41. Hoặc tận kiến Phật ( - Hết phiền năo sẽ gặp Phật)

Chánh kinh:

王,有 獄,王 罪,禁 中。層 殿,寶 床。欄 座,妙 珍。飲 服,如 王。而 足。諸 子,甯 不?慈 言:不 尊。彼 時,心 在,但 便,欲 離。求 臣,終 心。輪 喜,方 脫。

Thí như Chuyển Luân thánh vương, hữu thất bảo ngục, vương tử đắc tội, cấm bế kỳ trung, tằng lâu, ỷ điện, bảo trướng, kim sàng. Lan, song, tháp, tọa, diệu sức kỳ trân . Ẩm thực y phục, như Chuyển Luân Vương, nhi dĩ kim tỏa hệ kỳ lưỡng túc. Chư tiểu vương tử ninh nhạo thử phủ?

Từ Thị bạch ngôn: - Bất dă, Thế Tôn! Bỉ u trập thời, tâm bất tự tại, đản dĩ chủng chủng phương tiện, dục cầu xuất ly, cầu chư cận thần, chung bất túng tâm. Luân Vương hoan hỷ, phương đắc giải thoát.

Thí như Chuyển Luân thánh vương có ngục bảy báu, vương tử đắc tội bị giam kín trong ấy. Lầu tầng, điện vẽ, màn báu, giường vàng, bao lơn, cửa sổ, sập, ṭa, trang hoàng khéo léo, quư lạ; thức ăn, y phục đều như Chuyển Luân vương, nhưng dùng xích vàng xiềng hai chân. Các tiểu vương tử ấy có ưa thích chuyện ấy chăng?

- Thưa Thế Tôn, không ạ! Khi họ bị giam kín, tâm chẳng tự tại, chỉ toan dùng mọi phương tiện để mong thoát khỏi, cầu cạnh các cận thần, trọn chẳng dám buông lung. Luân Vương hoan hỷ th́ mới được giải thoát.

Giải:

Phẩm này tiếp tục khuyên hành giả phải đoạn nghi trừ hoặc.

Trước hết, Phật dùng ngay chuyện vương tử bị tù làm thí dụ. Ngài Gia Tường nói: “Chuyển Luân Thánh Vương ví cho Vô Lượng Thọ Phật. Cung điện bảy báu ví cho cơi Tịnh Độ. Vương tử mắc tội ví như người mắc tội nghi hoặc. Xích vàng ví như hoa sen chẳng nở. Thức ăn, y phục đều như Chuyển Luân vương là ví hành nhân ở trong hoa sen hưởng các sự khoái lạc tự tại…”

“Tằng lâu” ( ) là lầu gác nhiều tầng. “Sàng” () là chỗ để người ta ngồi hoặc nằm.“Trướng” () là bức treo hay căng trên giường. “Tháp” () cũng là một loại giường; loại giường dài, hẹp mà thấp th́ gọi là “tháp”. “

Diệu sức kỳ trân” (Trang hoàng khéo léo, quư lạ) nghĩa là dùng các thứ kỳ trân dị bảo trang hoàng hết sức khéo léo.

Trong từ ngữ “u trập” th́ U () là tù tội, Trập () là cầm giữ; như vậy, từ ngữ “u trập” giống với từ ngữ “câu lưu” (拘留) hiện thời.

Trong lời đáp, ngài Di Lặc trước hết thưa rằng: Hễ bị giam cầm th́ thiếu hẳn niềm vui tự tại nên ai nấy đều dùng mọi phương tiện để mong thoát ra.

Chánh kinh:

勒:此 生,亦 是。若 悔, 智,至 智。於 根,不 信。由 故,雖 國,於 現。彼 胎,猶 殿 想。何 故?彼 淨,無 惡。然 中,不 寶,不 佛,遠 根。以 苦,不 樂。若 本,深 責,求 處。 中,過 已,然 出。

Phật cáo Di Lặc: - Thử chư chúng sanh, diệc phục như thị. Nhược hữu đọa ư nghi hối, hy cầu Phật trí, chí quảng đại trí. Ư tự thiện căn, bất năng sanh tín. Do văn Phật danh khởi tín tâm cố, tuy sanh bỉ quốc, ư liên hoa trung bất đắc xuất hiện. Bỉ xử hoa thai, do như viên uyển cung điện chi tưởng.

Hà dĩ cố? Bỉ trung thanh tịnh vô chư uế ác; nhiên ư ngũ bách tuế trung, bất kiến Tam Bảo, bất đắc cúng dường phụng sự chư Phật, viễn ly nhất thiết thù thắng thiện căn. Dĩ thử vi khổ, bất sanh hân nhạo. Nhược thử chúng sanh thức kỳ tội bổn, thâm tự hối trách, cầu ly bỉ xứ. Văng tích thế trung, quá thất tận dĩ, nhiên hậu năi xuất.

Phật bảo Di Lặc:

- Các chúng sanh kia cũng giống như thế. Nếu có kẻ do đọa vào nghi hối, mong cầu từ Phật trí cho đến quảng đại trí, chẳng thể sanh nổi ḷng tin đối với thiện căn của chính ḿnh; nhưng do nghe danh hiệu Phật phát khởi ḷng tin th́ tuy được sanh về cơi ấy, nhưng phải ở trong hoa sen chẳng được xuất hiện. Kẻ ấy ở trong hoa thai mà tưởng như đang ở trong vườn hoa, cung điện.

V́ sao thế? Trong ấy thanh tịnh, không có các uế ác, nhưng trong năm trăm năm chẳng thấy Tam Bảo, chẳng được cúng dường, phụng sự chư Phật, xa ĺa hết thảy thiện căn thù thắng, nên coi đó là khổ, chẳng sanh ḷng vui thích. Nếu những chúng sanh ấy biết rơ gốc tội của chính ḿnh, tự hối trách sâu xa, cầu được thoát khỏi chốn đó th́ khi những lỗi lầm trong đời trước đă hết sạch rồi, sau đấy mới được thoát khỏi.

Giải:

Câu “diệc phục như thị” (cũng giống như vậy) là nêu sự việc để phối hợp với những ví dụ trong phần trước: “Hoa thai” tương ứng với “thất bảo ngục” (ngục bằng bảy báu); “bất đắc xuất hiện” (chẳng được xuất hiện) tương ứng với “nhi dĩ kim tỏa, hệ kỳ lưỡng túc” (dùng xích vàng xiềng cả hai chân); “do như viên uyển cung điện chi tưởng” (tưởng như đang ở trong vườn hoa, cung điện) tương ứng với “tằng lâu ỷ điện… như Chuyển Luân Vương” (lầu tầng, điện vẽ… như Chuyển Luân vương); “bất sanh hân nhạo” (chẳng sanh ḷng ưa thích) tương ứng với “vương tử bất lạc” (vương tử chẳng vui). Từ câu “thức kỳ tội bổn” (biết gốc tội ḿnh) cho đến “nhiên hậu năi xuất” (sau đấy mới được thoát khỏi) tương ứng với “Luân vương hoan hỷ, phương đắc giải thoát” (Luân Vương hoan hỷ mới được giải thoát).

Sách Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Ư nói Thai Sanh không có các nỗi khổ ǵ khác, chỉ v́ trong năm trăm năm chẳng được thấy Tam Bảo, chẳng được tu thiện nên coi đó là khổ. Do có nỗi khổ đó nên dẫu vui mà chẳng thấy vui”.

Ngài Nghĩa Tịch lại bảo: “Do cầu sự vui thù thắng nên coi sự vui kém cỏi là khổ; như ưa thích cái vui bậc thượng, chán cái vui hèn kém, nên coi đó là cái khổ về bậc thô. Tuy gọi là khổ, nhưng chẳng hề chịu khổ”.

Trong tác phẩm Vô Lượng Thọ Kinh Sao, ngài Vọng Tây lại viết: “Hỏi: Sanh vào Biên Địa là cái quả của tâm nghi hay là quả của việc tu thiện?

Đáp: Chính là quả của việc tu thiện, chứ chẳng phải là quả của tâm nghi. Nhưng do tâm nghi xen tạp nên đạt được cái quả chẳng thuần tịnh”.

Từ chữ “nhược thử chúng sanh” (nếu chúng sanh ấy) trở đi chính là lời khuyên đoạn nghi, biết tội, sám hối cầu thoát khỏi. Bản Ngụy dịch ghi chữ gốc tội (tội bổn) là “bổn tội” (cái tội chánh yếu, tội căn bản). Sách Hội Sớ giảng: “Bổn tội là tội nghi hoặc”.

Ngài Vọng Tây bảo: “Nghi năm trí của Phật th́ gọi là tội bổn, chứ chẳng phải là những nghiệp Thập Ác v.v...”

Ngài Nghĩa Tịch giảng câu “thâm tự hối trách” (tự hối trách sâu xa) như sau: “Nói đến hối trách th́ tự xét kỹ cái tâm là Hối (); quở trách cái tâm mê là Trách ()”.

Ngài Vọng Tây c̣n bảo: “Hết năm trăm năm rồi th́ túc chướng mỏng nhẹ, biết tội ḿnh nên sanh hối trách. Do hối trách nên hết chướng, liền đến được chỗ A Di Đà Phật”.

Trong tác phẩm Lược Luận, ngài Đàm Loan cũng bảo: “Biết gốc tội của ḿnh, tự hối trách sâu xa, cầu thoát khỏi chốn ấy liền được như ư, lại thuộc vào ba bậc văng sanh. Phải hết năm trăm năm rồi mới biết tội mà sám hối”.

Cả hai vị Đàm Loan và Vọng Tây cùng cho rằng đến cuối thời gian năm trăm năm mới hối tội và được thoát khỏi Biên Địa.

Ngài Gia Tường lại nghĩ khác, trong Gia Tường Sớ, Ngài viết: “Nói ‘thâm tự hối trách’ là ngụ ư: [Chúng sanh trong chốn Biên Địa] chẳng phải chỉ có một loại. Hễ sám hối liền được thoát khỏi, chẳng cần phải hối trách trọn cả năm trăm năm”.

Thật ra, hai thuyết trên chẳng hề mâu thuẫn nhau. Cuối thời gian năm trăm năm mới biết tội, sám hối là nói về đa số người nơi Biên Địa; chẳng cần đợi đến năm trăm năm, hễ sám hối liền được thoát khỏi th́ chính là nói đến những kẻ thượng căn.

“Quá thất dĩ tận” (Tội lỗi hết sạch) là khi những cái tội nghi hoặc trong quá khứ đă sám trừ hết sạch rồi th́ mới được thoát khỏi nghi thành, gặp Phật, nghe pháp.

Như vậy là chẳng cần biết là trong thời gian năm trăm năm hay phải đến cuối thời gian ấy; cứ hễ khi nào tội lỗi cũ đă tiêu diệt hoàn toàn th́ mới được giải thoát.

Chánh kinh:

即 得 往 詣 無 量 壽 所,聽 聞 經 法。久 久 亦 當 開 解 歡 喜,亦 得 遍 供 無 數 無 量 諸 佛,修 諸 功 德。汝 阿 逸 多, 當 知 疑 惑 於 諸 菩 薩 為 大 損 害,為 失 大 利,是 故 應 當 明 信 諸 佛 無 上 智 慧。

Tức đắc văng nghệ Vô Lượng Thọ sở, thính văn kinh pháp. Cửu cửu diệc đương khai giải, hoan hỷ, diệc đắc biến cúng vô số vô lượng chư Phật, tu chư công đức. Nhữ A Dật Đa! Đương tri nghi hoặc ư chư Bồ Tát vi đại tổn hại, vi thất đại lợi. Thị cố ưng đương minh tín chư Phật vô thượng trí huệ.

Liền được đến chỗ Vô Lượng Thọ Phật nghe giảng kinh pháp, lâu ngày cũng sẽ khai giải, hoan hỷ, cũng sẽ cúng dường khắp vô số vô lượng chư Phật, tu các công đức. Ông A Dật Đa! Nên biết rằng: Đối với các vị Bồ Tát, nghi hoặc chính là điều tổn hại lớn, là mất lợi ích lớn. V́ vậy, phải tin rành rẽ vào trí huệ vô thượng của chư Phật.

Giải:

Ngài Gia Tường giảng câu “tức đắc văng nghệ Vô Lượng Thọ sở” (liền được đến chỗ Phật Vô Lượng Thọ) như sau: “Tức đắc nghĩa là chẳng cách trở về mặt thời gian”, ư nói: Vừa ra khỏi hoa sen th́ ngay lập tức diện kiến đức Phật, nghe pháp, chẳng cần phải mất chút thời khắc nào.

Cửu cửu diệc đương khai giải hoan hỷ” (Lâu dần cũng sẽ được khai giải, hoan hỷ) nghĩa là: Người ấy do đời trước “trí huệ bất minh, tri kinh phục thiểu” (trí huệ chẳng sáng suốt, biết kinh càng ít hơn nữa) nên nay tuy được đích thân gặp Phật Di Đà, tai nghe lời giáo huấn của Phật, nhưng tâm cấu chưa trừ, t́nh chấp, kiến chấp vẫn c̣n. Bởi thế cần phải đa văn huân tập, tăng trưởng trí huệ th́ mới có thể tin hiểu được lời Phật. V́ thế, kinh nói: Cửu cửu diệc đương khai giải hoan hỷ” (Lâu ngày cũng sẽ được khai giải, hoan hỷ).

“Khai giải” ( ) là tâm khai đắc giải. “Hoan hỷ” ( ) là nghe pháp liền lănh hội nên tự nhiên hoan hỷ.

“Diệc đắc biến cúng” (Cũng được cúng khắp) chính là như ngài Đàm Loan giảng: “Liền được như ư, lại thuộc vào ba bậc văng sanh”, đầy đủ các thần thông cúng trọn khắp các đức Phật, tùy ư tu tập các công đức đúng như bổn nguyện của Phật Di Đà.

“A Dật Đa” (Ajita) là tên của ngài Từ Thị. Đức Thích Ca lại kêu tên Ngài lần nữa để cảnh tỉnh đại chúng chuyên tâm lắng nghe. “Đương tri nghi hoặc ư chư Bồ Tát vi đại tổn hại, vi thất đại lợi. Thị cố ưng đương minh tín chư Phật vô thượng trí huệ” (Nên biết rằng: Đối với các Bồ Tát, nghi hoặc là điều tổn hại lớn, là đánh mất lợi ích lớn. V́ vậy, phải tin rành rẽ vào trí huệ vô thượng của chư Phật).

Đối với vấn nạn “v́ sao Bồ Tát c̣n có nghi hoặc”, sách Vô Lượng Thọ Kinh Sao viết: “Phải chăng là phàm phu Đại Thừa mà gọi là Bồ Tát? Hoặc là nói giả dụ: Nếu Bồ Tát mà c̣n có nghi hoặc th́ cũng bị mất lợi ích lớn nên phàm phu lại càng phải tin rành rẽ [vào Phật trí] vậy”.

Lời bàn trên rất khiêm nhường, chưa dám quyết đoán. Theo ư người viết, cả hai thuyết nêu trong tác phẩm trên đều đúng:

1. Thứ nhất là bọn chúng ta tuy là phàm phu dẫy đầy, nhưng nếu có thể chân thật phát khởi Bồ Đề tâm th́ chính là Sơ Phát Tâm Bồ Tát. Sách Luận Chú nói: “Tâm Bồ Đề vô thượng này chính là tâm nguyện làm Phật. Tâm nguyện làm Phật chính là tâm độ chúng sanh. Tâm độ chúng sanh chính là tâm nhiếp thủ chúng sanh sanh về cơi có Phật”. Hành nhân Tịnh nghiệp nếu phát được cái tâm như thế th́ cũng chính là sơ phát tâm Bồ Tát. Ngài Thiên Thai bảo Bồ Tát thuộc Tín vị (thuộc những địa vị trong Thập Tín) trong Biệt giáo giống như những sợi tơ trên không trung lờ lững vô định. V́ thế, Sơ Phát Tâm Bồ Tát thật sự c̣n có nguy cơ bị thoái đọa.

2. Thứ hai là “nói giả dụ”, nghĩa là dù thật sự là Bồ Tát mà nếu sanh ḷng nghi hoặc th́ cũng bị mất lợi lớn. Do đó, bọn phàm phu chúng ta càng lại chẳng nên sanh nghi.

V́ thế, cả hai thuyết này chẳng hề mâu thuẫn nhau.

“Đại lợi” (Lợi lớn) chính là “cái lợi chân thật” như trong kinh đă dạy. Thập phương Bạc Già Phạm (Thế Tôn) trụ trong Chân Thật Huệ để khai hóa, hiển thị Chân Thật Tế “dục chửng quần manh, huệ dĩ chân thật chi lợi, nan trị, nan kiến, như Ưu Đàm hoa hy hữu xuất hiện” (muốn cứu vớt quần manh, ban cho cái lợi chân thật, khó gặp, khó thấy như hoa Ưu Đàm ít khi xuất hiện). Nay đấng khó gặp đă được gặp, điều khó nghe đă được nghe mà chẳng tin nhận th́ thật là bội bạc ơn Phật nên bảo là “vi thất đại lợi” (mất lợi ích lớn).

Hơn nữa, pháp môn Tịnh Độ: Nhất Thừa nguyện hải, sáu chữ hồng danh, tín nguyện tŕ danh chứng ngay lên Bất Thoái đây chính là điều chân thật nhất trong những điều chân thật, là điều lợi lớn lao nhất trong những điều lợi lớn lao. Chẳng tin pháp này th́ vĩnh viễn đánh mất cái lợi lớn.

Kinh Thiên Thủ dạy: “Nhược ư thử đà-ra-ni sanh nghi bất tín giả, đương tri kỳ nhân vĩnh thất đại lợi. Bách thiên vạn kiếp trung, luân chuyển ác thú, vô hữu xuất kỳ, thường bất kiến Phật, bất văn pháp, bất đổ tăng” (Nếu đối với đà-ra-ni này mà sanh nghi chẳng tin th́ nên biết rằng người ấy vĩnh viễn đánh mất cái lợi lớn. Trong trăm ngàn muôn kiếp luân hồi trong nẻo ác, chẳng có lúc ra, thường chẳng thấy Phật, chẳng nghe pháp, chẳng gặp Tăng). Câu kinh này đă chỉ rơ nghi hoặc là “vi đại tổn hại” (điều tổn hại lớn).

Trái lại th́ như kinh Thập Văng Sanh đă nói: “Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, chánh tín thị kinh, ái nhạo thị kinh, quán đạo chúng sanh, thuyết giả, thính giả, tất giai văng sanh A Di Đà Phật quốc. Nhược hữu như thị đẳng nhân, ngă tùng kim nhật thường sử nhị thập ngũ Bồ Tát hộ tŕ thị nhân, thường linh thị nhân vô bệnh, vô năo. Nhược nhân, nhược phi nhân, bất đắc kỳ tiện. Hành, trụ, tọa, ngọa, vô vấn trú dạ, thường đắc an ổn” (Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân chánh tín kinh này, yêu mến kinh này, quán sát, dẫn dắt chúng sanh th́ kẻ nói, người nghe đều được văng sanh cơi A Di Đà Phật. Nếu có những người như vậy th́ từ hôm nay, ta thường sai hai mươi lăm vị Bồ Tát hộ tŕ những người ấy, thường khiến cho họ không bệnh tật, không khổ năo, dù là người hay phi nhân chẳng có dịp khuấy nhiễu họ. Đi, đứng, nằm, ngồi, bất luận là ngày hay đêm thường được an ổn).

Câu kinh này đă nêu rơ điều đại lợi do tin nhận. Điều nào nên bỏ, điều nào nên thuận theo, xin hăy khéo suy nghĩ kỹ!

Tiếp đó, kinh nói đến cái tai hại lớn của việc nghi báng. Kinh Thập Văng Sanh c̣n dạy:

“Ư hậu Diêm Phù Đề, hoặc hữu tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, kiến hữu độc tụng thị kinh giả, hoặc tương sân khuể, tâm hoài phỉ báng. Do thị báng chánh pháp cố, thị nhân hiện thân chi trung, lai trí chư ác trọng bệnh, thân căn bất cụ, lung, manh, ám, á, thủy thũng, quỷ mị, tọa, ngọa bất an, cầu sanh bất đắc, cầu tử bất đắc, hoặc năi trí tử, đọa ư địa ngục. Bát vạn kiếp trung, thọ đại khổ năo, bách thiên vạn thế, vị tằng văn thủy thực chi danh. Cửu hậu đắc xuất, tại ngưu, mă, trư, dương, vị nhân sở sát, thọ đại khổ năo. Hậu đắc vi nhân, thường sanh hạ xứ, bách thiên vạn thế bất đắc tự tại, vĩnh bất văn Tam Bảo danh tự. Thị cố, vô trí vô tín nhân trung, mạc thuyết thị kinh dă” (Sau này trong Diêm Phù Đề có tỳ-kheo hoặc là tỳ-kheo ni thấy có người đọc tụng kinh này mà nếu sanh ḷng giận dữ, ôm ḷng phỉ báng th́ do báng chánh pháp, ngay nơi thân hiện đời của người ấy sẽ phát ra các bệnh nặng nề, thân căn chẳng đầy đủ, điếc, mù, câm, ngọng, thủy thũng, quỉ mỵ, nằm, ngồi chẳng yên, cầu sống chẳng được, cầu chết không xong. Hoặc đến khi chết đọa vào địa ngục, trong tám vạn kiếp chịu đại khổ năo. Trăm ngàn ức đời, chưa từng nghe danh từ cơm, nước. Măi lâu sau mới được thoát ra, sanh làm trâu, ngựa, lợn, dê, bị người ta giết hại, chịu đại cực khổ. Sau đấy mới được làm thân người, thường sanh vào nhà hèn hạ, trăm ngàn vạn đời chẳng được tự tại, trọn chẳng được nghe danh tự Tam Bảo. V́ thế đối với những kẻ vô tín, vô trí, chớ nói kinh này).

Tôi dẫn kèm thêm hai kinh trên đây để chứng tỏ rơ nghi hay tin tuy chỉ thuộc trong một niệm của đương cơ, nhưng chúng tạo thành họa hay phước khác nhau một trời, một vực, bao kiếp vô tận. Bởi thế, Phật mới dạy: “Ưng đương minh tín chư Phật vô thượng trí huệ” (Phải nên tin rành rẽ vào trí huệ vô thượng của chư Phật).

Chánh kinh:

言:云 生,雖 善,而 生?佛 氏:此 生,智 淺。分 西 方,不 界,是 樂,不 彼。慈 言:此 生,虛 別。不 剎,何 迴。

Từ Thị bạch ngôn: “Vân hà thử giới nhất loại chúng sanh, tuy diệc tu thiện, nhi bất cầu sanh?” Phật cáo Từ Thị: “Thử đẳng chúng sanh, trí huệ vi thiển, phân biệt Tây phương, bất cập thiên giới, thị dĩ phi lạc, bất cầu sanh bỉ”. Từ Thị bạch ngôn: “Thử đẳng chúng sanh, hư vọng phân biệt, bất cầu Phật sát, hà miễn luân hồi”.

Ngài Từ Thị bạch rằng: - V́ sao có hạng chúng sanh trong cơi này tuy cũng tu thiện mà chẳng cầu sanh?

Phật bảo Từ Thị: - Bọn chúng sanh ấy trí huệ ít ỏi, nông cạn, phân biệt rằng Tây phương chẳng bằng cơi trời; v́ thế cho là không vui nên chẳng cầu sanh về đấy.

Từ Thị bạch rằng: - Bọn chúng sanh ấy phân biệt hư vọng! Chẳng cầu sanh về cơi Phật, làm sao thoát khỏi luân hồi?

Giải:

Từ Thị đại sĩ do ḷng Vô Duyên Đại Từ, xót nghĩ đến một hạng chúng sanh trong đời sau tuy cũng tu thiện nhưng chẳng cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ nên Ngài mới nêu lời hỏi ấy.

Phật đáp: Bọn chúng sanh ấy trí huệ thiếu khuyết, mê luyến cái phước trong cơi trời người nên chẳng nguyện sanh. Ngài Từ Thị lại thưa: “Bất cầu Phật sát, hà miễn luân hồi” (Chẳng cầu sanh về cơi Phật, làm sao thoát khỏi luân hồi?) Câu này có đến hai nghĩa:

1. Một là chuyên chỉ về hạng chúng sanh vừa mới nói trên đây: Bọn họ suy nghĩ lầm lạc, cho rằng sự vui nơi cơi Tây phương chẳng thể bằng nổi sự vui cơi trời. Phân biệt hư vọng như thế nên chẳng cầu sanh Tịnh Độ; chẳng biết rằng do phước tu thiện tuy được sanh thiên nhưng sau khi tuổi thọ cơi trời đă hết th́ lại bị luân hồi.

2. Hai là chỉ chung hành nhân các tông tuy tinh tấn tu tŕ, nhưng nếu chẳng lấy Tịnh Độ của Phật Di Đà làm chỗ quy túc, chuyên cậy vào tự lực th́ khó ḷng dứt trọn sanh tử ngay trong đời này, ắt phải thọ thân sau, nên ngài Di Lặc mới nói: “Hà miễn luân hồi? (Làm sao thoát khỏi luân hồi?)

Chánh kinh:

言:彼 根,不 相,不 慧,深 樂,人 報。雖 福,求 果,得 時,一 足,而 中。假 使 母、妻 子、男 屬,欲 免,邪 王,未 離,常 迴,而 在。

Phật ngôn: - Bỉ đẳng sở chủng thiện căn, bất năng ly tướng, bất cầu Phật huệ, thâm trước thế lạc, nhân gian phước báo. Tuy phục tu phước, cầu nhân thiên quả, đắc báo chi thời, nhất thiết phong túc, nhi vị năng xuất tam giới ngục trung. Giả sử phụ mẫu, thê tử, nam nữ, quyến thuộc, dục tương cứu miễn, tà kiến nghiệp vương, vị năng xả ly, thường xử luân hồi, nhi bất tự tại.

Phật dạy: - Bọn họ gieo trồng thiện căn chẳng thể ly tướng, chẳng cầu Phật huệ, tham đắm sâu đậm niềm vui thế gian và phước báo nhân gian. Tuy là tu phước lại cầu quả nhân thiên, khi được hưởng báo, được hết thảy dư dật, nhưng chưa thể thoát khỏi nhà ngục tam giới. Giả sử cha mẹ, vợ con, nam nữ, quyến thuộc muốn cứu vớt nhau, nhưng chưa thể ĺa bỏ tà kiến nghiệp vương, nên thường ở trong luân hồi, chẳng được tự tại.

Giải:

Từ chữ “Phật ngôn” trở đi, Phật lại dạy rơ những điều lợi, hại, được mất của việc ly tướng và chấp tướng. Chấp tướng tu phước th́ khó tránh khỏi luân hồi. Ly tướng cầu sanh vĩnh viễn được giải thoát.

Trong đoạn này, trước hết Phật nói đến việc chấp vào phước thế gian, chẳng thể thoát nổi luân hồi. Bọn chúng sanh ấy tuy trồng các căn lành nhưng tham đắm phước báo nhân thiên, chẳng thể ly tướng, chẳng cầu trí huệ của Phật “tuy phục tu phước, cầu nhân thiên quả” (tuy vẫn tu phước [mà] cầu quả nhân thiên) nên chẳng thể thoát nổi ngục tam giới.

“Đắc báo chi thời, nhất thiết phong túc” (Khi hưởng báo, được hết thảy dư dật) là tạm hưởng sự vui thế gian, nhưng hết phước lại bị đọa, hậu hoạn vô cùng. Sau khi mạng chung, dẫu thân quyến v́ ḿnh sám hối tội lỗi cầu phước, tu pháp, tụng kinh hầu cứu độ cho, nhưng v́ kẻ ấy cội rễ tà kiến sâu chắc, chấp mê chẳng ngộ do bởi “tà kiến nghiệp vương, vị năng xả ly” (chưa thể ĺa bỏ tà kiến nghiệp vương). Bởi tà kiến nên chẳng sanh chánh tín; do đó, tà kiến đúng là vua của các ác nghiệp nên mới gọi là “tà kiến nghiệp vương”. Bởi thế, “thường xử luân hồi, nhi bất tự tại” (thường ở trong luân hồi, chẳng được tự tại).

Chánh kinh:

人,不 根,但 辯,增 心。云 難。

Nhữ kiến ngu si chi nhân, bất chủng thiện căn, đản dĩ thế trí thông biện, tăng ích tà tâm. Vân hà xuất ly sanh tử đại nạn?

Ông có thấy: Kẻ ngu si chẳng trồng căn lành, chỉ cậy vào thế trí thông biện để tăng thêm tà tâm th́ làm sao thoát nổi đại nạn sanh tử?

Giải:

Hạng người được nói đến trong đoạn này c̣n nặng hơn hạng trên. Hạng trên c̣n tu thiện, chỉ v́ cầu phước báo thế gian nên chẳng thoát khỏi luân hồi; c̣n hạng người được nói đến trong đoạn này c̣n ngu si hơn nữa: Chẳng trồng căn lành, trái lại c̣n cậy vào Thế Trí Biện Thông[1], kiêu mạn, tự đại, chẳng sanh chánh tín, khiến tà tâm càng thêm lớn. Họ chẳng biết rằng Thế Trí Biện Thông chính là một trong tám nạn. Tà kiến điên đảo lại tưởng là hay. Hạng người như thế làm sao thoát nổi biển khổ sanh tử!

Chánh kinh:

生,雖 根,作 田。取 別,情 重。求 迴,終 得。若 慧,植 本。身 淨,遠 別。求 剎,趣 提。當 剎,永 脫。

Phục hữu chúng sanh, tuy chủng thiện căn, tác đại phước điền, thủ tướng phân biệt, t́nh chấp thâm trọng, cầu xuất luân hồi, chung bất năng đắc. Nhược dĩ vô tướng trí huệ, thực chúng đức bổn. Thân tâm thanh tịnh, viễn ly phân biệt, cầu sanh tịnh sát, thú Phật Bồ Đề, đương sanh Phật sát, vĩnh đắc giải thoát.

Lại có chúng sanh tuy trồng thiện căn, làm đại phước điền, nhưng chấp tướng phân biệt, t́nh chấp sâu nặng, cầu thoát luân hồi trọn chẳng thoát nổi. Nếu dùng vô tướng trí huệ trồng các cội đức, thân tâm thanh tịnh, xa ĺa phân biệt, cầu sanh về cơi tịnh, hướng đến quả Bồ Đề của Phật th́ sẽ sanh về cơi Phật, vĩnh viễn được giải thoát.

Giải:

Phật đáp lời ngài Từ Thị: Nói chung, chúng sanh trong cơi này tuy cũng tu thiện nhưng chẳng chịu cầu sanh Tịnh Độ th́ có ba hạng:

1) Một là tham đắm vào phước lạc thế gian, cầu quả nhân thiên

2) Hai là Thế Trí Biện Thông, tà tâm lừng lẫy.

3) Ba là hạng “thủ tướng phân biệt, t́nh chấp thâm trọng” (chấp tướng phân biệt, t́nh chấp sâu nặng).

Ba hạng người như vậy dẫu tu phước th́ chỉ đạt được phước báo thế gian, khác nào mộng, huyễn, bọt nước, h́nh bóng thoáng qua, chớp mắt đă hết. V́ thế, cầu xuất luân hồi, chung bất năng đắc” (cầu thoát luân hồi, trọn chẳng thể thoát nổi).

Trong câu “phục hữu chúng sanh, tuy chủng thiện căn, tác đại phước điền” (lại có chúng sanh tuy trồng thiện căn, làm đại phước điền), chữ “đại phước điền” nghĩa là tŕ danh hiệu Phật bởi tŕ danh là vua của các điều thiện nên ruộng phước ấy mới đáng gọi là đại phước điền. Hiềm v́ kẻ đó “thủ tướng phân biệt, t́nh chấp thâm trọng” nên tuy niệm Phật cũng chẳng thoát nổi luân hồi.

Ba bậc văng sanh được dạy trong kinh này đều do phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm A Di Đà Phật. Tâm Bồ Đề chính là đại trí, đại bi, đại nguyện, tâm viên dung nhất thể.

“T́nh chấp thâm trọng” chính là ngu si, làm sao gọi là đại trí được? “Thủ tướng phân biệt” là c̣n có lấy, bỏ, cho nên làm sao có thể hưng khởi nổi vô duyên đại từ, đồng thể đại bi? Hạng người như thế làm sao có thể phát khởi tâm Bồ Đề? Do đó, dẫu niệm Phật cũng chẳng thuộc vào ba bậc văng sanh nổi!

Ngẫu Ích đại sư dạy nếu niệm Phật mà chẳng có tín nguyện th́ cũng chẳng thể văng sanh, thật tương đồng với ư kinh dạy ở đây. Hơn nữa, chấp tướng tu phước th́ phước ấy có cùng tận, như kinh Kim Cang đă dạy: “Ưng vô sở trụ hành ư bố thí, sở vị: Bất trụ Sắc bố thí, bất trụ Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát ưng như thị bố thí, bất trụ ư tướng. Hà dĩ cố? Nhược Bồ Tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lượng” (Hăy nên không trụ vào đâu cả mà hành bố thí, tức là: Chẳng trụ vào Sắc để bố thí, chẳng trụ vào Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp để bố thí. Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên bố thí như vậy, chẳng trụ vào tướng. V́ sao thế? Bồ Tát chẳng trụ vào tướng mà bố thí th́ phước ấy chẳng thể suy lường nổi).

Trong tác phẩm Phá Không Luận, đại sư Linh Phong giảng câu kinh ấy như sau:  “Lấy pháp không trụ vào đâu cả để trụ vào Bát Nhă, chăm chắm thực hành sáu Ba La Mật mà chẳng chấp tướng. Bởi thế có thể khiến cho chút phước thành nhiều như hư không…

Do trụ vào tướng nên chúng sanh tự hư vọng so nhân, tính quả, xét lớn, xét nhỏ. Nếu có thể xứng hợp với tánh mà trụ th́ chẳng trụ vào các tướng. Ví như tánh của hư không chứa đựng trong hạt cải cùng với tánh của hư không trong mười phương không hai, không khác, v́ hư không chẳng phải là trong, ngoài, đây, kia, phương, góc, h́nh tướng, Tiểu Không cũng lại chẳng khác với Đại Không. Cái phước vô tướng ấy rất lớn”.

Kinh Kim Cang c̣n dạy: “Nhược tâm thủ tướng, tức vi trước ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả” (Nếu tâm chấp tướng th́ chấp vào ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả). Kinh c̣n dạy thêm: “Nhược Bồ Tát hữu ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức phi Bồ Tát” (Nếu Bồ Tát có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả th́ chẳng phải là Bồ Tát).

Trên đây, tôi đă dẫn nhiều đoạn trong kinh Kim Cang Bát Nhă để nói lên cái hại của việc chấp tướng phân biệt. Bởi đó, ở đây, Phật mới dạy: “Cầu xuất luân hồi, chung bất năng đắc” (Cầu thoát luân hồi, trọn chẳng thể thoát nổi).

Cuối đoạn này, Phật lại dạy: “Nhược dĩ vô tướng trí huệ, thực chúng đức bổn” (Nếu dùng trí huệ vô tướng trồng các cội đức) cầu sanh Tịnh Độ th́ vĩnh viễn được giải thoát. Gốc của các đức chính là phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm.

Hơn nữa, “vô tướng” chính là không có năm trần: Sắc, Thanh… không có mười tướng: nam, nữ, sanh, trụ, hoại, diệt… th́ gọi là vô tướng.

Kinh Bát Nhă cũng dạy: “Niết Bàn danh vi vô tướng” (Niết Bàn gọi là vô tướng). Sách Diễn Nghĩa Sao có câu: “Nghĩa của tịch diệt chính là vô tướng; nhưng [tịch diệt] chỉ do tâm tự chứng, chứ chẳng thể từ cái khác mà có được cho nên không có các tướng”.

Như kinh Kim Cang dạy: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai” (Hễ cái ǵ có tướng th́ đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng th́ chính là thấy Như Lai)” và: “Ly nhất thiết chư tướng, tức danh chư Phật” (Ĺa hết thảy tướng th́ gọi là chư Phật). Đấy đều chính là “vô tướng trí huệ” được nói trong phẩm kinh này.

Các câu kinh từ câu: “Nhược dĩ vô tướng trí huệ, thực chư đức bổn” (Nếu dùng trí huệ vô tướng trồng các cội đức) cho đến “vĩnh đắc giải thoát” (vĩnh viễn được giải thoát) đều nói lên diệu chỉ “vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả tu hết thảy thiện pháp th́ chính là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác” của kinh Kim Cang.

Tác phẩm Phá Không Luận giảng về điều này như sau: “V́ nếu chẳng hiểu thấu vô ngă mà tu hết thảy thiện pháp th́ chỉ trở thành cái quả hư ngụy trong cơi nhân thiên. Chẳng tu hết thảy thiện pháp, chỉ chứng Ngă Không th́ chỉ thành Nhị Thừa Tiểu Quả. Vờ nói rằng ngă pháp đều không nhưng mặc t́nh gây các ác pháp th́ trở thành hạng Xiển-đề, địa ngục. Chỉ có vô ngă tu hết thảy thiện pháp th́ mới đúng là ‘chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm’ nên liền đắc vô thượng Bồ Đề”.

So sánh hai kinh với nhau th́ những điều như “vô tướng trí huệ”, “viễn ly phân biệt” trong kinh này chính là “vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả” của kinh Kim Cang; những điều như “thực chúng đức bổn” (trồng các cội đức), “cầu sanh tịnh sát, thú Phật Bồ Đề” (cầu sanh cơi tịnh, hướng đến Phật Bồ Đề) trong kinh này chính là “tu hết thảy pháp lành” được nói trong kinh Kim Cang. Ngoài ra, “đương sanh Phật sát, vĩnh đắc giải thoát” (sẽ sanh về cơi Phật, vĩnh viễn được giải thoát) chính là “liền đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác” trong kinh Kim Cang.

Vả lại, Tịnh Độ chính là pháp mà hết thảy thế gian khó thể tin được nổi mà tin được pháp này th́ đó chính là trí huệ vô tướng như kinh Kim Cang dạy: “Văn thị chương cú, năi chí nhất niệm sanh tịnh tín giả... Thị chư chúng sanh vô phục ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng” (Nghe chương cú này dẫu chỉ sanh ḷng tin thanh tịnh trong một niệm… th́ các chúng sanh ấy chẳng c̣n có ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng nữa).

Kinh c̣n nói: “Kỳ hữu chúng sanh đắc văn thị kinh, tín giải thọ tŕ, thị nhân tức đệ nhất hy hữu, hà dĩ cố? Thử nhân vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng” (Nếu có chúng sanh được nghe kinh này, tin hiểu, thọ tŕ, th́ người ấy chính là hy hữu bậc nhất, v́ sao vậy? Người ấy không có ngă tướng, không có nhân tướng, không có chúng sanh tướng, không có thọ giả tướng).

Sách Phá Không Luận giảng: “Giả sử c̣n có chút xíu nhân tướng, ngă tướng v.v… th́ quyết chẳng thể tin nổi kinh này. Dẫu cho có tin hiểu, thọ tŕ kinh này th́ quyết chẳng hiểu thông suốt các tướng: bản thể của nhân, ngă... chính là vô tướng”.

Do đó ta thấy rằng toàn thể của diệu đức “năng tín” chính là vô tướng trí huệ. Tịnh tông chính là pháp môn vi diệu tối cực viên đốn, siêu t́nh ly kiến chẳng thể nghĩ bàn. Nếu ai có thể sanh được ḷng tin chân thật nơi pháp môn này: tin Sự, tin Lư, tin Tự, tin Tha, tin Nhân, tin Quả, đầy đủ cả sáu thứ tín như thế; nên biết là người ấy đă siêu t́nh ly kiến, đă khế hợp với trí huệ vô tướng.

Bởi đó, trong phẩm Độc Lưu Thử Kinh (riêng lưu lại kinh này) trong kinh đây có nói: “Nhược văn thử kinh, tín nhạo thọ tŕ, nan trung chi nan, vô quá thử nan” (Nếu nghe kinh này tin ưa thọ tŕ th́ là điều khó nhất trong những điều khó, không có ǵ khó hơn việc này). Ở phần trước, kinh đă nói “thủ tướng phân biệt” tuy gieo đại phước điền cầu xuất luân hồi, chung bất năng đắc” (cầu thoát luân hồi, trọn chẳng thể thoát nổi) là nói đến cái hại của việc chấp tướng. Trong phần này, kinh dạy “nhược dĩ vô tướng trí huệ, thực chúng đức bổn” (nếu dùng trí huệ vô tướng trồng các cội đức), “đương sanh Phật sát, vĩnh đắc giải thoát” (sẽ sanh về cơi Phật, vĩnh viễn được giải thoát) chính là giảng về công năng của việc ly tướng cầu sanh. Thuộc vào trong ba bậc hay bị đọa trong nghi thành hoàn toàn ở điểm mấu chốt này, hăy nên xét kỹ để tự định đoạt lấy.

“Thân tâm thanh tịnh, viễn ly phân biệt” là vô tướng trí huệ, vạn pháp đều giống hệt như nhau, nhiễm - tịnh b́nh đẳng nên thân tâm thanh tịnh. Hết thảy đều Như nên ĺa phân biệt. Hơn nữa, niệm Phật “đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối). V́ nhiếp trọn sáu căn nên thân tâm thanh tịnh, tịnh niệm tiếp nối nên ĺa phân biệt.

Lại có kẻ nghi rằng Tịnh tông lấy “nhàm chán Sa Bà, ưa cầu Cực Lạc” làm nguyện, chán - ưa như thế th́ chẳng phải là phân biệt hay sao?

Sách Diệu Tông Sao đáp: “Đạt đến chỗ cùng cực th́ lấy bỏ và chẳng lấy bỏ cũng chẳng sai khác ǵ”. Ấy là v́ bỏ đến chỗ cùng cực th́ vạn duyên đều buông hết, sáu căn tịch tĩnh; lấy đến chỗ cùng cực th́ chỉ c̣n giữ mỗi một niệm sáu chữ hồng danh. Niệm Phật như thế th́ khác chi chẳng lấy, chẳng bỏ nên mới bảo là: “Cũng chẳng sai khác ǵ”. Hoặc như sách Di Đà Yếu Giải giải đáp: “Ví như nếu chẳng từ Sự để lấy bỏ mà chỉ khăng khăng chẳng lấy chẳng bỏ th́ là chấp Lư phế Sự. Đă phế Sự th́ Lư cũng chẳng viên. Nếu thông đạt toàn Sự chính là Lư th́ lấy cũng là Lư mà bỏ cũng là Lư. Một lấy, một bỏ, không chi chẳng phải là pháp giới”. Sự thật mầu nhiệm như thế thật chẳng thể dùng t́nh chấp, kiến giải để lănh hội nổi.

“Cầu sanh tịnh sát” (Cầu sanh sang cơi tịnh) là chí tâm tin ưa, nguyện sanh cơi Cực Lạc. Cầu được sanh như thế chính là đem một niệm tâm nguyện nhỏ nhiệm của ta gieo vào biển nguyện vô biên của Phật Di Đà; đó cũng chính là đem cả biển nguyện Nhất Thừa vô biên ấy trút vào trong một niệm tâm nhỏ nhiệm của ta. V́ thế, mười niệm liền được sanh, có nguyện đều được thỏa măn.

“Thú Phật Bồ Đề” (Hướng đến quả Bồ Đề của Phật) nghĩa là: Nhân là phát Bồ Đề tâm, quả là Bổ Xứ thành Phật, rốt ráo Bồ Đề. Cả sáu câu trên chính là tông chỉ của kinh này: Phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm. Tu hành đúng theo tông chỉ ấy nên “đương sanh Phật sát, vĩnh đắc giải thoát” (sẽ được sanh về cơi Phật, vĩnh viễn được giải thoát).


 



[1] Kinh này ghi là “Thế Trí Thông Biện” nhưng trong các kinh khác, thường gọi là Thế Trí Biện Thông nên chúng tôi cũng ghi theo danh xưng phổ biến.