A. KHÁI YẾU
Kính cẩn giải thích kinh này dựa theo quy cách của
tông Hoa Nghiêm và khuôn
mẫu của bộ A Di Đà Sớ Sao, chia tổng quát thành
mười môn: Một: giáo khởi nhân duyên; hai: thể tánh
kinh này; ba: tông thú của bộ kinh; bốn: phương tiện
lực dụng; năm: căn khí được hóa độ;
sáu: tạng giáo sở nhiếp; bảy: bộ loại sai
biệt; tám: dịch, hội hiệu, thích; chín: tổng
thích danh đề; mười: phần giải thích chính ư
nghĩa của kinh.
Chín môn đầu luận về cương yếu,
tông thú, bộ loại của toàn kinh, có điểm đại
đồng tiểu dị với Ngũ Trùng Huyền
Nghĩa của tông Thiên
1. Giáo khởi nhân duyên
Giáo khởi nhân duyên là nói về nhân duyên hưng khởi
đại giáo. Trước hết, tŕnh bày sự hưng
khởi của Phật giáo và pháp môn Tịnh Độ, rồi
mới thuật rơ nhân duyên hưng khởi kinh này.
Phàm hết thảy các pháp chẳng ngoài nhân duyên. Nhân
duyên hưng khởi đại giáo vô lượng, mà vô
lượng nhân duyên lại chỉ là một đại sự
nhân duyên. Kinh Pháp Hoa dạy: “
Phẩm Khởi Tín kinh Hoa Nghiêm chép:
“Như Lai, Ứng
Cúng Đẳng Chánh Giác tánh khởi chánh pháp bất khả
tư nghị. Sở dĩ giả hà? Phi thiểu nhân duyên
thành Đẳng Chánh Giác xuất hưng ư thế. Dĩ
thập chủng vô lượng vô số bách thiên A-tăng-kỳ
nhân duyên thành Đẳng Chánh Giác xuất hưng ư thế.
Năi chí quảng thuyết như thị đẳng vô lượng
nhân duyên. Duy vị nhất đại sự nhân duyên, đại
sự nhân duyên giả hà? Duy dục chúng sanh khai thị Phật
tri kiến cố” (Như
Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác tánh khởi chánh pháp chẳng
nghĩ bàn. V́ cớ sao? Do chẳng phải v́ chút ít nhân duyên
mà thành Đẳng Chánh Giác xuất hiện trong thế gian. Ngài
do mười thứ vô lượng vô số trăm ngàn
A-tăng-kỳ nhân duyên mà thành Đẳng Chánh Giác xuất hiện
trong đời, cho đến rộng nói vô lượng
nhân duyên như thế chỉ v́ một đại sự
nhân duyên. Đại sự nhân duyên ǵ? Chỉ là v́ muốn khai
thị tri kiến Phật cho chúng sanh).
Kinh Hoa Nghiêm là pháp được đức Thế Tôn
giảng đầu tiên. Kinh Pháp Hoa là giáo pháp cuối cùng. Từ
đầu đến cuối chỉ v́ đại sự
nhân duyên sau đây: Muốn cho
chúng sanh khai, thị, ngộ nhập tri kiến của Phật,
cũng có nghĩa là: Muốn cho hết thảy chúng sanh hiểu
rơ bổn tâm, đạt được tri kiến giống
như tri kiến của Phật, cùng thành Chánh Giác.
Nhân duyên hưng khởi kinh này cũng thế. Kinh
Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ (tức
kinh Di Đà bản dịch đời Đường) viết: “Ngă quán như thị lợi ích
an lạc đại sự nhân duyên, thuyết thành đế
ngữ” (Ta thấy đại sự nhân duyên lợi ích
an lạc như thế nên nói lời thành thật, chắc
chắn), đủ thấy chỗ hưng khởi của
pháp môn Tịnh Độ giống hệt như của kinh Hoa
Nghiêm, Pháp Hoa, đều cùng là đại sự nhân duyên cả.
V́ sao? Sách A Di Đà Sớ Sao viết: “Nay chỉ nhất tâm tŕ danh liền được
Bất Thoái. Ấy là trực chỉ tự tâm, phàm phu thành
Phật một cách rốt ráo. Nếu tin chắc chắn
như vậy, nào cần phải trải khắp ba thừa,
trải qua nhiều kiếp. Chẳng
vượt khỏi một niệm chứng nhập Bồ
Đề thật nhanh chóng, đấy chẳng phải là
đại sự hay sao?”.
Đủ thấy Tịnh Tông đúng là pháp trực chỉ
đốn chứng: Lấy tâm niệm Phật để
nhập Phật tri kiến. Sự hưng khởi của Tịnh
tông đúng là do đại sự nhân duyên này. Phần kế
tiếp sẽ giảng rơ nhân duyên hưng khởi kinh này.
1.1. Xứng tánh cực đàm,
Như Lai chánh thuyết
Hoa Nghiêm, Pháp Hoa đều là giáo pháp Viên Đốn xứng
tánh, nhưng chỗ quy thú[1]
của chúng lại nằm trong kinh này. Ngẫu Ích đại
sư khen ngợi kinh này như sau: “Dứt bặt đối đăi một cách viên dung
chẳng thể nghĩ bàn. Áo tạng của Hoa Nghiêm, bí tủy
của Pháp Hoa, tâm yếu của hết thảy chư Phật,
kim chỉ nam cho muôn hạnh Bồ Tát đều chẳng
ra khỏi kinh này”. Do vậy, kinh này được
xưng tụng là lời bàn luận xứng tánh đến
mức cùng cực (xứng tánh cực đàm)
Thêm nữa, trong tác phẩm Vô Lượng Thọ Kinh
B́nh Giải, thầy Đạo Ẩn người Nhật nhận
định: “Hiện tại
nay là đời Ngũ Trược, lúc tạo ác; cho nên khó
tu một thứ thánh đạo v́ sẽ gặp nhiều
chướng nạn. Chỉ riêng pháp môn này chí viên, cực
đốn, lại c̣n giản dị, thẳng chóng. Chánh
thuyết xuất thế nằm riêng một ḿnh trong kinh
này. Cả một đời thuyết pháp quy về kinh này,
như các ḍng nước xuôi về bể cả. Do vậy, bảo rằng: Trăm vạn
A-tăng-kỳ nhân duyên phát khởi kinh Hoa Nghiêm, một
đại sự nhân duyên thành kinh Pháp Hoa cũng chỉ là
nguồn gốc của pháp này”.
Có nghĩa là: Cả hai kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa chỉ là
pháp dẫn đường cho kinh này. Kinh này thật là chỗ
chỉ quy của cả Đại Tạng giáo. Cuối kinh Hoa
Nghiêm, mười đại nguyện vương của
Phổ Hiền Đại Sĩ dẫn về Cực Lạc,
đủ để chứng minh [cho nhận định
trên]. Thánh giáo như chiên đàn, miếng nào cũng thơm.
Pháp nào cũng viên đốn, vốn chẳng cao thấp;
chỉ v́ chúng sanh cấu nặng, chướng sâu, tâm thô,
trí hèn, đói gặp cỗ vua mà chẳng dám ăn. Chỉ
một pháp Tŕ Danh trong kinh này mới là đạo dễ
hành, ai cũng tu được.
Chương Đại Thế Chí Viên Thông chép: “Tịnh niệm tương kế”,
“tự đắc tâm khai”, chính là tâm phàm phu khai tri kiến
Phật. Đến như kẻ căn khí cạn cợt chỉ
cần chí tâm tin ưa, nguyện sanh cơi kia, dẫu chỉ
mười niệm, lúc mạng sắp hết, được
Phật nhiếp thọ, liền sanh về Cực Lạc.
Hoa nở gặp Phật, ngộ nhập Vô Sanh, kỳ diệu,
nhanh chóng không chi hơn nổi. Hết thảy chúng sanh do
pháp này đắc độ, xứng hợp bổn hoài của
mười phương Như Lai.
Kinh này lại tuyên dương pháp chân thật thuần
nhất của Như Lai chẳng quyền biến, cong quẹo
nên gọi là Chánh Thuyết.
Lại nữa, Thế Tôn xứng hợp bổn tánh trao bày
hết cả ra, chẳng chút mảy may giấu diếm nên
gọi là Xứng Tánh. Hết
thảy hàm linh đều nhân đây được độ
thoát, thật là bàn luận xứng tánh đến cùng tột
nên gọi là Xứng Tánh Cực
Đàm.
1.2. Tam căn phổ bị, phàm - thánh tề thâu
Căn khí của chúng sanh thiên sai vạn biệt nên
Thế Tôn nói ra tám vạn bốn ngàn pháp môn nhằm thích ứng
khắp các căn cơ:
Hoa Nghiêm Viên Giáo chuyên tiếp độ kẻ thượng
thượng căn. Trí huệ như Xá Lợi Phất, thần
thông như Mục Kiền Liên đều được gọi
là bậc nhất trong hàng Thanh Văn đệ tử của
Phật, mà trong hội Hoa Nghiêm c̣n như đui, như
điếc, huống hồ là kẻ kém hơn họ. V́ vậy,
hạ căn tuyệt chẳng có phần.
Đến như các giáo pháp Tiểu thừa là để tiếp
độ căn cơ Quyền, Tiểu. Với bậc
thượng căn, giáo pháp Tiểu thừa mắc phải
lỗi “giáo cạn, căn sâu” nên cũng chẳng ứng
cơ.
Chỉ có pháp môn Tŕ Danh Niệm Phật trong kinh này: Thâu
trọn phàm - thánh, thích hợp lợi - độn. Đến cùng
tột th́ như Phổ Hiền, Văn Thù c̣n phát nguyện
cầu sanh Cực Lạc.
Bài kệ
của đức Phổ Hiền có câu: “Nguyện ngă lâm dục mạng chung thời, tận
trừ nhất thiết chư chướng ngại, diện
kiến bỉ Phật A Di Đà, tức đắc văng sanh
Anh Lạc Sát” (Nguyện tôi vào lúc lâm chung, trừ sạch
hết thảy các chướng ngại, tận mặt gặp
Phật A Di Đà, liền được văng sanh cơi An Lạc).
Bài kệ của ngài Văn Thù là: “Nguyện ngă lâm chung thời, diệt trừ chư
chướng ngại, diện kiến A Di Đà, văng sanh An
Lạc sát” (Nguyện lúc tôi lâm chung, trừ diệt các
chướng ngại, tận mặt gặp Di Đà, văng sanh
cơi An Lạc). Lại như kinh này chép: “Phật cáo Di Lặc: - Ư thử thế giới,
hữu thất bách nhị thập ức Bồ Tát, dĩ tằng
cúng dường vô số chư Phật, thực chúng đức
bổn, đương sanh bỉ quốc” (Phật bảo
Di Lặc: - Trong thế giới này có bảy trăm hai
mươi ức Bồ Tát đă từng cúng dường
vô số chư Phật, trồng các cội đức, sẽ
sanh sang cơi kia).
Thấp nhất th́ như bọn Ngũ Nghịch Thập
Ác trong Quán kinh, lâm chung gặp được bạn lành, dạy
cho niệm Phật. Mười niệm thành công cũng sanh
cơi kia. Đủ thấy kinh này rộng thâu vạn loại,
độ khắp ba căn, là thuốc A Già Đà trị lành
muôn bịnh. V́ vậy, kinh này chép: “Trị tư kinh giả, tùy ư sở nguyện, giai khả
đắc độ” (Gặp gỡ kinh này, tùy ḷng mong
muốn đều được độ).
Trên đây đă giải thích kinh này rộng thích ứng
các căn cơ, với bọn phàm phu ta ơn đức ấy
thật sâu đậm. Nay đang là thời Mạt Pháp,
chúng sanh phước huệ cạn mỏng, cấu chướng
sâu nặng, chỉ cậy pháp môn tiện dụng này, chỉ
nhờ vào tin Phật, tŕ danh th́ mới có thể công siêu
lũy kiếp, văng sanh Cực Lạc, chóng lên Bất Thoái.
Nếu không có pháp môn vi diệu như thế, phàm phu làm sao
thoát khỏi biển nghiệp sanh tử này lên nổi bờ
kia?
V́ vậy, đấng Đại Từ Bi Phụ, đạo
sư hai cơi nghĩ thương chúng ta, mở ra pháp môn Tịnh
Độ này, khéo chỉ rơ hai cơi khổ, vui, để khích
động chúng sanh đang trầm luân: Cơi này: đống
lửa lớn, cơi kia: ao trong mát. Sen báu trước mặt,
non đao sau lưng. Khi ấy, tự nhiên sanh khởi nguyện
thù thắng, chán nhàm Sa Bà, cầu sanh Cực Lạc; đă
sanh ḷng tín nguyện liền tŕ danh hiệu ắt sẽ
được độ thoát. Sanh cơi kia xong, gặp Phật
nghe pháp, đắc vô thượng ngộ. Dùng hữu niệm
nhập vô niệm, do văng sanh khế hợp vô sanh, đốn
ngộ tâm này vốn sẵn b́nh đẳng. Sư Hải
Đông Nguyên Hiểu đời Đường nói: “Bốn mươi tám nguyện
trước hết v́ phàm phu, sau kiêm v́ thánh nhân thuộc tam
thừa”. Đủ thấy sự mầu nhiệm của Tịnh
Độ tông: Trước hết là nhằm làm cho phàm phu đắc
độ vậy.
1.3. Diệu pháp tha lực, khéo hộ tŕ hành
nhân
Các pháp môn khác hoàn toàn cậy vào tự lực. Đời
mạt tu hành lắm nỗi chướng nạn, chẳng
hạn như kinh Lăng Nghiêm đă giảng rộng về
năm mươi thứ Ấm Ma quấy nhiễu hành nhân
tu Thiền Quán. Hành nhân chỉ mất chánh kiến đôi
chút liền bị vướng lưới ma.
V́ vậy, kinh ấy dạy: “Bất
tác thánh tâm, danh thiện cảnh giới. Nhược tác
thánh giải, tức thọ quần tà” (Chẳng khởi
thánh tâm th́ là thiện cảnh giới. Nếu hiểu là cảnh
giới của bậc thánh liền lạc vào bè lũ tà
ma), đủ thấy hành
nhân hễ hơi chấp trước liền bị mất
chánh kiến, liền vào đường ma, cầu thăng
hóa giáng, thậm chí đọa Nê Lê (địa ngục). V́
vậy, các pháp khác gọi là đạo
khó hành.
Chỉ có pháp môn Niệm Phật cũng như Mật
pháp là Tha Lực Môn, thuộc về Quả Giáo[2].
Hành nhân phát tâm niệm Phật, nhờ vào bổn nguyện
của Phật Di Đà nhiếp thọ, oai thần gia bị hộ
tŕ hành giả, ma chẳng dám quấy nhiễu. Kinh Thập
Văng Sanh chép:
“Phật ngôn: - Nhược
hữu chúng sanh niệm A Di Đà Phật, nguyện văng sanh
giả, bỉ Phật tức di nhị thập ngũ Bồ
Tát ủng hộ hành giả. Nhược hành, nhược
tọa, nhược trụ, nhược ngọa, nhược
trú, nhược dạ, nhất thiết thời, nhất
thiết xứ, bất linh ác quỷ, ác thần đắc
kỳ tiện dă” (Phật
dạy: Nếu có chúng sanh niệm A Di Đà Phật nguyện
văng sanh, đức Phật kia liền sai hai mươi
lăm vị Bồ Tát ủng hộ hành giả, dù đi
hay ngồi, dù đứng hay nằm, dù ngày hay đêm, trong hết
thảy thời, hết thảy chỗ chẳng cho ác quỷ,
ác thần có cơ hội làm hại).
Do bởi chương Đại Thế Chí Viên Thông Niệm
Phật của kinh Lăng Nghiêm có dạy: “Kim ư thử giới, nhiếp niệm Phật
nhân, quy ư Tịnh Độ” (Nay con ở trong cơi này,
nhiếp người niệm Phật trở về Tịnh
Độ), nên sách Tịnh Tu Tiệp Yếu viết: “Đại Thế Chí Bồ Tát hiện
ngự trong cơi này làm lợi ích lớn, nhiếp thủ
người niệm Phật chẳng bỏ, khiến họ
ĺa tam đồ được vô thượng lực”.
Kinh A Di Đà lại dạy: “Nhược
hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thị
kinh, thọ tŕ giả, cập văn chư Phật danh giả,
thị chư thiện nam tử, thiện nữ nhân giai vi
nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm” (Nếu
có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe kinh này thọ
tŕ và nghe danh hiệu chư Phật th́ các thiện nam tử,
thiện nữ nhân ấy đều được hết
thảy chư Phật hộ niệm). Người niệm Phật c̣n được
quang minh chiếu xa đến bốn mươi dặm soi
vào thân, ma chẳng thể phạm nổi.
Do những điều trên, thấy được rằng:
Người niệm Phật có hai mươi lăm vị
Bồ Tát được Phật Di Đà sai đến, trong hết
thảy thời, chốn, ủng hộ gia tŕ. Lại có các
vị như Đại Thế Chí... oai đức nhiếp thọ,
lại được hết thảy chư Phật hộ
niệm nên xa ĺa được ma nạn, yên ổn tu tŕ.
Do nhờ vào tha lực nên hóa hiểm thành lành, thật là
đạo dễ hành.
Nếu bảo nhờ cậy tha lực là chấp
tướng th́ phải biết rằng tha lực cũng
là tự tâm. Ta, người chẳng hai; tự, tha cũng
vậy. Do tha lực mà hiển hiện tự tâm, từ hữu
niệm nhập vô niệm, đấy đúng là điểm
thâm diệu của pháp này. V́ thế, sách Di Đà Yếu Giải
viết:
“Điểm cốt yếu của
pháp môn này là thấu hiểu rơ rệt Tha chính là Tự. Nếu
báng rằng đó là Phật khác th́ là tha kiến chưa mất.
Nếu đặt nặng tự Phật (vị Phật
của chính ḿnh) lại thành ra
ngă kiến điên đảo”.
1.4 Thầm hợp diệu đạo, khéo nhập
vô sanh
Vô niệm và vô sanh thật xa vời đối với
khả năng của phàm phu. Bát Địa Bồ Tát của
Viên giáo đă ĺa hết thảy phân biệt tâm ư thức mới
gọi là thật sự đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Đủ
thấy: Đối với thánh giả c̣n khó, huống hồ
là phàm phu c̣n đầy ắp phiền năo. V́ vậy, Thiện
Đạo đại sư viết trong Tứ Thiếp Sớ
rằng:
“Nay các quán môn này chỉ
phương lập tướng, trụ tâm để đạt
cảnh, trọn chẳng thể vô tướng ly niệm.
Như Lai thấy trước rằng phàm phu tội trược
đời mạt lập tướng sanh tâm c̣n khó làm nổi,
huống hồ ly tướng vô niệm! Khác nào kẻ không có thuật thần thông lại
toan xây nhà trên không”.
Bởi lẽ, vọng tâm của chúng sanh niệm niệm
tiếp nối như nước chảy xiết, chưa
từng tạm ngơi; nay nếu miễn cưỡng
đè nén, thô niệm tuy hơi được ngừng, tế
niệm chưa hề ngưng dứt. Hành nhân nếu hiểu
lầm liền cho là đă được tương
ưng th́ thật là sai lầm lớn.
V́ vậy, Đại Từ Bi Phụ khởi ḷng Vô Duyên Từ
ban cho pháp môn tiện dụng kỳ diệu này, chỉ
phương lập tướng để nhiếp tâm
chuyên chú. Ngay nơi vọng tâm này tŕ danh hiệu Phật. Niệm
một Phật danh, hoán trừ trăm ngàn vạn ức vọng
tưởng tạp niệm. Niệm tới thuần thục
bèn mất cả Năng, Sở, vô tâm mà trụ, Phật hiệu
phân minh, thầm hợp diệu đạo liền khế
hợp sự thật mầu nhiệm “vô trụ sanh tâm” của
kinh Kim Cang Bát Nhă.
Tâm sanh diệt của chúng sanh chỗ nào cũng duyên
được, chỉ riêng chẳng thể duyên nổi Bát
Nhă. Phải đạt đến địa vị Địa
Thượng Bồ Tát[3]
của Biệt giáo mới có thể khế nhập nổi:
Lúc vô trụ liền sanh tâm, lúc sanh tâm liền vô trụ. C̣n
th́ các bậc Địa Tiền Bồ Tát[4]
vẫn c̣n tách rời thành hai: Một thời sanh tâm, thời
khác vô trụ. Đủ thấy rơ phàm phu tuyệt chẳng có
phần!
Nay pháp môn Tịnh Độ này dạy chúng sanh tŕ danh niệm
Phật khiến chúng sanh ngay nơi niệm mà ly niệm, ngầm
thông Phật trí, thầm hợp đạo mầu, khéo nhập
vô niệm, ngay nơi phàm thành thánh. V́ vậy, sách Sớ Sao
viết: “Vượt ba
A-tăng-kỳ kiếp trong một niệm, ngang với
chư thánh trong một câu”. Thật là diệu dụng tột
bậc chẳng thể nghĩ bàn! Các pháp môn khác phải
thâm nhập ngay vào vô sanh nên là đạo khó hành. Nay Tịnh
nghiệp này lại khéo nhập vô sanh nên là đạo dễ
hành. Pháp môn Niệm Phật là đường tắt tu hành
mà một pháp Tŕ Danh lại là đường tắt trong bốn
pháp niệm Phật, nên gọi là “đường tắt
nhất trong các đường tắt”.
Hơn nữa, kinh này chẳng đề xướng
“nhất tâm bất loạn” mà dùng ngay “phát Bồ Đề tâm,
một dạ chuyên niệm A Di Đà Phật” làm Tông. Chỉ cần
phát tâm chuyên niệm đều được văng sanh. V́ vậy,
pháp này lại càng minh xác, đơn giản, quan trọng.
Do đó, kinh này được xưng tụng là kinh bậc
nhất của Tịnh tông. Đó là do kinh này là đường
thẳng nhất trong các đường thẳng, là
phương tiện bậc nhất trong các phương tiện,
dứt bặt đối đăi một cách viên dung chẳng
thể nghĩ bàn.
Các đại đức Tịnh tông Nhật Bổn lại
xem trọng kinh này hơn Trung Hoa rất nhiều. Sớ giải
Đại Kinh của Hắc Cốc Pháp Nhiên thượng nhân
viết:
“Trong giáo pháp văng sanh vừa
có giáo pháp căn bản, vừa có giáo pháp cành nhánh. Kinh này là căn bản giáo, các
kinh khác là kinh cành nhánh. Kinh này c̣n gọi là chánh văng sanh giáo, các kinh khác là bàng văng sanh giáo…
Kinh này c̣n gọi là giáo pháp văng sanh trọn vẹn, các kinh
khác là giáo pháp văng sanh chưa trọn vẹn”.
Cứ theo nghĩa trên, Tịnh Độ Tông ví như đỉnh
ngọn núi Diệu Cao mà kinh này chính là chót đầu đỉnh
núi. Kinh này dạy: Hết thảy hàm linh đời
tương lai đều do nương vào kinh này mà
được độ thoát. Kinh này lợi ích khắp
chúng sanh bậc nhất như vậy. Pháp Tŕ Danh thầm hợp
diệu đạo thật dễ thực hành.
1.5. Đại thánh rủ ḷng từ, riêng lưu lại
kinh này
Kinh chép: “Đương lai chi thế, kinh đạo diệt tận,
ngă dĩ từ bi ai mẫn, đặc lưu thử kinh chỉ
trụ bách tuế, kỳ hữu chúng sanh trị tư kinh
giả, tùy ư sở nguyện giai khả đắc độ”
(Đời
tương lai, kinh đạo diệt hết, ta v́ từ
bi thương xót riêng lưu lại kinh này tồn tại
trong đời một trăm năm. Nếu có chúng sanh gặp
được kinh này, tùy ḷng sở nguyện đều
được độ thoát).
Thêm nữa, kinh Chánh Pháp Diệt Tận cũng nói về
t́nh cảnh pháp diệt tối hậu giống như kinh
Vô Lượng Thọ. Điều này hiển lộ nhân duyên
thù thắng hưng khởi kinh này.
Diệu dụng của pháp môn Tŕ Danh ví như thức
ăn đă ngon lại giàu chất dinh dưỡng tăng
cường sức khỏe, lại như linh dược
linh nghiệm thần hiệu trừ sạch được
bệnh trầm kha khó chữa, trị khắp các bệnh,
ban bố lợi ích rộng khắp. V́ vậy, bảo rằng: “Diệu dụng lớn lao thay
chẳng thể nghĩ bàn”.
Đến khi đời mạt, ác trược càng sâu, các
căn kém cỏi, tuổi thọ của con người chỉ
c̣n mười năm, cấu nặng, chướng sâu. Khi
đó, sóng ác ngập tràn, lửa độc dậy đất,
Thế Tôn rủ ḷng từ riêng lưu lại pháp này để
làm thuyền Từ, xối mưa cam lộ. Ơn Phật
sâu nặng, nát thân khó đền!
[1] C̣n gọi là chỉ thú, hoặc
tông chỉ, tức chỗ nhắm đến, chỗ
hướng về, mục tiêu tối hậu của một
việc hoặc một học thuyết hay giáo thuyết.
[2] Quả Giáo: Giáo
pháp nêu ngay cái quả đức để làm nhân phát khởi
tu hành chúng sanh, nương theo công đức viên măn của
quả toàn giác để tu tŕ. Đây là cách phán giáo của Mật
tông. Theo họ, Tịnh Độ, Mật tông là quả giáo. Các
tông khác là nhân thừa (tức là cái nhân tu hành khác với cái
quả).
[3] Địa Thượng
Bồ Tát: Các vị Bồ Tát từ Sơ Địa trở
lên.
[4] Địa Tiền Bồ
Tát: Các vị Bồ Tát chưa dự vào hàng Thập Địa,
tức là Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập
Hồi Hướng.