ nơi đây chết sanh về cơi kia, mà ở ngay
nơi chỗ này liền được thấy rơ…
Phật (đức Thích Ca) dạy: - Bồ Tát nơi
cơi nước thế gian này niệm A Di Đà Phật. Do chuyên
niệm nên được thấy. Liền hỏi: - Tŕ
pháp ǵ th́ được sanh sang cơi ấy? A Di Đà Phật bảo
rằng: - Muốn sanh về đó th́ hăy thường niệm
danh hiệu ta).
Do vậy, Niệm Phật tam-muội được gọi
là Bảo Vương tam-muội. V́ thế, môn Thiền Định
thậm thâm thấy được chư Phật ấy
đều hoàn toàn quy trọn về Niệm Phật tam-muội.
V́ lẽ đó, công đức tŕ danh niệm Phật chẳng
thể nghĩ bàn, Nhất Thừa nguyện hải chẳng
thể nghĩ bàn.
“Ư nhất
niệm khoảnh, biến du nhất thiết Phật độ”
(Trong khoảng một niệm, qua
khắp hết thảy cơi Phật): Một niệm chỉ
cho khoảng thời gian thật ngắn ngủi, nhưng
lâu chừng bao nhiêu th́ các thuyết chẳng đồng nhất.
Như quyển thượng kinh Nhân Vương Bát Nhă bảo:
“Cửu thập sát-na vi nhất
niệm, nhất niệm trung chi nhất sát-na, kinh cửu bách
sanh diệt” (Chín mươi sát-na là một niệm. Một
sát-na trong một niệm trải qua chín trăm lần sanh
diệt). Văng Sanh Luận Chú quyển thượng lại
chép: “Một trăm lẻ một
lần sanh diệt là một sát-na. Sáu mươi sát-na là một
niệm”.
Cả hai thuyết cùng cho rằng trong một niệm
có nhiều sát-na (kshanas), nhưng Trí Độ
Luận cho rằng “trong khoảng
khảy ngón tay có sáu mươi niệm”. Quyển mười
tám sách Hoa Nghiêm Thám Huyền Kư ghi: “Sát-na, Hán dịch là Niệm, trong khoảng khảy
ngón tay có sáu mươi sát-na”. Hai thuyết này cùng cho rằng
một niệm chính là một sát-na. Thuyết này giản dị
dễ nhớ nên đời sau hay dùng thuyết này: Một
niệm là một sát-na.
C̣n như trong một sát-na hay một niệm mà có thể
qua khắp các cơi Phật th́ chính là nguyện thứ mười
một của Phật Di Đà: “Ư
nhất niệm khoảnh, bất năng siêu quá ức
na-do-tha bách thiên Phật sát, châu biến tuần lịch,
cúng dường chư Phật giả, bất thủ Chánh
Giác” (Trong khoảng một niệm, chẳng thể
vượt qua ức na-do-tha trăm ngàn cơi Phật, đi
giáp khắp tất cả các chốn cúng dường
chư Phật th́ chẳng lấy Chánh Giác).
Đoạn kinh ở phần trước đă nói: các vị
Đại Sĩ này “tùy thời ngộ
nhập Hoa Nghiêm tam-muội”. Xét về quả, tam-muội
ấy c̣n được gọi là Hải Ấn tam-muội.
Gọi là Ấn là v́ dùng ấn chương của thế
gian để làm thí dụ. Văn tự khắc trên ấn
có thể ngay lập tức cùng lúc hiện ra, chẳng có
sai biệt trước sau; toàn thể cùng phơi bày, chẳng
có điểm nào ẩn giấu.
Gọi là Hải v́ giống như biển cả đồng
thời hiện bóng hết thảy các tướng sai biệt.
H́nh tượng sai khác dẫu muôn ngàn, Thể của nước
nào khác. Muôn tướng khởi lên đầy dẫy
nhưng nước vẫn trong lặng. Có vạn tướng
th́ nước vẫn như thế. Không có tướng th́
nước vẫn như thế. Không có thời gian trước
sau, nên kéo dài hay rút gọn đều cùng một lúc. Ba đời
xưa nay chẳng ngoài cái niệm hiện tiền, cùng hiện
trong nước nên rộng, hẹp tự tại, mười
phương thế giới chẳng ngoài ngay chốn này.
Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Nhất
thiết tự tại nan tư nghị, Hoa Nghiêm tam-muội
thế lực cố” (Hết thảy tự tại khó
nghĩ bàn là do thế lực của Hoa Nghiêm tam-muội). Lại
nữa, sách B́nh Giải viết: “Trong
khoảng một niệm đi khắp trọn vô lượng
cơi Phật là đă đạt đến thế giới Vô
Lượng Thọ Nhất Thừa thanh tịnh, quy kết
về Niệm Phật tam-muội”.
Thuyết này rất sâu sắc! Do bởi niệm Phật
được sanh Cực Lạc, liền có thể nương
vào sức gia bị phát xuất từ nguyện thứ
mười một trong Nhất Thừa nguyện hải của
Di Đà Như Lai mà xuất hiện thần thông diệu dụng
chẳng thể nghĩ bàn như vậy, trong khoảng một
niệm qua khắp các cơi Phật. Đó chẳng phải là
điều Nhị Thừa có thể thấu hiểu
được nổi.
Chánh kinh:
得 佛 辯 才,住 普 賢 行。善 能 分 別 眾 生 語 言,開 化 顯 示 真 實 之 際。超 過 世 間 諸 所 有 法,心 常 諦 住 度 世 之 道。於 一 切 萬 物 隨 意 自 在, 為 諸 庶 類 作 不 請 之 友。受 持 如 來甚 深 法 藏,護 佛 種 性 常 使 不 絕。興 大 悲,愍 有 情,演 慈辯,授 法 眼,杜 惡 趣,開 善 門。於 諸 眾 生,視 若 自 己,拯 濟 負 荷,皆 度 彼 岸。 悉 獲 諸 佛 無 量 功 德,智 慧 聖 明,不 可 思 議。如 是 等 諸 大 菩 薩,無 量 無 邊,一 時 來 集。
Đắc
Phật biện tài, trụ Phổ Hiền hạnh, thiện
năng phân biệt chúng sanh ngữ ngôn, khai hóa hiển thị
chân thật chi tế, siêu quá thế gian chư sở hữu
pháp, tâm thường đế trụ độ thế chi
đạo. Ư nhất
thiết vạn vật tùy ư tự tại, vị chư thứ
loại tác bất thỉnh chi hữu. Thọ tŕ Như Lai
thậm thâm pháp tạng, hộ Phật chủng tánh thường
sử bất tuyệt. Hưng đại bi, mẫn hữu
t́nh, diễn từ biện, thọ pháp nhăn, đỗ ác
thú, khai thiện môn. Ư chư chúng sanh, thị nhược
tự kỷ, chửng tế phụ hà, giai độ bỉ
ngạn, tất hoạch chư Phật vô lượng công
đức. Trí huệ thánh minh, bất khả tư nghị.
Như thị đẳng chư đại Bồ Tát, vô
lượng vô biên, nhất thời lai tập.
Đắc Phật
biện tài, trụ Phổ Hiền hạnh, khéo có thể
phân biệt ngữ ngôn của chúng sanh, khai hóa, hiển thị
Chân Thật Tế, vượt xa các pháp sở hữu của
thế gian, tâm thường trụ chắc chắn nơi
đạo độ thế. Với hết thảy vạn
vật tùy nghi tự tại, v́ các thứ loại làm bạn
chẳng thỉnh, thọ tŕ pháp tạng thậm thâm của
Như Lai, hộ tŕ chủng tánh của Phật khiến cho
thường chẳng đoạn tuyệt. Dấy ḷng
đại bi, thương xót hữu t́nh, diễn từ biện,
trao pháp nhăn, lấp nẻo ác, mở cửa lành. Với các
chúng sanh, xem như chính ḿnh, cứu vớt, gánh vác khiến
đều vượt lên bờ kia, đều đạt
được vô lượng công đức của chư
Phật, trí huệ thánh minh chẳng thể nghĩ bàn. Các
đại Bồ Tát như vậy vô lượng vô biên,
cùng lúc nhóm đến.
Giải:
“Đắc Phật biện tài”: Biện tài (辯 才) là tài năng tuyên nói pháp nghĩa một
cách khéo léo. Đây chính là điều được đề
cập trong Tịnh Ảnh Sớ: “Ngôn th́ biện luận rành rẽ, ngữ th́ khéo léo”.
Trong cuốn Pháp Hoa Sớ, ngài Gia Tường giảng
chữ Biện Tài như sau: “Đáp
ứng nhanh chóng từng căn cơ là Biện, lời lẽ
bóng bảy là Tài”. Như vậy,
có thể nhanh chóng thích ứng với từng căn cơ
mới được gọi là “biện tài”.
Sách Hội Sớ giảng: “Ngôn
âm dứt Hoặc là Biện, tùy cơ hay khéo là Tài, không
điều ǵ chẳng phát xuất từ thánh trí”. Trong
ba thuyết vừa nói, thuyết này hay nhất.
Tịnh Ảnh Sớ lại bảo Như Lai đắc
bốn trí vô ngại, Như Lai dùng trí vô ngại hưng khởi
bốn thứ biện tài:
1. Nghĩa vô ngại biện: Biết rơ nghĩa lư của
hết thảy các pháp v́ thông đạt chẳng úng trệ.
2. Pháp vô ngại biện: Thấu đạt danh tự
của hết thảy các pháp v́ phân biệt chẳng úng trệ.
3. Từ vô ngại biện: Đối với danh từ,
nghĩa lư của các pháp, thuận theo ngôn ngữ khác biệt
của hết thảy chúng sanh ở các nơi khác nhau mà v́
họ diễn nói khiến cho ai nấy đều
được hiểu.
4. Nhạo thuyết vô ngại biện: Tùy theo căn
tánh và pháp muốn được nghe của hết thảy
chúng sanh mà v́ họ diễn thuyết viên dung chẳng trệ.
Thuyết trên đây cho rằng các bậc Đại Sĩ
khế hợp thánh trí, đắc vô ngại biện tài,
khéo thích ứng căn cơ, giảng giải rộng răi,
bàn luận khéo léo nên bảo: “Đắc
Phật biện tài”.
Sách B́nh Giải lại c̣n giải thích rộng thêm
như sau:
“Nếu y vào căn bản
giáo, chỉ nói một chữ cũng là đắc Phật
biện tài v́ truyền lời chân thật của Như Lai
vậy. Chẳng phải chỉ những Bồ Tát này
được như thế mà lời của phàm phu nói
cũng đồng như biện tài của chư Phật. Tán dương công đức Phật
huệ chỉ nhằm để khai hóa kẻ hữu duyên
trong mười phương mà thôi”.
“Trụ Phổ Hiền hạnh”: Trong phần
trước, kinh nói các Đại Sĩ “hàm cộng tuân tu Phổ Hiền Đại Sĩ chi
đức” (đều cùng tuân tu đức của Phổ
Hiền Đại Sĩ). Ở
đây, kinh chép “trụ Phổ
Hiền Hạnh”, ư nói các Đại Sĩ đều an trụ
đại hạnh của Phổ Hiền Đại Sĩ. Mỗi
vị đều dùng mười đại nguyện
vương dẫn dắt quy về Cực Lạc. Trong
kinh Hoa Nghiêm chỉ có một ḿnh ngài Phổ Hiền xướng
xuất, dắt d́u như vậy, c̣n trong kinh này có vô lượng
vô biên Pháp Thân Đại Sĩ có đức hạnh như Phổ
Hiền đều đến nhóm hội, cùng hoằng truyền
Tịnh tông.
“Thiện năng phân biệt
chúng sanh ngữ ngôn” (Khéo hay phân biệt
ngữ ngôn của chúng sanh): Đây là câu trích từ bản
Đường dịch, bản Ngụy dịch ghi “nhập chúng ngôn âm, khai hóa nhất
thiết” (nhập các ngôn âm, khai hóa hết thảy).
Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Nhập có nghĩa là hiểu, hiểu biết các ngôn
âm của chúng sanh, dùng đó
để khởi lên các lời nói”.
Hội Sớ dẫn lời kinh Mật Tích như sau: “Thử tam thiên đại thiên thế
giới hữu bát thập tứ ức bách thiên cai chúng sanh
chi loại, ngôn từ các dị. Kế thị nhất thiết
giai quy nhất nghĩa chí chân chi huệ, Bồ Tát ứng
thù xướng dị ngôn, thuyết pháp khai hóa” (Tam thiên đại thiên thế giới này có
tám mươi tư trăm ngàn cai loại chúng sanh, ngôn từ
đều khác biệt (Cai là một trăm triệu).
Xét ra, hết thảy đều quy về việc ban
cho chúng sanh một nghĩa chí chân. Bồ Tát thuận theo các
loại chúng sanh sai khác mà nói ra những lời khác nhau để
thuyết pháp, khai hóa).
Kinh Mật Tích cũng chép: “Thử Bồ
Tát năng nhập chủng chủng ngôn âm, năng thuyết
pháp khai hóa” (Bồ Tát này nhập
được các thứ ngôn âm nên có thể thuyết pháp,
khai hóa).
Kinh Xưng Tán Đại Thừa Công Đức lại chép: “Bàng sanh quỷ
đẳng, diệc văn Như Lai dĩ tùy loại âm nhi
thuyết pháp” (Các loài bàng sanh,
quỷ v.v... cũng được nghe đức Như
Lai dùng ngôn âm của từng loại mà thuyết pháp).
Do những điều trên, chúng sanh vô biên nên ngôn ngữ
của chúng sanh cũng có nhiều thứ, nhưng Pháp Thân Đại
Sĩ đều hiểu rành rẽ, thuận theo ngôn ngữ
của từng loại mà thuyết pháp, ứng cơ tùy
duyên làm lợi cho khắp tất cả. Chúng sanh trong
đường ác cũng được Như Lai dùng ngôn
âm đúng với chủng loại của ḿnh để giảng
khiến cho họ được nghe pháp đắc độ.
Đoạn kinh này chỉ rơ: Các Đại Sĩ trong hội đều
có trí huệ biện tài và công đức oai lực như
thế.
“Khai hóa hiển thị Chân
Thật chi tế”: Khai hóa chính là ư “khai Phật tri kiến” của
kinh Pháp Hoa. “Hiển thị”
là “thị Phật tri kiến”. “Tế” (際) là bờ mé rốt ráo. “Chân Thật Tế” chính là tri kiến
của Phật.
Toàn thể một bộ diệu pháp Tịnh Độ
đều là Phật tri kiến, chỗ nào cũng là cảnh
giới Hoa Nghiêm. V́ vậy, trong kinh này, câu nào cũng là khai
hóa, hiển thị Chân Thật Tế, đều là “khai thị
ngộ nhập tri kiến của Phật”.
Trí Độ Luận viết: “Như,
Pháp Tánh, Thật Tế, cả ba [danh hiệu này] đều
là tên gọi khác nhau của Thật Tướng của các
pháp”. Sách B́nh Giải viết: “Diệu xứ Thật Tướng tận lư chí cực
gọi là Tế”. Chuẩn theo hai thuyết trên, “Chân Thật”
chính là tên khác của Thật Tướng.
Chân Thật Tế là diệu lư Thật Tướng cứu
cánh chí cực mà cũng chính là tri kiến Phật vậy.
Sách Hội Sớ nói: “Khai hiển
chân thật là hiển thị, nghĩa là đem mười
pháp giới quy về Nhất Thừa quyết định
thành Bồ Đề. Chân Thật
Tế là dùng Nhất Phật Thừa để làm pháp tối
hậu vậy”.
Sách B́nh Giải lại viết: “Nếu y theo Tiểu Thừa th́ thiên chân[8]
là Thật Tế. Nếu xét theo Tiệm giáo th́ ly nhị
biên (rời hai bên Có và Không) là Thật Tế. Nếu xét theo
Thánh Đạo Thật Giáo th́ Thật Tướng của các
pháp là Chân Thật Tế. Nếu
xét theo Tịnh Độ, quang xiển[9]
đạo giáo là quyền phương tiện, thệ nguyện
nhất Phật thừa là Chân Thật Tế, là biển nhất
thật Chân Như vậy. Thánh đạo thủ lư
nhưng không duy lư, Tịnh Độ dùng Sự nhưng chẳng
chỉ biết có Sự (đây chính là Sự tức Lư,
sự sự vô ngại). Nếu
theo cách hiểu của chúng sanh th́ có Sự, Lư, Không, Hữu
sai khác, nhưng nếu đứng trên quan điểm
chư Phật tấm tắc ngợi khen th́ chỉ có thệ
nguyện nhất Phật thừa, biển nhất thật
Chân Như này là Chân Thật Tế”.
Rơ ràng sách Hội Sớ và B́nh Giải cùng xem Nhất Phật
Thừa của Tịnh Tông là Chân Thật Tế và cũng
là tri kiến của Phật vậy. Nay các Đại Sĩ v́
các chúng sanh tuyên diễn thệ nguyện Nhất Phật Thừa
được chư Phật mười phương cùng
khen ngợi, nên nói: “Khai hóa hiển
thị Chân Thật Tế” (nếu hiểu viên thông theo
nhà Thiền th́ như ngài Bố
Đại Ḥa Thượng đă nói: “Chỉ giá tâm tâm tâm thị Phật, nhất thiết
vô như tâm chân thật” (Chỉ có cái tâm tâm, tâm này là Phật,
hết thảy không có ǵ chân thật bằng tâm)).
V́ vậy, Chân Thật Tế chính là tự tâm. Hiểu
rơ bản tâm của chính ḿnh, thấy được bản
tánh của chính ḿnh th́ là “khai
hóa, hiển thị Chân Thật Tế”, nhưng trong pháp
môn Niệm Phật cũng lại là bất nhị: Tâm này
là Phật, tâm này làm Phật. V́ vậy, tâm ḿnh niệm Phật
chính là Chân Thật Tế nên nói rằng: “Một tiếng Phật hiệu, một tiếng
tâm”. Kinh cũng dạy: “Nhược
nhân đản niệm A Di Đà, thị danh vô thượng
thâm diệu thiền” (Nếu ai chỉ niệm A Di Đà th́
gọi là vô thượng thâm diệu Thiền).
Ngoài ra, phẩm ba của kinh này nói Như Lai “dục chửng quần manh, huệ
dĩ chân thật chi lợi” (muốn cứu
vớt quần manh, ban cho họ cái lợi chân thật).
Trong phẩm thứ tám, tỳ-kheo Pháp Tạng “trụ Chân Thật Huệ, dũng mănh tinh tấn, nhất
hướng chuyên chí trang nghiêm diệu độ” (trụ Chân Thật Huệ, dũng mănh tinh tấn,
một dạ chuyên chí trang nghiêm diệu độ).
Ba thứ chân thật sau đây: Chân Thật Tế, Chân
Thật Lợi, Chân Thật Huệ chính là cương lănh của
kinh này; trong phẩm kế tiếp sẽ giảng tường
tận.
“Siêu quá thế gian chư sở
hữu pháp” (Vượt xa
các pháp vốn có của thế gian): Tịnh Ảnh Sớ
giảng: “Nghĩa là vượt
khỏi hết thảy các pháp phần đoạn, biến
dịch của thế gian”.
Sách Hợp Tán giảng: “Vượt
khỏi hai thứ chết: phần đoạn và biến dịch,
an trụ trí Nhị Không xuất thế. Đó chính là thành tựu
Trí Đức và Đoạn Đức”[10].
Sách Hội Sớ giảng: “Tam
giới hư dối đều chẳng thường trụ,
gọi chung là ‘thế gian’. Chúng sanh, cơi nước muôn vàn
sai khác th́ gọi là ‘chư sở hữu pháp’. Bồ Tát do
đại trí huệ thấu đạt tánh không vô tướng
một cách sâu xa nên bảo là ‘siêu quá’ (vượt khỏi)”.
Thuyết của sách B́nh Giải hơi khác với hai
thuyết trước: “Các pháp
sở hữu của thế gian là hữu vi, bị phá hoại
th́ gọi là ‘thế gian’. Y báo, chánh báo, thiện, ác, nhân, quả
v.v... hết thảy các pháp hữu vi gọi là ‘sở hữu
pháp’. Bồ Tát biết được hết thảy tam giới
là hư vọng, nhưng chẳng bỏ hạnh thế
gian nên gọi là ‘siêu quá’ (vượt
khỏi)”.
Các thuyết nói trên đều đúng,
nhưng thuyết của sách B́nh Giải phù hợp với
kinh này nhất.
“Tâm thường đế trụ
độ thế chi đạo”: Đế (諦) là ở yên, chắc
chắn, Độ (度) là ra khỏi. Câu này ư nói: Tâm
thường an trụ trong đạo vô vi xuất thế.
Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Đế là yên ổn, vững vàng, ư nói: Thường
an trụ nơi đạo độ thế vô vi chân thật”.
Sách B́nh Giải nói: “Xuất
hữu vi, chứng vô vi, nhưng không chấp vào vô vi nên bảo
là ‘đế trụ’. Bồ Tát này tâm thường trụ
nơi vô trụ xứ Niết Bàn nên bảo là tâm thường
trụ”.
Lại nữa, sách Hội Sớ viết: “Bi, Trí in vào nhau để làm chỗ
nương náu thần trí nên gọi là đế trụ”.
“Ư nhất thiết vạn
vật tùy ư tự tại” (Với hết thảy vạn vật tùy ư tự
tại): Chữ “vạn vật” chỉ vạn pháp. “Tự
tại” là thông đạt vô ngại. Phẩm Tự kinh Pháp
Hoa có câu: “Tận chư hữu
kết, tâm đắc tự tại” (Tận các hữu
kết[11],
tâm được tự tại). Tự tại c̣n là việc
làm không bị úng tắc, thần thông tự tại. Hễ
tâm vướng mắc th́ bị vật chuyển, thành ra bị
phiền năo trói buộc. Phàm phu chấp Có, Nhị Thừa
trệ (vướng mắc) nơi Không, đều là đọa
trong t́nh chấp, đều là tâm bị vật chuyển,
cho nên với vạn vật chẳng được tự
tại. Đại sĩ thấu hiểu sâu xa pháp tánh, từ
ngay nơi tướng ĺa được tướng, chẳng
bị vật chuyển, nên không bị trói buộc. Nhà Thiền
nói: “Chỉ cần vô tâm với
vạn vật, nào ngại vạn vật thường vây
quanh”.
Tiến lên bước nữa th́ vật bị tâm chuyển
nên có thể tùy ư tự tại như Tịnh Ảnh Sớ
viết: “Do thành tựu thần
thông thù thắng, với hết thảy vật có thể biến
hóa tùy ư, nên có thể lợi vật[12],
ấy là tự tại”. Đại sĩ thần thông tự
tại, với hết thảy vạn vật tâm chẳng bị
câu thúc, tùy duyên biến hóa nhiêu ích chúng sanh: Bỏ núi Tu Di vào
trong hạt cải, chuyển bốn biển vào trong một
đầu lông, tùy ư lợi người nên bảo là “tự
tại”.
“Vị
chư thứ loại tác bất thỉnh chi hữu” (V́ các thứ loại làm bạn chẳng thỉnh): Thứ (庶) là loại, phẩm loại. “Thứ”
c̣n có nghĩa là chúng. “Thứ loại” chỉ chúng sanh. Hội
Sớ giảng chữ “bạn chẳng thỉnh” (bất
thỉnh hữu) như sau:
“Chúng sanh quay lưng với
giác ngộ, ch́m đắm, mê muội, trôi nổi, sanh manh[13]
không có mắt, không có ḷng mong được thoát. Bồ Tát
thương xót họ, không có ư nghĩ mỏi nhàm, thường
làm bạn chẳng thỉnh, tùy duyên yêu thương, che chở.
V́ vậy kinh Niết Bàn có bài kệ rằng: ‘Thế cứu
yếu cầu nhân hậu đắc, Như Lai bất thỉnh
nhi vi quy’ (Thế gian muốn được cứu th́ phải cầu
xin rồi sau đấy mới được cứu.
Như Lai chẳng được thỉnh mà thường
làm chỗ về nương)”.
Kinh Duy Ma lại giảng chữ “bất thỉnh chi hữu” thế này: “Mọi người chẳng thỉnh
mà vẫn làm bạn để giúp cho an ổn”. Ngài
Tăng Triệu nói: “Bạn thật
sự th́ chẳng đợi thỉnh mà giống như từ
mẫu luôn hướng đến con trẻ”.
Ngài Tịnh Ảnh nói: “Do
chúng sanh cần được hóa độ không có căn
cơ cảm được chư thánh cho nên gọi là ‘bất
thỉnh’. Bồ Tát cưỡng hóa nhân duyên, xưng là bạn
để an ổn chúng sanh. Chúng
sanh được hóa độ tuy có đạo cơ
(cơ duyên tiếp nhận đạo), nhưng không ưa
thích, chẳng biết cầu thánh nên gọi là ‘chẳng thỉnh’.
Bồ Tát tùy cơ cưỡng hóa, nên gọi là An”.
“Thọ tŕ Như Lai thậm
thâm pháp tạng” (Thọ tŕ pháp tạng
rất sâu của Như Lai): Câu này có hai cách giải thích:
1. Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Tu cho hiểu được rành rẽ rằng
Như Lai tạng tánh là ‘pháp tạng rất sâu của
Như Lai’. Ám chướng đă trừ, tâm ḿnh hiện rơ
nên gọi là thọ tŕ”. Thuyết này cho rằng minh tâm
là “thọ tŕ pháp tạng rất sâu”.
2. Sách B́nh Giải nói: “Nghe,
tŕ pháp tạng của hết thảy Như Lai trong ba đời,
đa văn quy về nhất văn, nhất văn chính là
nghe một danh hiệu này”. Thuyết này cho rằng nghe
danh hiệu của Phật chính là “thọ tŕ pháp tạng rất
sâu”. Thuyết này rất phù hợp với Tịnh tông.
“Hộ Phật chủng tánh
thường sử bất tuyệt” (Giữ ǵn Phật
chủng tánh khiến thường chẳng tuyệt): Hộ
(護) là giữ ǵn, duy tŕ. Giải thích chữ “Phật
chủng tánh” có nhiều thuyết: Sách Thám Huyền Kư, quyển
mười một viết: “Sở
hạnh của Bồ Tát gọi là Phật chủng”. Tịnh
Ảnh Sớ lại bảo: “Pháp
giới chư độ thị Phật chủng tánh” (Mỗi
pháp giới đều vượt thoát th́ gọi là Phật
chủng tánh).
Thật ra, hai thuyết này giống nhau, đều lấy
lục độ, vạn hạnh của Bồ Tát tu hành
làm Phật chủng tánh. Chữ “độ” ở đây là
vượt thoát ḍng sanh tử, lên bờ Niết Bàn. V́ vậy,
“độ” là Phật chủng tánh.
Sách Hội Sớ dựa vào các kinh, luận cho rằng
Phật chủng tánh có đến bốn nghĩa, ở
đây chỉ nêu lên ba nghĩa:
* Phật tánh chúng sanh cùng có: Trong tâm chúng sanh sẵn
có Như Lai tánh, bổn lai bất biến, sanh ra các công
đức c̣n nhiều hơn cát sông Hằng, nhưng bị
vô minh che lấp, nên dẫu có mà cũng như không. V́ họ,
Bồ Tát liền khởi sự giáo hóa, khai phát Như Lai tạng
mà họ sẵn có. Đó gọi là “thiệu long Phật chủng”
(tiếp nối cho ḍng giống nhà Phật được
hưng thịnh).
* Lấy Bồ Đề tâm làm Phật chủng: Kinh
Hoa Thủ dạy: “Thí như
vô ngưu, tắc vô đề-hồ; nhược vô Bồ
Tát phát tâm, tắc vô Phật chủng. Nhược hữu
ngưu tắc hữu đề-hồ, như thị
nhược hữu Bồ Tát phát tâm, tắc Phật chủng
bất đoạn” (Ví như không có
ḅ, sẽ chẳng có đề-hồ. Nếu không có Bồ
Tát phát tâm, sẽ không có Phật chủng. Nếu có ḅ th́ có
đề-hồ. Cũng vậy, nếu có Bồ Tát phát tâm
th́ Phật chủng chẳng đoạn).
* Lấy xưng danh làm Phật chủng: Kinh Bảo
Vân dạy: “Thí như
chủng thụ, hữu kỳ chủng tử, ly ư hủ
bại, cụ túc sanh nha nhân duyên. Thiện nam tử! Văn
Phật danh giả, đắc kỳ chủng tử, cụ
túc nhân duyên, tiện đắc thọ kư” (Ví như trồng cây, có hạt giống không bị
mục nát của cây ấy, đầy đủ nhân duyên mọc
mầm. Này thiện nam tử! Nghe danh hiệu Phật là
được hạt giống, đầy đủ nhân
duyên liền được thọ kư). Đoạn kinh trên ư
nói: Các thứ hạt giống nếu chẳng mục nát ắt
có khả năng sanh rễ, nảy mầm, mọc lớn
thành cây to. Nghe danh hiệu Phật th́ giống như có
được hạt giống, tín nguyện tŕ danh chính là
đầy đủ nhân duyên, ắt được thọ
kư thành Phật, nên bảo rằng “tŕ danh là Phật chủng”.
Theo Hội Sớ, Bồ Đề tâm và xưng danh hiệu
Phật là Phật chủng tánh; đủ chứng minh rằng
kinh này lấy “phát Bồ Đề tâm, nhất hướng
chuyên niệm” làm tông, đúng là “hộ
Phật chủng tánh, thường sử bất tuyệt” (ǵn
giữ chủng tánh của Phật khiến cho thường
trụ chẳng tuyệt).
Gia Tường Sớ giảng chữ “thường sử bất tuyệt” là: “Muốn làm cho pháp chủng của
Như Lai chẳng dứt vậy”.
Tịnh Ảnh Sớ nói: “Giữ
ǵn cho ĺa chướng, khởi lên những điều lành
không gián đoạn th́ gọi là thường chẳng tuyệt”.
Sách B́nh Giải lại viết: “Đại Luận chép: ‘Nơi không Phật, khen ngợi
danh từ Tam Bảo (Tam Bảo âm)’. ‘Tam Bảo âm’ là thọ tŕ, tuyên nói pháp tạng của
Phật. Chúng sanh do đấy sẽ gieo căn lành, phát sanh
trí, thành tựu những phẩm đức khế Lư, nên hạt
giống Tam Bảo được liên tục lưu truyền,
thường chẳng bị dứt mất”.
Cả ba thuyết trên đây đều hợp lư cả.
Cả mười câu từ “hưng
đại bi” cho đến câu “chửng tế phụ hà, giai độ
bỉ ngạn” (cứu vớt,
gánh vác cho họ đều vượt lên bờ kia) đều
nói về đức hạnh đồng thể đại
bi, vô duyên đại từ của Đại Sĩ.
“Hưng đại bi, mẫn
hữu t́nh” (Dấy ḷng đại bi, thương xót hữu
t́nh): Mẫn (愍) là thương xót nghĩ đến.
Bồ Tát thương xót chúng sanh làm cho tất cả
được thoát khổ, chẳng phải như ḷng bi
do ái kiến của Nhị Thừa, phàm phu nên gọi là
“đại bi”.
Sách Hội Sớ lại viết: “Dẹp khổ là Bi, cho đến Bi là chân thật
b́nh đẳng bi, nên gọi là đại bi”.
Lại như kinh Niết Bàn, quyển mười một
dạy: “Tam thế chư Thế
Tôn, đại bi vi căn bản” (Tam thế chư Thế
Tôn lấy đại bi làm căn bản).
Quyển một kinh Đại Nhật của Mật bộ
ghi: “Bồ Đề tâm vi nhân,
đại bi vi căn bản” (Bồ Đề tâm là nhân,
đại bi là căn bản). V́ vậy, các Đại Sĩ
đều cùng phát tâm Đồng Thể Đại Bi.
“Diễn từ biện”: Do từ tâm mà
thốt lên. Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Nương ḷng Từ mà nói ra th́ gọi là diễn từ
biện”.
“Thọ pháp nhăn” (Trao pháp nhăn): Pháp nhăn là một trong ngũ nhăn của
Như Lai. Ngũ nhăn là nhục nhăn, thiên nhăn, huệ nhăn,
pháp nhăn và Phật nhăn. Pháp nhăn là trí huệ soi thấu suốt
hết thảy pháp môn để độ sanh của Bồ
Tát. Hội Sớ giảng: “Phật
đạo chánh kiến gọi là pháp nhăn”. Tịnh Ảnh
Sớ giảng: “Trí soi chiếu
pháp nên gọi là pháp nhăn”.
Do đó, pháp nhăn là thông đạt thấu suốt các thứ
căn khí của chúng sanh, khéo biết hết thảy pháp cứu
độ, ứng theo căn cơ mà ban pháp để độ
thoát họ. Trí huệ như vậy gọi là “pháp nhăn”. Ngài
Tịnh Ảnh lại viết: “Truyền
dạy pháp khiến cho hiểu biết th́ gọi là trao pháp
nhăn”. Dạy dỗ chúng sanh khiến cho họ đối
với Phật pháp sanh hiểu biết đúng đắn
th́ cũng giống như đem pháp nhăn trao cho chúng sanh vậy.
“Đỗ” (杜: lấp) là làm nghẽn. “Ác thú” (惡 趣: nẻo ác) là ba đường ác: súc sanh, quỉ, địa
ngục. Đường ác rất khổ, muốn cho họ
được thoát khỏi nên dạy người khác ĺa
ác th́ chính là đóng lấp con đường dẫn đến
nẻo ác. Trong kinh này, đức Di Đà có đại nguyện:
“Lai sanh ngă sát, bất phục cánh
đọa ác thú” (Sanh về cơi ta, chẳng bị đọa
trong đường ác nữa) thật đúng là ư “đỗ ác thú” (lấp nẻo
ác).
Sách Hội Sớ lại giảng chữ “khai thiện môn” (mở cửa lành) như sau: “Là đại từ đức. Thiện môn là cửa
Bồ Đề Niết Bàn”. Phẩm Thọ Lạc Vô Cực
của kinh này chép: “Tất
đắc siêu tuyệt khứ, văng sanh vô lượng thanh
tịnh A Di Đà Phật quốc” (Ắt được
siêu tuyệt, văng sanh cơi vô lượng thanh tịnh của
A Di Đà Phật) thật chính là mở cửa lành một cách
chân thật vậy.
“Ư chư chúng sanh, thị
nhược tự kỷ” (với các chúng sanh, xem như chính ḿnh) nghĩa
là đồng thể đại bi. Cái được
người đời yêu mến nhất không ǵ bằng
thân ḿnh. V́ xem chúng sanh như thân ḿnh nên có thể cứu
độ quần sanh, tâm chẳng tạm bỏ. Kinh Niết
Bàn có bài kệ rằng: “Nhất
thiết chúng sanh thọ dị khổ, tất thị
Như Lai nhất nhân khổ” (Hết thảy
chúng sanh hứng chịu các nỗi khổ khác nhau th́
cũng đều như là chính bản thân Như Lai chịu
khổ). V́ vậy, phổ nguyện “chửng tế phụ hà, giai độ
bỉ ngạn” (cứu vớt,
gánh vác cho đều vượt lên bờ kia).
“Chửng” (拯) là cứu giúp,
“tế” (濟) là độ,
làm cho hoàn thành, tạo lợi ích. Do đó, “chửng tế” có nghĩa là cứu độ. Phụ
(負) là gánh vác. Trong kinh Đại Pháp Cự Đà Ra Ni,
Phật dạy:
“Bồ Tát đảm giả,
thệ nguyện hà phụ nhất thiết chúng sanh xuất
ly thế gian…Thí như trưởng giả gia nội phong
nhiêu, đa chư trân bảo, duy hữu nhất tử,
dĩ ái niệm cố, tài bảo, nhạo cụ tất
cai dữ chi, vô hữu b́ quyện. Bồ Tát diệc phục
như thị, nhất thiết nhạo cụ, tận giai
dữ chi. Năi chí linh nhập Vô Dư Niết Bàn, thị cố
danh vi hà phụ trọng đảm” (Trách nhiệm của Bồ Tát là thệ nguyện
gánh vác hết thảy chúng sanh xuất ly thế gian... Ví
như trưởng giả trong nhà giàu có, dư dật, nhiều
của cải, chỉ có một con. V́ thương yêu con
nên của cải, vật yêu thích đều trao hết cho
con, chẳng hề mệt nhọc. Bồ Tát cũng lại
giống như vậy: Hết thảy vật yêu thích đều
trao hết cả cho, cho đến khiến cho chúng sanh nhập
Vô Dư Niết Bàn. V́ vậy, gọi là gánh vác gánh nặng).
Đoạn kinh vừa dẫn trên đă hiển thị sâu
sắc ư nghĩa “chửng tế,
phụ hà”.
“Độ” (度) là đến nơi. “Bỉ
ngạn” (bờ kia) là Niết Bàn. Đại Luận, quyển
mười hai viết: “Nếu
có thể thẳng tiến chẳng lui, hoàn thành Phật
đạo th́ gọi là đáo bỉ ngạn”, ư nói: Đại
Sĩ phổ độ làm cho hết thảy chúng sanh chứng
nhập Vô Dư Niết Bàn rồi chính ḿnh mới chứng
Niết Bàn.
“Tất hoạch chư Phật vô lượng
công đức, trí huệ thánh minh bất khả tư nghị” (Đều đạt
được vô lượng công đức của chư
Phật, trí huệ thánh minh chẳng thể nghĩ bàn): Hai
câu trên đây nói rơ các Đại Sĩ đầy đủ
phước trí nhị nghiêm, là bậc Bồ Tát có địa
vị ngang với quả vị, nhưng từ quả
hướng nhân, đều đă đắc phước
đức trang nghiêm của Như Lai.
“Trí huệ thánh minh bất khả
tư nghị” (Trí huệ thánh
minh chẳng thể nghĩ bàn) chính là các Đại Sĩ đều
đă chứng đắc trí huệ trang nghiêm của
Như Lai (Tịnh Ảnh Sớ và sách B́nh Giải, Hợp
Tán cùng chấp nhận thuyết này).
“Thánh” (聖) là chánh. Ngài Tăng Triệu nói: “Trí huệ là Thể. Thánh minh là Dụng. Không sự
ǵ chẳng chiếu là Thánh. Bồ Tát quyền thật linh
chiếu, chẳng thể dùng ngôn ngữ, suy nghĩ, bàn luận
để h́nh dung nổi, nên bảo là bất khả tư
nghị”.
Ư của Triệu công là: Trí huệ là bản thể,
thánh minh là diệu dụng, đều chiếu rơ, thông
đạt được hết thảy sự, nên gọi
là Thánh. Thật trí và Quyền trí của Bồ Tát phát sanh diệu
dụng sáng tỏ vằng vặc để chiếu soi,
chúng sanh do phàm t́nh nên trọn chẳng thể hiểu nổi,
nên bảo là “bất khả tư” (chẳng thể nghĩ
nổi). V́ hết thảy ngôn ngữ chẳng diễn
đạt nổi nên nói “bất khả nghị” (chẳng
thể bàn nổi). Do ngôn ngữ, phân biệt chẳng thể
diễn đạt được, nên không cách chi mô tả,
bàn luận, h́nh dung nổi trí huệ ấy.
Hơn nữa, “bất khả tư nghị” có hai loại:
- Một là lư không: Do Hoặc t́nh[14]
chẳng thể thấu đạt nổi.
- Hai là thần kỳ: Kẻ trí cạn chẳng thể
suy lường được.
Trí Độ Luận lại viết: “Trong pháp Tiểu Thừa chẳng hề có việc chẳng
thể nghĩ bàn, chỉ trong pháp Đại Thừa mới
có, [ví dụ] như [đức Phật] nói kinh Pháp Hoa trong
sáu mươi tiểu kiếp mà tưởng như trong khoảng
bữa ăn”.
“Như thị đẳng chư đại
Bồ Tát vô lượng vô biên, nhất thời lai tập” (Các vị đại
Bồ Tát như thế vô lượng vô biên, cùng lúc nhóm
đến hội) là câu tổng kết: Các vị đại
Bồ Tát trên đây đức tuân Phổ Hiền, do nghe giảng,
khen ngợi diệu pháp Tịnh Độ, do hoằng truyền
rộng răi nguyện vương Phổ Hiền, v́ phổ
độ thập phương tam thế hết thảy hữu
t́nh văng sanh Tịnh Độ, rốt ráo Niết Bàn, đồng
đức đồng tâm, nên cùng lúc nhóm đến. Tịnh
Ảnh Sớ viết: “V́ pháp,
tâm giống nhau nên cùng lúc nhóm đến”.
Chánh kinh:
又 有 比 丘 尼 五 百 人,清 信 士 七 千 人,清 信 女 五 百人,欲 界 天,色 界 天,諸 天 梵 眾,悉 共 大 會。
Hựu hữu tỳ-kheo-ni
ngũ bách nhân, thanh tín sĩ thất thiên nhân, thanh tín nữ
ngũ bách nhân, Dục giới thiên, Sắc giới thiên,
chư thiên Phạm chúng, tất cộng đại hội.
Lại có tỳ-kheo-ni
năm trăm người, thanh tín sĩ bảy ngàn người,
thanh tín nữ năm trăm người, trời Dục giới,
trời Sắc giới, chư thiên Phạm chúng đều
cùng tới trong đại hội.
Giải:
“Thanh tín sĩ” là Ưu-bà-tắc
(Upāsaka). “Thanh tín nữ”
là
Ưu-bà-di (Upāsikā). Đoạn kinh
trên chỉ thấy trong bản Hán dịch, bản Ngụy
dịch chỉ chép chúng Bồ Tát và tỳ-kheo. Cuối bản
Tống dịch chép: “Tịnh
thiên long bát bộ nhất thiết đại chúng, văn
Phật sở thuyết, giai đại hoan hỷ” (Cùng
trời, rồng, tám bộ hết thảy đại chúng,
nghe lời Phật dạy đều hoan hỉ lớn),
như vậy đều là phần nói rộng của bản
Ngụy dịch vậy (Hết phần Thông Tự).
[1] Hà sa, trần hải:
cát trong sông, bụi trần nhiều như biển cả.
[2] Sắc vị: Sắc vị là cảnh
ngũ dục lục trần. Do Ngài là thái tử nên có nhiều
cung phi, mỹ nữ, của cải, vật chất thừa
mứa (đó là sắc), những thức ăn vật dụng
đều ngon, quư tuyệt hảo (đó là vị).
[3] Quán (灌) có
nghĩa là rưới, xối, dội. Quán Đảnh
nghĩa đen là tưới nước lên đỉnh
đầu.
[4] Vị tôn thánh nói ra bài chú cho hành nhân Mật
Tông tu tập. Chẳng hạn Bổn Tôn của chú Đại
Bi là Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Âm, nhưng Bổn Tôn của Lục
Tự Đại Minh (
[5] Khí mạch (Dhuti), minh điểm là các
thuật ngữ được dùng trong Mật Tông Tây Tạng.
Dhuti là đường dẫn sinh lực dọc theo cột
sống, có những pháp tu riêng để khai mở
đường này (gần giống như cách khai luồng
hỏa hầu Kundalini của Yoga). Minh Điểm (Thigle) là
một điểm nhỏ như hạt gạo được
thừa hưởng từ cha lẫn mẹ, được
coi là tinh túy của toàn bộ cơ thể. Những hành giả
tu tập các pháp như Kalachakra (Thời Luân Kim Cang), Hevajra
(Hỷ Lạc Kim Cang) v.v... sẽ được hướng
dẫn các phương pháp quán tưởng, tŕ tụng, hô hấp
để biến điểm này thành h́nh tượng
tương ứng của Bổn Tôn.
[6] Phần Đoạn Sanh Tử, c̣n gọi
là Hữu Vi Sanh Tử là sự sanh tử của phàm phu
trong tam giới. Gọi là Phần Đoạn v́ do quả
báo từ nghiệp thiện hay ác sai biệt mà có h́nh mạo,
thọ lượng khác biệt. Do thân mạng có dài hay ngắn
khác nhau nên gọi là Phần Đoạn.
[7] Tích Sa Đại Tạng Kinh (thường
gọi là Tích Sa Tạng) là Đại Tạng Kinh khắc
theo bản đời Tống (Tống bản), do chùa Tích
Sa Diên Thánh Viện (tại B́nh Giang Phủ, nay là Ngô Huyện,
tỉnh Giang Tô) khởi sự khắc vào năm Đoan B́nh
nguyên niên (1234) triều Tống Lư Tông đời Nam Tống.
[8] Thiên chân (偏 真) là chân lư chưa rốt ráo, nghĩa là cái
thấy của Tiểu Thừa chưa trọn vẹn, mới
chỉ chứng Ngă Không, chưa chứng được Pháp
Không nên gọi là Thiên (偏: lệch lạc).
[9] Quang xiển: Hoằng dương cho
đạo pháp được sáng ngời, rạng rỡ,
không bị khuất lấp, ẩn tàng.
[10]
Biến dịch sanh tử: C̣n gọi là Vô Vi Sanh Tử, Bất
Tư Nghị Biến Dịch Sanh Tử v.v… tức là sự
sanh tử của bậc A La Hán, Bồ Tát. Các ngài lấy
nghiệp hữu phân biệt vô lậu làm nhân, lấy vô minh
trụ địa làm duyên để cảm lấy báo thân
thô hay diệu tùy theo nguyện lực trong tam giới để
thực hiện bổn nguyện độ sanh, khác với
sự Phần Đoạn Sanh Tử của phàm phu (Phần
Đoạn là thọ mạng dài ngắn, h́nh mạo tốt
xấu do nghiệp lực cảm thành).
Trí
Đức là những trí được chứng đắc
bởi đức Phật gồm Đại Viên Kính Trí, B́nh
Đẳng Tánh Trí, Diệu Quán Sát Trí và Thành Sở Tác Trí.
Đoạn Đức là những phẩm
đức được thành tựu do đoạn trừ
phiền năo, vô minh chẳng hạn Thập Lực, Thập
Bất Cộng, Tứ Vô Sở Úy, Tứ Vô Ngại Biện
Tài v.v…
[11] Hữu kết: Chấp trước
vướng mắc vào Tam Hữu (ba cơi). Do ba cơi (Dục Giới,
Sắc Giới, Vô Sắc Giới) c̣n có phiền năo, ngu si,
vô minh, nên gọi là Hữu.
[12] Lợi vật: Làm lợi lạc, tạo
lợi ích cho chúng sanh.
[13] Sanh manh: Mù từ lúc mới lọt ḷng.
[14] Hoặc t́nh: Những thứ t́nh kiến
phát xuất từ phiền năo (Hoặc). Do phiền năo che lấp
nên sự thấy biết không chân chánh, kiến giải bị
lệch lạc, chủ quan, nên không thể thấy biết
đúng như sự thật nên không thể nào thấu hiểu
cảnh giới bất khả tư nghị được.