20. Đức Phong Hoa Vũ (德
風 華 雨: Gió đức mưa hoa)
Gió viên minh trọn đủ đức nên gọi
là “đức phong”; hoa mầu
nhiệm phấp phới rơi xuống như mưa nên gọi
là “hoa vũ”. Hoa, gió,
hương, ánh sáng nơi cơi Phật ấy đều cùng
làm Phật sự tự nhiên tăng thượng chẳng
thể nghĩ bàn.
Chánh kinh:
其 佛 國
土,每 於 食 時,自 然 德
風 徐 起,吹 諸 羅 網,及
眾 寶 樹,出 微 妙 音,演
說 苦、空、無 常、無 我 , 諸 波 羅 密,流
布 萬 種 溫 雅 德 香。其 有
聞 者,塵 勞 垢習,自 然
不 起。風 觸 其 身,安 和
調 適,猶 如 比 丘 得 滅 盡
定。
Kỳ Phật quốc độ, mỗi
ư thực thời, tự nhiên đức phong từ khởi,
xuy chư la vơng, cập chúng bảo thụ, xuất vi diệu âm, diễn thuyết Khổ, Không, Vô Thường, Vô
Ngă, chư Ba La Mật. Lưu bố vạn chủng ôn
nhă đức hương. Kỳ hữu văn giả, trần
lao cấu tập, tự nhiên bất khởi. Phong xúc kỳ
thân, an ḥa điều thích, do như tỳ-kheo đắc Diệt
Tận Định.
Cơi nước
Phật ấy mỗi lúc đến giờ ăn, tự nhiên gió đức nhè nhẹ nổi
lên thổi qua các lưới báu và các cây báu khiến vang ra
âm thanh mầu nhiệm diễn nói Khổ, Không, Vô Thường,
Vô Ngă, các Ba La Mật, lan tỏa vạn thứ đức
hương ôn nhă. Ai ngửi mùi hương ấy th́ trần
lao, cấu nhiễm, tập khí tự nhiên chẳng khởi.
Gió chạm vào thân liền an ḥa, điều thích, khác nào tỳ-kheo
đắc Diệt Tận Định.
Giải:
Phẩm kinh này trần thuật công đức trang
nghiêm của gió đức và mưa hoa cơi Cực Lạc;
riêng đoạn này nói về gió, đoạn kế sẽ
nói về mưa.
Chữ “đức phong”
(德 風) trích từ bản
Ngụy dịch trong Cao Ly Đại Tạng kinh (bản Ngụy
dịch trong Càn Long Đại Tạng kinh ghi là “đắc phong” (得 風). Đức chính là
điều đạt được từ Công, xin xem lại
lời giải thích về chữ “công đức” ở quyển hai, nên “đức phong” và “đắc phong” mang cùng một
ư nghĩa).
Bản Ngô dịch ghi: “Diệc
phi thế gian chi phong, diệc phi thiên thượng chi phong.
Đô bát phương thượng hạ, chúng phong trung
tinh, tự nhiên hợp hội hóa sanh nhĩ. Bất hàn, bất
nhiệt, thường ḥa điều trung, thích thậm
thanh lương, hảo vô tỷ dă” (Chẳng phải là
gió trong thế gian, cũng chẳng phải là gió cơi trời
mà là những ǵ tinh diệu nhất của các thứ gió
trong cả tám phương và phương trên, phương
dưới tự nhiên hội hợp lại hóa thành gió: chẳng
lạnh, chẳng nóng, thường điều ḥa, thích hợp,
rất mát mẻ, không ǵ khoan khoái bằng).
Câu “chúng phong trung tinh” (những ǵ tinh diệu nhất
trong các thứ gió) phải hiểu như kinh Thủ
Lăng Nghiêm nói: “Như Lai Tạng
trung, tánh phong chân không, tánh không chân phong, thanh tịnh bổn
nhiên, châu biến pháp giới” (Trong Như Lai Tạng, tánh phong là Chân Không, tánh Không là
chân phong, vốn sẵn thanh tịnh, trọn khắp pháp giới).
Nghĩa là: Đó là thứ gió chân thật từ trong tánh đức
nên bảo là “chúng phong trung tinh”.
Quán kinh cũng dạy: “Bát
chủng thanh phong, tùng quang minh xuất” (Tám thứ thanh phong từ quang
minh mà ra). Những ngọn gió cực thanh tịnh từ
tám phương nói trong bản Ngô dịch thật phù hợp
với tám thứ thanh phong nói trong Quán kinh. Nói chung, ngọn
gió thanh lương trong cơi kia chính là “chúng phong trung tinh” (những
ǵ tinh diệu nhất của các thứ gió), “tùng quang minh xuất” (phát xuất từ quang minh) nên gọi là đức phong.
Đức phong như vậy “tự
nhiên từ khởi”. Sách Hội Sớ giảng: “Từ khởi, bất tŕ, bất
sử, thích đắc kỳ trung, nguyện lực linh lại,
tánh bất tạo tác, cố vân tự nhiên” (Nhè nhẹ nổi
lên là chẳng chậm, chẳng nhanh, chỉ vừa phải.
Gió nổi là do công dụng tự nhiên của nguyện lực,
chẳng do tạo tác nên bảo là tự nhiên - Chữ Lại
(籟) chỉ hết thảy các thứ nhạc cụ
có lỗ [bên trong] có lưỡi gà rung. Lại như Trung
Hoa Đại Từ Điển giảng: “Tác phẩm Tề
Vật Luận của Trang Tử có câu: ‘Nhân lại tắc tỷ trúc, địa lại tắc
chúng khiếu, thiên lại tắc nhân tâm tự động,
thị dĩ” (Con người rung động th́ biểu
hiện qua trúc. Đất rung động biểu hiện
qua các hang hốc, trời rung động th́ ḷng người
rúng động, đấy là phải lẽ) Cho nên biết
câu “nguyện lực linh lại” chính là nhằm diễn
đạt ư tưởng công dụng tự nhiên nơi bổn
nguyện tâm lực của Phật Di Đà vậy).
Tiếp theo đấy, kinh giảng rơ về đức
phong. Trước hết kinh nói đến gió khua động
các âm thanh mầu nhiệm. Gió đức nhè nhẹ thổi
qua cây báu, lưới báu khiến chúng vang ra những pháp âm
vi diệu như Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă, các Ba
La Mật…
“Khổ, Không, Vô Thường,
Vô Ngă” chính là bốn tướng của Khổ Đế trong Tứ
Đế. Trong các bản dịch theo lối Tân dịch, bốn
tướng này được dịch là “phi thường, khổ, không, phi ngă”. Câu Xá Luận,
quyển hai mươi sáu giảng: “Phụ thuộc vào duyên nên Vô Thường, tánh nó bức
bách nên là Khổ, trái nghịch với cái được ta
thấy nên là Không; trái nghịch với cái thấy của
ta nên là Vô Ngă”.
Hơn nữa, cái ǵ bức bách th́ gọi là “khổ”. Pháp khổ chuyển
dời nên gọi là “vô thường”.
Hơn nữa, các tướng như nam, nữ, giống,
khác… đều là hư vọng chẳng thật nên bảo
là “không”. Tổng hợp các
cách giải thích trên th́ “bức năo” là:
- Khổ: Pháp Khổ chuyển biến và phải nhờ
các duyên để hiển hiện nên là Vô Thường.
- Thấy có các tướng: nam, nữ, một, khác…
nhưng thật sự chẳng có nên là Không.
- Đă trái nghịch với cái ta thấy biết th́
đương nhiên ta chẳng phải là chủ tể nên
bảo là Vô Ngă.
Chữ “Ba La Mật” xin
xem lại lời giải thích ở phần trước.
Trong cơi Cực Lạc, tiếng nước lẫn tiếng
gió đều có khả năng diễn nói diệu pháp. Văng
Sanh Luận có bài kệ như sau: “Phạm thanh ngộ thâm viễn, vi diệu văn thập
phương” (Phạm
thanh ngộ xa thẳm, vi diệu rền mười
phương). Sách Luận
Chú giải thích chữ “vi diệu”
như sau: “Xuất hữu
nhưng lại là có, nên bảo là vi”. “Xuất hữu” nghĩa
là đă vượt khỏi tam hữu (tam giới).
Sách Luận Chú giảng tiếp: “Do vô dục nên chẳng phải là Dục giới; do
ở trên đất nên chẳng phải là Sắc giới;
do có sắc nên chẳng phải là Vô Sắc giới”. Tịnh
Độ chẳng thuộc vào tam giới, vượt ngoài ba
cơi nên bảo là “xuất hữu”;
nhưng Tịnh Độ lại là có, v́ nó nương vào Nhất
Thừa nguyện hải nên hiện hữu. Ĺa nhị biên,
vượt tứ cú, xuất hữu mà lại hiện hữu,
nên bảo là “vi” (vi diệu).
Sách giảng tiếp: “Danh
có khả năng khai ngộ nên bảo là diệu”. Danh là
một trong năm pháp; hết thảy vạn vật đều
có danh, có tướng. Cái ǵ tai nghe được th́ gọi
là “danh” (名); cái ǵ mắt thấy được th́ gọi là “tướng” (相). Nghe cái danh của vật thể th́ trong tâm ắt liên
tưởng đến cái tướng của nó. Cây báu thuyết
pháp cũng phải dùng đến danh và cú (句: câu). Do danh có khả năng làm cho người nghe khai
ngộ nên gọi là “diệu”.
Pháp âm vi diệu như vậy nên có thể khiến cho
người nghe được giải ngộ sâu xa.
Tiếp đó, kinh nói đức phong c̣n lan tỏa mùi
hương mầu nhiệm: “Ôn
nhă đức hương”. “Ôn” (溫) là ḥa hoăn, tốt
lành. “Nhă” (雅) là đoan chánh. “Đức hương” (德 香)
là
hương có đủ vạn đức. Sách Hội Sớ
nói: “Ôn là ôn ḥa, Nhă là nhă chánh. Mùi
hương đẹp ḷng người là Ôn, khiến
người ĺa ái nhiễm là Nhă”.
Lại v́ mùi hương có đủ vạn đức
nên khiến ai ngửi phải cũng “trần lao cấu tập, tự nhiên bất khởi”
(Trần lao, cấu tập tự nhiên chẳng khởi). “Trần lao” (塵 勞) là tên gọi khác của phiền
năo, đă giải thích chi tiết trong phần trước.
“Cấu tập” là tập
khí phiền năo. “Cấu” (垢) là phiền năo
cấu uế, “tập” (習) là tập tánh,
thói quen. Trần lao cấu tập làm ô nhiễm tâm tánh, sai
khiến chúng sanh. Nay do được đức
hương xông thấu nên những thứ cấu nhiễm
ấy chẳng khởi. Như vậy, mùi hương
cũng làm Phật sự.
Kế đó, kinh nói đến diệu dụng của
gió khi gió chạm vào thân. Đức phong thổi chạm vào thân
th́ tự nhiên an vui, hài ḥa, tâm điều thuận, ư vui
thích, nên bảo là “an ḥa điều
thích”. Niềm vui ấy hệt như niềm vui của
tỳ-kheo chứng đắc Diệt Tận Định.
“Diệt Tận Định” c̣n gọi là Diệt
Tận tam-muội, là môn Thiền Định diệt hết
sáu thức, tâm, tâm sở; phải là bậc thánh giả từ
quả Bất Hoàn (A Na Hàm) trở lên mới chứng nhập
được Định này. Như vậy, diệu dụng
này của gió cũng chính là kết quả của lời
nguyện “vui như lậu tận”.
Đoạn kinh tiếp theo đây sẽ nói đến gió
thổi các loại hoa tụ lại phô bày màu sắc mầu
nhiệm; hoa bay như mưa nên bảo là “hoa vũ” (mưa
hoa). Đoạn kinh dưới đây trần thuật công
đức của mưa hoa.
Chánh kinh:
復 吹 七 寶 林 樹,飄 華 成 聚。種 種 色 光,徧 滿 佛 土。隨 色 次 第,而 不 雜 亂。柔 軟 光 潔,如 兜 羅 綿。足 履 其 上,沒 深 四 指。隨 足 舉 已,還 復 如 初。過 食 時 後,其 華 自 沒。大 地 清 淨,更 雨 新 華。隨 其 時 節,還 復 周 徧。與 前 無 異,如 是 六 反。
Phục xuy thất bảo lâm thụ, phiêu hoa thành tụ,
chủng chủng sắc quang,
biến măn Phật độ. Tùy sắc thứ đệ, nhi bất tạp
loạn. Nhu nhuyễn quang khiết, như Đâu La Miên, túc
lư kỳ thượng, một thâm tứ chỉ. Tùy túc cử
dĩ, hoàn phục như sơ. Quá thực thời hậu,
kỳ hoa tự một. Đại địa thanh tịnh,
cánh vũ tân hoa. Tùy kỳ thời tiết, hoàn phục châu
biến, dữ tiền vô dị, như thị lục phản.
Lại thổi
qua rừng cây bảy báu, cuốn hoa tụ lại thành vầng,
các thứ quang sắc đầy ắp cơi Phật. Hoa lần
lượt tụ lại theo từng mầu riêng biệt
chẳng tạp loạn, mềm mại, sáng, sạch
như Đâu La Miên. Chân đạp lên trên, hoa lún xuống
sâu bốn ngón. Hễ giở chân lên, hoa trở lại
như cũ. Quá khỏi giờ ăn, hoa ấy tự biến
mất, đại địa thanh tịnh, lại mưa
hoa mới. Tùy theo thời tiết, tuần hoàn trọn khắp
như trên chẳng khác. Mưa sáu lần như thế.
Giải:
Gió đức trong cơi ấy lại có các diệu dụng
như sau: Trước hết là gió thổi động các
vật phát ra âm thanh diễn thuyết diệu pháp; kế
đó là gió đưa hương, ai ngửi thấy liền
được thanh tịnh; ba là gió đức thổi chạm
vào thân liền cảm thấy vui thú như đắc Diệt
Tận Định; bốn là gió thổi cuốn hoa rơi
đầy cơi nước. Gió thổi qua những cây báu cuốn
hoa tự nhiên tụ lại thành từng loại theo mầu
sắc, ánh sáng riêng biệt xanh, vàng, đỏ, trắng, trọn
khắp cơi nước.
V́ thế kinh chép: “Phiêu hoa
thành tụ, chủng chủng quang sắc biến măn Phật
độ. Tùy sắc thứ đệ,
nhi bất tán loạn” (Cuốn hoa tụ lại thành vầng, các thứ
quang sắc đầy ắp cơi nước. Hoa lần
lượt tụ lại theo từng mầu riêng biệt
chẳng tạp loạn). Bản Ngô dịch ghi như sau: “Xuy thất bảo thụ, giai
tác ngũ âm thanh. Dĩ thất bảo thụ hoa tất phú
kỳ quốc trung, giai tán Phật cập chư Bồ Tát,
A La Hán thượng” (Thổi qua cây bảy báu vang ra tiếng
ngũ âm; khiến cho hoa của cây bảy báu rải khắp cơi
nước, đều rải trên Phật và chư Bồ
Tát, A La Hán). Hoa của các cây báu theo gió thổi bay vờn
trên không cúng dường thánh chúng như trời đổ
mưa hoa phủ khắp cơi Phật. Văng Sanh Luận bảo
hoa báu phủ đất có hai điều thù thắng:
1. Một là diệu sắc thù thắng (màu sắc vi diệu
thù thắng), gió thổi hoa theo thứ lớp, tụ lại
thành từng loại. Hoa xanh, vàng, đỏ, trắng đều
tụ lại theo đúng mầu của chúng. V́ thế kinh
nói: “Tùy sắc thứ đệ,
nhi bất tạp loạn” (theo từng mầu riêng biệt chẳng
tạp loạn). Hoa báu phủ đất như tranh vẽ,
như gấm thêu: “Chủng chủng
quang sắc, biến măn Phật độ” (Các thứ
quang sắc đầy ắp cơi Phật). Đấy là diệu
sắc thù thắng.
2. Hai là diệu xúc thù thắng (đụng chạm vào tạo
cảm giác vi diệu thù thắng). Kinh dạy: “Nhu nhuyễn quang khiết”. Chữ
“quang” chỉ các thứ quang
sắc vô lượng như đoạn trên đă nói. “Khiết” (潔) nghĩa là thể
chất của hoa thanh tịnh. “Nhu
nhuyễn” (mềm mại) chính là cảm giác thù thắng
khi đụng chạm vào hoa. “Đâu
La Miên” (
Tiếp đó, hoa rơi sáu lần trong một ngày;
điều này cũng giống như kinh A Di Đà dạy: “Trú dạ lục thời, vũ
Mạn Đà La hoa” (Ngày
đêm sáu thời trời mưa hoa Mạn Đà La). Sáu thời
là buổi sáng, chính ngọ, lúc mặt trời lặn,
lúc đầu đêm, lúc giữa đêm, lúc cuối đêm.
Buổi sáng mưa hoa, “quá
thực thời hậu, kỳ hoa tự một. Đại
địa thanh tịnh, cánh vũ tân hoa” (quá khỏi giờ
ăn, hoa ấy tự nhiên biến mất; đại
địa thanh tịnh, lại mưa hoa mới). Chữ “thực thời” chỉ lúc
ăn cơm, tức là lúc chính ngọ vậy. Kinh Sa Di Thập
Giới Nghi Tắc nói: “Nhược
thọ trai thực thời, bất đắc quá Ngọ
trung” (Như lúc thọ
trai th́ chẳng được ăn quá giờ Ngọ).
Như vậy, câu kinh trong kinh Vô Lượng Thọ
đây ngụ ư: Vào lúc giữa trưa, hoa được rải
vào buổi sáng sẽ tự nhiên biến mất, đại
địa thanh tịnh như cũ. Ngay khi đó, trên không
lại mưa xuống hoa mới. Suốt cả sáu thời
như thế: Hoa tuôn xuống, hoa biến mất đi, tuần
hoàn như vậy nên kinh bảo: “Tùy
kỳ thời tiết, hoàn phục châu biến” (tùy theo thời tiết tuần
hoàn trọn khắp). “Hoàn phục”
(還 復)có nghĩa là lần
lượt xoay ṿng, trở lại từ đầu. “Châu biến” (周 遍) là đầy khắp cả cơi
nước. “Dữ tiền vô
dị, như thị lục phản” (Sáu lượt
như thế giống như trên không khác): “Lục phản”
là sáu lượt, giống như chữ “lục thời vũ hoa” (sáu thời mưa hoa) trong kinh Tiểu Bổn.
Nhưng “ngày đêm” trong
cơi Cực Lạc cũng chỉ là thuận theo tập tục
cơi này mà nói. Sách Yếu Giải giảng: “Y báo và chánh báo cơi ấy đều có quang minh; chẳng
cần nhờ đến mặt trời, mặt trăng
để phân định là ngày hay đêm. Chỉ là thuận
theo phương này (tức cơi Sa Bà) nên mới giả nói có
sự phân chia giờ khắc
như thế”. Sách Sớ Sao giảng thêm: “Cơi ấy đă chẳng có Tu Di
mà cũng chẳng có mặt trời, mặt trăng, luôn
sáng sủa, không tối tăm, nên chẳng phân biệt là
ngày hay đêm. Chỉ lấy hoa nở, chim hót là ngày; hoa khép
lại, chim đậu lại là đêm”. Ngài Từ Ân
cũng viết trong sách Di Đà Thông Tán rằng: “Ao vàng hoa nở, người hóa
sanh nghĩ là lúc ban ngày. Chim đậu rừng quỳnh, Bồ
Tát nghĩ là trời đă tối”. Các thuyết khác
cũng nói như vậy.
Riêng sách Viên Trung Sao lại c̣n giải thích ở một
mức độ cao hơn như sau: “Trộm nghĩ: Việc lấy hoa nở, chim hót làm
ban ngày; coi lúc chim đậu, hoa khép là đêm chỉ là khí phận
của cơi Phàm Thánh Đồng Cư, c̣n chưa quên được
những điều thuộc uế độ đáng lẽ
phải nên quên đi. [Ấy là v́] chúng sanh văng sanh đa số
là kẻ mang nghiệp đi văng sanh. C̣n trong ba cơi trên, ắt
chẳng hề có tướng trạng như vậy”.