26. Lễ Cúng Thính Pháp (禮
供 聽 法)
Phẩm này mang tên Lễ Cúng Thính Pháp v́ “lễ cúng” là các đại Bồ Tát trong mười
phương thế giới đều đến thế
giới Cực Lạc lễ bái, cúng dường A Di Đà Phật;
“thính pháp” là đức A Di
Đà Phật nghĩ thương những vị đó nên tuyên
dương diệu pháp; mười phương Đại
Sĩ hoan hỷ nghe nhận.
Việc A Di Đà Phật thuyết pháp nói trong phẩm này
chính là do đức Thích Tôn kể lại, nhưng bậc
đạo sư hai cơi chẳng hai, chẳng khác. Lời
đức Thích Ca nói nào khác chính miệng A Di Đà Phật dạy!
V́ thế, nay chúng ta đọc kinh này nào khác với người
được đích thân dự pháp hội nghe pháp. Cuối
phẩm này, đức Thích Ca lại khen các Đại Sĩ
đến nghe pháp đă tự lợi ḿnh, lợi người,
thọ kư họ sẽ thành Phật.
Chánh kinh:
復 次 阿 難,十 方 世 界 諸 菩 薩 眾,為 欲 瞻 禮 極 樂 世 界 無 量 壽 佛,各 以 香 華 幢 幡 寶 蓋,往 詣 佛 所。恭 敬 供 養,聽 受 經 法,宣 布 道 化,稱 讚 佛 土 功 德 莊 嚴。爾 時 世 尊 即 說 頌 曰 :
Phục thứ
A
Lại này A
Giải:
“Chiêm” (瞻) là nh́n hướng
lên trên hoặc hướng về phía trước; ở
đây có nghĩa là chiêm ngưỡng.
Câu “thính thọ kinh pháp, tuyên bố
đạo hóa” (nghe nhận kinh pháp, tuyên nói, lưu truyền
đạo hóa) được
sách Hội Sớ giảng như sau: “Lắng nghe, thọ tŕ kinh pháp do đức A Di Đà
nói, tuyên truyền đạo đức giáo pháp của Ngài
để làm lợi ích”. Nghĩa là: Mười
phương Đại Sĩ nghe nhận kinh pháp do đức
Đạo Sư cơi Cực Lạc giảng, rồi lại
đi đến mười phương lần lượt
giảng nói những pháp mà đấng Đạo Sư đă
giảng.
Tiếp đó, kinh bảo: “Xưng tán
Phật độ công đức trang nghiêm” (Khen ngợi công đức trang nghiêm của cơi
Phật), đó chính là mười phương Đại
Sĩ khen ngợi cơi Cực Lạc công đức trang
nghiêm.
Chánh kinh:
東 方 諸 佛 剎
數 如 恆 河 沙
恆 沙 菩 薩 眾
往 禮 無 量 壽
南 西 北 四 維
上 下 亦 復 然
咸 以 尊 重 心
奉 諸
珍 妙 供
Đông phương chư Phật
sát,
Số như Hằng hà sa,
Hằng sa Bồ Tát chúng
Văng lễ Vô Lượng Thọ
Nam, Tây, Bắc, tứ duy
Thượng, hạ diệc
phục nhiên
Hàm dĩ tôn trọng tâm
Phụng chư trân diệu cúng
Các cơi Phật
phương Đông,
Số như
cát sông Hằng
Hằng sa Bồ
Tát chúng
Đến lễ
Vô Lượng Thọ
Nam, Tây, Bắc,
bốn góc
Thượng, hạ
cũng như vậy
Đều dùng tâm
tôn trọng
Dâng diệu vật
cúng Phật
Giải:
Trước hết nói phương Đông, tiếp theo nói
về hằng sa thế giới trong các phương khác.
Trong mỗi thế giới ấy, đều có Bồ Tát
thánh chúng số đông như cát sông Hằng cùng đến
cơi Cực Lạc lễ kính Vô Lượng Thọ Phật,
cùng dùng tâm thành kính dâng hiến các thứ phẩm vật
trân quư, vi diệu, thù thắng như bản Ngụy dịch
chép: “Các tê thiên diệu hoa, bảo
hương, vô giá y” (Mỗi người cầm hoa trời,
hương báu, y vô giá) v.v… Đó là tài cúng dường. Tiếp
theo đây là pháp cúng dường.
Chánh kinh:
暢 發 和 雅 音
歌 嘆 最 勝 尊
究 達 神 通 慧
遊 入 深 法 門
聞 佛 聖 德 名
安 隱 得 大 利
種 種 供 養 中
勤 修 無 懈 倦
觀 彼 殊 勝 剎
微 妙 難 思 議
功 德 普 莊 嚴
諸 佛 國 難 比
因 發 無 上 心
願 速 成 菩 提
Sướng phát ḥa nhă âm,
Ca thán Tối Thắng Tôn
Cứu đạt thần
thông huệ,
Du nhập thâm pháp môn
Văn Phật thánh đức
danh
An ổn đắc đại
lợi
Chủng chủng cúng dường
trung
Cần tu vô giải quyện
Quán bỉ thù thắng sát
Vi diệu nan tư nghị
Công đức phổ trang
nghiêm
Nhân phát vô thượng tâm
Nguyện tốc thành Bồ
Đề
Vang trọn tiếng
ḥa nhă
Ca tụng đấng
Tối Thắng
Thấu suốt
thần thông huệ,
Du nhập pháp
môn sâu
Nghe Phật thánh
đức danh
An ổn đắc
đại lợi
Trong các thứ
cúng dường
Siêng tu không
lười mỏi
Quán cơi thù thắng
kia
Vi diệu khó
nghĩ bàn
Công đức
trang nghiêm khắp
Các cơi Phật
khó sánh
Do phát tâm Vô
Thượng
Nguyện chóng
thành Bồ Đề
Giải:
Bài kệ này ư nói những lời tán thán ca tụng đức
Phật Di Dà cùng cơi nước của Ngài đều từ
ḷng chân thành mà phát xuất nên bảo là “sướng phát” (暢 發:
phát ra
thông suốt, trọn khắp). Những tiếng tán thán ấy
âm điệu ḥa nhă nên bảo là “ḥa
nhă âm” (tiếng ḥa nhă). Sách Hội Sớ nói: “Ngũ âm ḥa hợp, thanh điệu
chẳng tà nên bảo là ḥa nhă. Ca (歌) là ca vịnh, thán (嘆)
là xưng thán” (trong lời kệ,
tạm dịch chữ “ca thán” thành ca tụng).
Chữ “Tối Thắng
Tôn” chỉ đức A Di Đà Phật. Do Ngài là vua của
các đức Phật nên xưng tụng là “Tối Thắng”.
Những lời tán thán gồm:
1. Tán thán Phật đức: “Cứu đạt thần thông huệ” (Thấu
suốt thần thông huệ).
“Cứu” (究) có nghĩa là rốt
ráo, “đạt” (達) là thông đạt,
hiểu rơ; “thần thông huệ”
là thần thông và trí huệ.
Kinh Lục Ba La Mật chép:
“Di Lặc bạch Phật
ngôn: - Vân hà danh vi thần thông, trí huệ?
Phật ngôn: - Thần thông giả, năng dĩ thần
lực kiến cực vi sắc, thị danh thần thông.
Dĩ tịnh pháp nhăn, tri sắc tánh không, diệc bất thủ
trước, thị danh trí huệ. Phục thứ, văn
thế gian cực vi tiểu thanh, thị danh thần thông.
Ư chư âm thanh, ngộ vô ngôn thuyết, ly chư thí dụ,
thị danh trí huệ. Phục thứ năng tri nhất thiết
hữu t́nh tâm hạnh, thị danh thần thông. Liễu
chư hữu t́nh vọng tâm phi tâm, thị danh trí huệ.
Phục thứ, ư quá khứ tế, tất giai ức niệm,
thị danh thần thông, Liễu Phật độ không, thị
danh trí huệ.
Phục thứ, liễu tri căn tánh sai biệt chi
tướng, thị danh thần thông. Liễu thắng
nghĩa không, thị danh trí huệ. Năng tri chư pháp, thị
danh thần thông. Liễu tục như huyễn, thị
danh trí huệ”
(Di Lặc bạch Phật rằng:
- Thế nào gọi là thần thông và trí huệ?
Phật dạy:
- Thần thông là dùng thông lực thấy được
sắc cực vi, đó là thần thông. Do tịnh pháp nhăn biết
được tánh của Sắc là không, cũng chẳng
chấp lấy th́ gọi là trí huệ. Hơn nữa, nghe
được tiếng cực nhỏ của thế gian
th́ gọi là thần thông. Hiểu được trong các âm
thanh chẳng có ngôn thuyết, ĺa các thí dụ th́ gọi là
trí huệ.
Lại nữa, biết được tâm hạnh của
hết thảy hữu t́nh th́ gọi là thần thông. Biết
rơ các vọng tâm của hữu t́nh chẳng phải là tâm
th́ gọi là trí huệ. Lại
nữa, với đời quá khứ đều nghĩ nhớ
được th́ gọi là thần thông. Hiểu cơi Phật
là Không th́ gọi là trí huệ. Lại nữa, biết rơ
tướng trạng sai biệt của căn tánh th́ gọi
là thần thông. Hiểu Thắng Nghĩa Không th́ gọi là
trí huệ. Biết các pháp th́ gọi là thần thông. Biết
rơ thế tục như huyễn th́ gọi là trí huệ).
Phật đều hiểu thấu rành rẽ những
loại thần thông, trí huệ như trên nên khen ngợi
Ngài “cứu đạt thần
thông huệ” (thấu suốt thần thông huệ).
Ngài Tịnh Ảnh nói: “Các
trí huệ thần thông ấy đều do pháp tạo thành”
nên tiếp đó, kinh nói đến “du nhập thâm pháp môn” (du nhập trong pháp môn sâu).
Trong bản chú giải kinh Duy Ma, ngài Tăng Triệu
đă giảng chữ “pháp môn”
như sau: “Làm khuôn mẫu cho
đời là Pháp (法), là nguyên do dẫn dắt thánh chúng th́ gọi
là Môn (門)”. Lời đức Phật dạy
là khuôn phép cho thế gian nên gọi là “pháp”; pháp ấy là nguyên do dẫn dắt thánh chúng
nhập đạo nên gọi là “môn”.
Hoa Nghiêm Đại Sớ viết: “[Là cửa ngơ để] nhập vào trong thần thông
trí huệ của Như Lai nên gọi là Môn”. Sách Hội
Sớ bảo: “Xuất nhập
vô ngại là Du (遊), thấu suốt đến chỗ uyên áo là
Nhập (入)”. Tịnh Ảnh Sớ lại giảng:
“Cùng tột tận cội gốc
gọi là Nhập”. Nghĩa là: Thấu hiểu rốt
ráo đến tận cội nguồn th́ gọi là Nhập.
Ở đây, các Bồ Tát tán thán A Di Đà Phật đă
cùng tột cội nguồn Thật Tướng của các
pháp, xuất nhập vô ngại, nên mới nói: “Du nhập thâm pháp môn”. Thấu
hiểu tột cùng đến tận cội rễ th́ rất
là sâu xa nên mới bảo là “thâm
pháp môn”.
2. Khen ngợi công đức của Phật hiệu:
“Văn Phật thánh đức
danh” (Nghe danh hiệu thánh đức của Phật).
Trong bổn nguyện của Phật A Di Đà, mười
nguyện kể từ nguyện mười tám đến
nguyện hai mươi bảy và năm nguyện từ
nguyện bốn mươi bốn đến nguyện bốn
mươi tám đều diễn tả ư tưởng: Do
nghe danh hiệu Phật nên sẽ vĩnh viễn ĺa các ác khổ,
trọn được hưởng sự vui rốt ráo;
mười phương chúng sanh nghe danh đều
được an ổn, được các thứ lợi
chân thật. Do đó kinh nói: “An
ổn đắc đại lợi” (An ổn,
được đại lợi). Thập phương Đại
Sĩ nghe danh hiệu Phật được hưởng
ích lợi, cảm tạ thâm ân, mong muốn đáp đền
nên rộng tu cúng dường chẳng hề lười mỏi.
Câu “chủng chủng cúng dường
trung” (trong các thứ cúng dường) hàm ư hai thứ tài
cúng dường và pháp cúng dường. Phẩm Phổ Hiền
Hạnh Nguyện nói:
“Chư cúng dường
trung, pháp cúng dường tối. Sở vị: Như thuyết
tu hành cúng dường, lợi ích chúng sanh cúng dường,
nhiếp thọ chúng sanh cúng dường, đại chúng
sanh khổ cúng dường, cần tu thiện căn cúng
dường, bất xả Bồ Tát nghiệp cúng dường,
bất ly Bồ Đề tâm cúng dường” (Trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là
cao nhất, nghĩa là: Tu hành đúng như lời dạy
để cúng dường, lợi ích chúng sanh để
cúng dường, nhiếp thọ chúng sanh để cúng
dường, chịu khổ thay cho chúng sanh để cúng
dường, siêng tu các căn lành để cúng dường,
chẳng xả Bồ Tát nghiệp để cúng dường,
chẳng rời Bồ Đề tâm để cúng dường). Và: “Như thị tu hành, thị chân
cúng dường” (Tu hành
như thế là cúng dường một cách chân thật).
Bồ Tát do nghe danh hiệu Phật nên đối với
những thứ cúng dường như vừa nói trên đều
siêng gắng tu tŕ chẳng hề sanh ḷng lười biếng,
mệt mỏi. V́ thế kinh nói: “Cần
tu vô giải quyện” (Siêng tu không lười mỏi).
Những điều như trên đều là do danh hiệu
Phật công đức chẳng thể nghĩ bàn.
3. Khen ngợi cơi nước Phật:
Trong Cực Lạc thế giới “quốc trung vạn
vật nghiêm tịnh quang lệ, cùng vi cực diệu”
(vạn vật trong nước nghiêm tịnh, sáng đẹp,
h́nh sắc lạ lùng, đặc biệt, cùng vi cực diệu).
H́nh sắc, quang tướng, danh số của muôn vật
đều chẳng thể kể nói nổi, cũng chẳng
thể biện định rành rẽ nổi. Đó là v́ cơi ấy
thù thắng vi diệu, không thể dùng ngôn ngữ, tư duy
để lănh hội nổi. Do đó, kinh nói: “Quán bỉ thù thắng sát, vi diệu
nan tư nghị” (Quán cơi thù thắng
kia, vi diệu khó nghĩ bàn).
Các thứ trang nghiêm nhập vào trong một
pháp cú tức là thanh tịnh cú. Thanh tịnh cú là “chân thật
trí huệ vô vi Pháp Thân”. Y báo, chánh báo cơi Cực Lạc
đều trang nghiêm bằng công đức của Thật
Tướng nên b́nh đẳng hiện khắp. V́ thế,
kinh mới nói: “Công đức phổ trang nghiêm” (Công đức trang nghiêm khắp). Cơi nước mầu
nhiệm như kinh đă khen: “Siêu
du thập phương nhất thiết thế giới” (Vượt
hẳn hết thảy thế giới trong mười
phương) nên kinh mới nói: “
4. Khen ngợi người cảm mộ ân
đức báo ân:
“Nhân phát vô thượng tâm, nguyện tốc thành Bồ
Đề”
(Do phát tâm Vô Thượng, nguyện
chóng thành Bồ Đề).
Mười phương Bồ Tát thấy cơi ấy
trang nghiêm thanh tịnh vượt xa mười
phương, Phật hiệu có công đức phổ độ
hết thảy, nên phát đại tâm, nguyện chính ḿnh khi
thành Phật cũng sẽ thành tựu cơi nước giống
như vậy như kinh Duy Ma đă nói: “Dĩ chư tịnh quốc nghiêm sức chi sức
thành kỷ Phật độ” (Dùng những sự trang nghiêm của các Tịnh Độ
để tạo thành cơi Phật của chính ḿnh). Nguyện
ḿnh cũng có thể tế độ đến tột
cùng đời vị lai như A Di Đà Phật.
Chánh kinh:
應 時 無 量 尊
微 笑 現 金 容
光 明 從 口 出
徧 照 十 方 國
迴 光 還 繞 佛
三 匝 從 頂 入
菩 薩 見 此 光
即 證 不 退 位
時 會 一 切 眾
互 慶 生 歡 喜
Ứng thời Vô Lượng
tôn,
Vi tiếu hiện kim dung
Quang minh tùng khẩu xuất,
Biến chiếu thập
phương quốc
Hồi quang hoàn nhiễu Phật
Tam táp tùng đảnh nhập
Bồ Tát kiến thử quang
Tức chứng Bất Thoái vị
Thời hội nhất thiết
chúng
Hỗ khánh sanh hoan hỷ
Lập tức,
Vô Lượng Tôn
Kim dung hiện
mỉm cười
Quang minh từ
miệng tỏa
Chiếu khắp
mười phương cơi
Quang trở về
nhiễu Phật
Ba ṿng nhập
vào đảnh
Bồ Tát thấy
quang ấy
Liền chứng
ngôi Bất Thoái
Hết thảy
hội chúng ấy
Mừng rỡ
sanh hoan hỷ
Giải:
Đoạn kinh văn này diễn tả cảm ứng
đạo giao: Như Lai phóng quang gia tŕ, đại chúng chứng
địa vị Bất Thoái, đều hoan hỷ lớn
lao.
Bản Tống dịch chép: “Nhĩ
thời, bỉ Phật Vô Lượng Thọ, hóa đạo
tha phương Bồ Tát tâm, mật dụng thần thông
phóng đại quang, kỳ quang tùng bỉ diện môn xuất”
(Lúc bấy giờ, đức Phật Vô Lượng Thọ
nhằm khai ngộ tâm các Bồ Tát từ phương khác
đến nên ngầm dùng thần thông phóng ra đại
quang minh. Quang minh ấy từ khuôn mặt tỏa ra).
Như vậy, “Vô Lượng
Tôn” chính là Vô Lượng Thọ Phật.
“Vi
tiếu hiện kim dung” là trên khuôn mặt rạng rỡ
như vàng của Phật hiện tướng mỉm
cười. Sách Hội Sớ nói:
“Ứng thời’ là ngay khi Bồ
Tát phát nguyện, hân tiếu[1]
(cười vui vẻ) là tướng thọ kư. Như Lai
thường trụ tam-muội, an tường bất
động nên tâm Phật vắng lặng không vui, không buồn.
Nếu lúc Ngài sắp thọ kư liền hiện tướng
cười vui vẻ. Lưỡi Ngài mỏng, sạch, màu
như màu đồng đỏ. Trên lưỡi có năm
đường vạch như nét khắc trên ấn. Khi
cười, lưỡi khẽ động phóng ra ánh sáng năm
màu. Kinh Đại Bảo Tích nói: ‘Chư Phật thường
pháp nhược thọ địa ngục chúng sanh kư thời,
nhĩ thời quang minh lưỡng túc hạ một, năi chí
nhược thọ Bồ Đề kư, nhĩ thời quang
minh tùng đảnh thượng một” (Pháp thường của chư Phật là nếu thọ
kư chúng sanh sẽ bị đọa địa ngục th́
quang minh sẽ trở vào hai chân rồi biến mất, cho
đến nếu thọ kư Bồ Đề th́ quang minh sẽ
nhập vào đảnh đầu rồi biến mất).
Do cơi kia thuần là Đại Thừa nên chẳng thọ
kư cho thừa nào khác; bởi đó, kinh mới bảo là “tùng đảnh nhập” (nhập vào trong đảnh).
Bản Ngụy dịch nói rơ nguyên nhân phóng quang là “đương thọ Bồ
Đề kư” (sẽ thọ
kư Bồ Đề).
Gia Tường Sớ ghi: “Chánh
hạnh thọ kư nhằm thể hiện đă đúng thời
cơ nên Phật cười vui vẻ. Quang minh từ miệng
phóng ra lại nhập trở vào đảnh đầu, ngụ
ư: Phật sắp nói lời thọ kư chúng sanh sẽ đắc
Pháp Thân chí cực”.
Nghĩa là: Nhằm thọ kư cho đại chúng đúng
vào lúc căn cơ của họ đă thuần thục nên
Phật hiện tướng mỉm cười. Từ
trong miệng phóng ra quang minh chiếu khắp mười
phương, quang minh nhiễu quanh thân Phật ba ṿng rồi
nhập vào trong đảnh Phật. Điều này thể hiện
chúng sanh được thọ kư Pháp Thân chí cực, tức
là Phật thọ kư họ sẽ được Cứu
Cánh Quả Giác.
Bản Sớ Giải của ngài Vọng Tây giảng việc
quang minh chiếu mười phương rồi nhập
vào đảnh Như Lai như sau: “Theo kinh Hoa Nghiêm, đây là thọ kư cho Bồ Tát sắp
được thành Phật”.
Tiếp đó, kinh bảo: Đại chúng trong hội
do thiện căn thuần thục nên thấy quang minh ấy
của Phật “tức chứng
Bất Thoái vị” (liền chứng ngôi Bất Thoái). Bất
Thoái là nói tắt chữ Bất Thoái Chuyển, tức là A
Duy Việt Trí Bồ Tát. V́ vậy, hội chúng khi ấy “hỗ khánh, sanh hoan hỷ” (cùng
nhau mừng rỡ, sanh hoan hỷ).
Các vị Bồ Tát trong hội thấy điềm lành ấy
biết ḿnh sẽ được thọ kư, hiện chứng
Bất Thoái nên đều mừng rỡ khoe với nhau,
không ai là chẳng hoan hỷ.
Gia Tường Sớ chép: “Nhân
thiên biết tướng mà hoan hỷ”.
Bản Tống dịch ghi: “Thời
hội nhất thiết chư chúng sanh, kính thán Phật
quang vị tằng hữu, các các câu phát Bồ Đề
tâm, nguyện xuất trần lao, đăng bỉ ngạn”
(Lúc bấy giờ, hết thảy các chúng sanh kính trọng,
khen ngợi quang minh của Phật là chưa từng có; ai
nấy đều phát Bồ Đề tâm, nguyện thoát khỏi
trần lao, đạt lên bờ kia).
Chánh kinh:
佛 語 梵 雷 震
八 音 暢 妙 聲
十 方
來
正
士
吾 悉
知
彼
願
志 求 嚴 淨 土
受 記 當 作 佛
覺 了
一
切 法
猶 如
夢
幻
響
滿 足
諸
妙
願
必 成
如
是
剎
知 土
如 影 像
恒 發
弘 誓 心
究 竟
菩 薩 道
具 諸
功 德 本
修 勝
菩 提 行
受 記
當 作 佛
通 達
諸 法 性
一 切
空 無 我
專 求
淨 佛 土
必 成 如 是 剎
Phật ngữ phạm lôi chấn
Bát âm sướng diệu thanh
Thập phương lai Chánh
Sĩ
Ngô tất tri bỉ nguyện
Chí cầu nghiêm tịnh độ,
Thọ kư đương tác Phật
Giác liễu nhất thiết
pháp
Do như mộng, huyễn,
hưởng
Măn túc chư diệu nguyện
Tất thành như thị sát
Tri độ như ảnh
tượng
Hằng phát hoằng thệ
tâm
Cứu cánh Bồ Tát đạo
Cụ chư công đức bổn
Tu thắng Bồ Đề hạnh
Thọ kư đương tác Phật
Thông đạt chư pháp tánh
Nhất thiết không, vô ngă
Chuyên cầu tịnh Phật
độ
Tất thành như thị sát
Phật ngữ
phạm lôi chấn
Thốt tiếng
mầu bát âm:
“Chánh Sĩ
mười phương lại
Ta đều biết
nguyện họ
Chí cầu cơi
nghiêm tịnh
Thọ kư sẽ
thành Phật
Hiểu rơ hết
thảy pháp
Khác nào mộng,
huyễn, vang
Trọn đủ
các diệu nguyện
Ắt thành cơi
như thế
Biết cơi
như h́nh bóng
Hằng phát tâm
hoằng thệ
Rốt ráo đạo
Bồ Tát
Đủ các gốc
công đức
Tu thắng Bồ
Đề hạnh
Thọ kư sẽ
thành Phật
Thông đạt
các pháp tánh
Hết thảy
không, vô ngă
Chuyên cầu cơi
Phật tịnh
Ắt thành cơi
như vậy!”
Giải:
Di Đà phóng quang rồi thuyết pháp nên kinh nói: “Phật ngữ phạm lôi chấn”.
Ở đây, chữ “Phật” chỉ đức A Di Đà.
Âm thanh của Phật thanh tịnh nên gọi là “phạm âm” (梵 音). Tiếng của Ngài cũng giống như tiếng của
Đại Phạm thiên vương nên gọi là “phạm âm”. Đại Trí Độ
Luận nói: “Giống như
năm thứ âm thanh phát ra từ miệng Phạm thiên
vương: Một là rền xa như tiếng sấm; hai
là trong trẻo vang xa, người nghe vui thích; ba là người
nghe tâm kính mến; bốn là đúng đắn, rơ ràng dễ
hiểu; năm là nghe không chán”.
“Lôi chấn” (雷 震) là h́nh ảnh dùng để thí dụ.
Gia Tường Sớ giảng: “Sấm
sét có khả năng đánh động hữu t́nh nên dùng sấm
sét để ví cho thuyết pháp có khả năng thức tỉnh
vô minh”. Tịnh Ảnh Sớ cũng nói: “Chấn pháp lôi (rền sấm
pháp) là pháp vô ngại trí hóa độ chúng sanh”. Bản
Đường dịch ghi: “Chấn
đại pháp lôi khai ngộ nhất thiết” (Rền sấm
đại pháp khai ngộ hết thảy). Tổng hợp
các cách giải thích trên th́ âm thanh thuyết pháp của Phật
Di Đà như tiếng của Phạm thiên vương, diễn
thuyết pháp yếu như sấm sét vang rền khai ngộ
đại chúng. Đấy là lời đức Bổn Sư
tán thán Phật Di Đà.
Tiếp đó, kinh nói: “Bát âm
sướng diệu thanh” (Thốt tiếng
mầu bát âm) cũng có nghĩa tương tự. “Bát âm” là tám điều thành tựu
nơi giọng nói của Như Lai.
Kinh Phạm Ma Dụ bảo bát âm là: “Nhất tối hảo thanh, kỳ thanh ai diệu. Nhị
dị liễu thanh, ngôn từ biện liễu. Tam điều
ḥa thanh, đại tiểu đắc trung (văn giả
ḥa dung, tự nhiên hội ư Trung Đạo chi lư). Tứ
nhu nhuyễn thanh, ngôn vô thố thất (văn giả hỷ
duyệt, xả cang cường ư, tự nhiên nhập Luật).
Ngũ bất ngộ thanh, ngôn vô thố thất (văn giả
các đắc chánh kiến, ly cửu thập ngũ chủng
ngoại đạo chi tà phi). Lục bất nữ thanh, kỳ
thanh hùng lăng (văn giả kính phục, ma ngoại quy thuận).
Thất tôn huệ thanh, ngôn hữu oai túc, nhi thế tôn trọng,
hữu huệ nhập thanh (văn giả tôn trọng, trí
giải khai lăng). Bát thâm viễn thanh, kỳ thanh thâm viễn,
do như lôi chấn (văn giả giai chứng thậm thâm
chi lư)
(Một là âm thanh tối hảo, âm thanh ấy
êm dịu. Hai là tiếng nói dễ hiểu, ngôn từ phân biệt
rơ ràng. Ba là tiếng điều ḥa, dù Đại Thừa hay Tiểu
Thừa nghe thấy đều ngộ được Trung
Đạo (người nghe ḥa hợp, dung hội, tự nhiên
hiểu lư Trung Đạo). Bốn là tiếng nhu nhuyễn
(người nghe vui thích, bỏ ư ương ngạnh, tự
nhiên thấu hiểu, thâm nhập giới luật). Năm
là tiếng chẳng lầm lộn, lời nói không lỗi lầm
(ai nghe cũng được chánh kiến, ĺa khỏi chín
mươi lăm thứ lỗi tà kiến). Sáu là âm thanh chẳng
mang tính chất nữ nhân, tiếng Ngài hùng hồn, sang sảng
(người nghe kính phục, ma và ngoại đạo cùng
quy phục). Bảy là tiếng tôn huệ: Giọng nói có oai
khiến đời tôn trọng, là tiếng nói của bậc
có trí huệ (nghe tiếng Ngài liền tôn trọng, trí huệ
mở mang, thông suốt). Tám là âm thanh sâu xa, tiếng Phật
vang rất xa ví như tiếng sấm rền (ai nghe tiếng
Phật cũng đều chứng lư thậm thâm).
Theo ngài Gia Tường, bát âm là: “Một là vang vọng, hai là thấu triệt, ba là
trong trẻo, bốn là mềm mại, năm là êm dịu,
sáu là rơ ràng, bảy là điều ḥa, tám là thanh nhă”.
“Sướng” (暢: thốt ra, diễn
nói lưu loát) là nói, diễn nói như kinh Di Đà chép: “Kỳ âm diễn sướng
Ngũ Căn, Ngũ Lực” (Âm thanh ấy diễn nói
thông suốt Ngũ Căn, Ngũ Lực). “Diệu thanh” chỉ âm thanh diệu pháp. Phật
Di Đà dùng tiếng đầy đủ tám điều
như thế để thuyết pháp mầu nên kinh nói: “Bát âm sướng diệu thanh” (Thốt
ra thông suốt tiếng bát âm mầu
nhiệm).
Từ câu “thập
phương lai Chánh Sĩ, ngô tất tri bỉ nguyện” (mười phương Chánh Sĩ lại, ta
đều biết nguyện họ) cho đến câu cuối
“tất thành như thị sát” (ắt thành cơi như vậy) đều là lời
đức Bổn Sư Thích Ca thuật lại những
pháp âm được diễn nói bởi A Di Đà Phật.
“Thập phương lai
Chánh Sĩ, ngô tất tri bỉ nguyện”:“Chánh Sĩ” chính là Bồ
Tát như trong phần nói về mười sáu vị Chánh
Sĩ trong kinh này đă giảng. “Ngô”
(吾: Ta) là chữ đức A Di Đà tự xưng,
ư nói: Mười phương Bồ Tát đến cơi Ngài,
ai nấy đều có đại nguyện thù thắng, Phật
đều biết rơ cả. Ư nguyện của họ là “chí cầu nghiêm tịnh độ,
thọ kư đương tác Phật” (chí cầu trang nghiêm tịnh độ,
[được] thọ kư sẽ thành Phật). Các vị Bồ
Tát ấy phát đại nguyện như vậy nên
được A Di Đà Phật khen ngợi. Chúng sanh khởi
tâm động niệm Phật đều biết, đều
thấy. Hiện giờ, các vị Chánh Sĩ có chí nguyện
được giống như Phật Di Đà, thành tựu Đại
Giác, nhiếp lấy cơi Phật, Phật liền biết
ngay. V́ thế, Ngài nói ra những pháp tương ứng
như sau khiến cho họ măn nguyện:
1. “Giác liễu
nhất thiết pháp, do như mộng, huyễn, hưởng,
măn túc chư diệu nguyện, tất thành như thị
sát” (Hiểu rơ hết
thảy pháp, khác nào mộng, huyễn, vang, trọn vẹn
các diệu nguyện, ắt thành cơi như thế):
“Giác” (覺) là chứng ngộ,
“liễu” (了) là biết rơ.
“Nhất thiết pháp” (Hết thảy
pháp) là chữ để chỉ chung hết thảy pháp vạn
hữu. Đại Trí Độ Luận nói: “Nói đại lược, hết thảy pháp gồm
ba thứ: Một là pháp hữu vi, hai là pháp vô vi, ba là pháp bất
khả thuyết. Ba loại này bao gồm hết thảy
pháp”.
“Như mộng, huyễn,
hưởng” (Như mộng, huyễn, tiếng vang) là ví
các pháp đều hư vọng chẳng thật như mộng,
như huyễn hóa, như tiếng vang vọng lại. Đại
Trí Độ Luận nói: “Như mộng
là như trong giấc mộng chẳng có việc ǵ thật.
Ngỡ là thật, nhưng tỉnh giấc lại biết
là không; nên lại cười một ḿnh”.
Luận viết tiếp: “Hết
thảy các hạnh như huyễn, lừa dối trẻ
nít, thuộc vào nhân duyên chẳng tự tại, chẳng tồn
tại lâu dài”.
Và: “Ở nơi hang hẹp
trong núi sâu hoặc ở nơi khe núi sâu thẳm, hay ở
trong căn nhà lớn trống rỗng nếu nói ra tiếng hoặc tạo tiếng
động th́ có tiếng đáp lại. Tiếng ấy gọi
là “hưởng” (響: tiếng vang). Kẻ vô trí nghĩ là thật có người đáp lại,
người trí suy nghĩ tiếng này chẳng phải do ai tạo ra, chỉ do tiếng ban
đầu sanh ra nên gọi là tiếng vọng. Tiếng
vang tuy là không nhưng có thể khiến cho nhĩ căn bị
lầm… Bồ Tát biết các pháp như tiếng vang”.
Sách Hội Sớ lại bảo: “Như mộng là như trong giấc mộng thấy,
tuy có thấy các sự nhưng rốt ráo chẳng thể
được. Các pháp cũng lại giống như thế.
‘Như huyễn’ là hóa hiện như huyễn, tuy tựa
như thật có hiện ra, nhưng Thể của nó vốn
là tịch diệt, các pháp
cũng giống như thế. ‘Như hưởng’ là
như tiếng vang nơi hang trống, tuy do âm thanh mà phát khởi
nhưng chẳng có tự tánh. Các pháp cũng lại giống như thế”.
Tiếp đó, lời kệ nêu lên nguyện thù thắng
và Phật thọ kư họ ắt đạt được
cơi nước.
Ngài Tịnh Ảnh bảo: “Bài
kệ này nêu lên trí nguyện của các vị Bồ Tát, thọ
kư họ ắt sẽ chứng đắc cơi nước.
‘Giác liễu nhất thiết như huyễn hưởng đẳng’
(Hiểu rơ hết thảy pháp như mộng, huyễn, tiếng
vang v.v...) là nói về trí. ‘Măn túc chư nguyện’ (Trọn vẹn
các nguyện) là nói đến nguyện. ‘Thành như thị
sát’ (Thành tựu cơi như vậy) là thọ kư họ sẽ đạt được cơi
nước [nghiêm tịnh]”.
Ư Ngài nói: Biết rơ hết thảy đều như mộng
huyễn là nói về trí huệ. Trọn đủ các nguyện
nhiệm mầu là nói về đại nguyện. Chẳng
những chỉ khởi lên các nguyện nhiệm mầu mà
c̣n có thể tu tập, nhiếp thủ, viên măn trọn vẹn
các nguyện, đủ chứng tỏ nguyện ấy chân
thành, thiết tha. Do hai điều ấy làm nhân nên
được thọ kư rằng: “Tất thành như thị sát” (Ắt thành cơi như thế). Cơi nước
thành tựu chính là quả của trí và nguyện.
Sách Hội Sớ lại bảo:
“Tuy trải qua kiếp số
như vi trần nhưng vẫn như trong một niệm.
Tuy ở trong sanh tử nhưng vẫn như dạo trong
vườn, đài. Thành tựu điều
đó nên diệu nguyện được trọn vẹn,
kiến lập cơi mầu nhiệm”. Ư nói: Từ trí măn
nguyện, từ nguyện kiến lập cơi nước.
Do trí huệ nên coi sanh tử như vườn, đài, xem
nhiều kiếp chỉ như một niệm. Hiểu rơ,
thành tựu điều đó nên diệu quả tự nhiên
viên măn.
Hai bản sớ tuy hơi khác nhau chút ít, nhưng xem ra
cách giải thích của ngài Tịnh Ảnh gần với ư
kinh hơn v́: Rơ thấu các pháp là không bèn nguyện nhiếp
lấy Tịnh Độ th́ mới chẳng rớt vào nhị
biên, khế hợp khéo léo với Trung Đạo. Đấy chính
là tông chỉ của Tịnh tông như kinh Duy Ma nói: “Tuy tri chư Phật quốc, cập
dữ chúng sanh không, nhi thường tu Tịnh Độ,
giáo hóa ư quần sanh” (Tuy biết các cơi Phật và chúng
sanh là không mà thường tu Tịnh Độ, giáo hóa quần
sanh). Đấy đều là Sự Lư vô ngại trong Viên
tông, là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn.
Hai bài kệ tiếp theo đây cũng cùng nói lên ư chỉ
ấy.
2. “Tri độ
như ảnh tượng, hằng phát hoằng thệ tâm,
cứu cánh Bồ Tát đạo, cụ chư công đức
bổn, tu thắng Bồ Đề hạnh, thọ kư
đương tác Phật” (Biết cơi
nước như h́nh bóng, luôn phát tâm hoằng thệ, rốt
ráo Bồ Tát đạo, đầy đủ các cội
đức, tu hạnh Bồ Đề thù thắng, thọ kư sẽ
thành Phật).
“Như ảnh tượng”
là
giống như bóng dáng của các vật, bóng dáng tuy sanh
từ thật thể nhưng không có thật tánh. Kinh Kim
Cang dạy: “Nhất thiết hữu
vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh” (Hết thảy pháp hữu vi,
như mộng, huyễn, bọt, bóng).
Bài kệ trong đoạn này ư nói:
- Biết rơ các cơi Phật cũng giống như h́nh
bóng; trí huệ như thế thật là rất sâu xa. Bậc
Chánh Sĩ hiểu sâu xa cơi Phật cũng vốn là không,
nhưng “hằng phát hoằng
thệ tâm” (luôn phát tâm hoằng thệ). “Hoằng thệ” (弘誓) là thệ nguyện sâu rộng.
- Lại từ nguyện khởi hạnh nên bảo “cứu cánh Bồ Tát đạo”
(rốt ráo Bồ Tát đạo). “Cứu cánh” (究 竟) là chí cực,
là quyết định đạt đến chỗ chung cục,
tột cùng nhất. “Bồ Tát
đạo” là đại hạnh của bậc Bồ
Tát để viên măn hạnh lợi ḿnh, lợi người,
thành tựu Phật quả (tức là Lục Độ), c̣n gọi
là Bồ Tát hạnh.
- Các vị Chánh Sĩ như thế Trí lẫn Nguyện
đều đầy đủ, Hạnh lẫn Giải
đều ưu việt nên đều đầy đủ
“chư công đức bổn” (các
cội công đức). Chữ “chư
công đức bổn” chỉ cội nguồn của
các công đức. Sách Thắng Man Kinh Bảo Quật nói: “Đức nghĩa là đắc, tức
là đức là cái đạt được do công năng
tu hành. V́ vậy, gọi là công đức”.
“Bổn” (本) là nguồn cội. Cội nguồn ấy chính là Phật
tánh chúng sanh vốn sẵn có, kinh Viên Giác gọi là: “Bổn nguyên thanh tịnh đại
viên kính” nghĩa là cội nguồn thanh tịnh như tấm
gương sáng lớn.
Trong lời tựa sách Viên Giác Lược Sớ, ông Bùi
Hưu đă viết: “Là cội
nguồn của chúng sanh nên gọi là Tâm Địa”. “Bổn”
lại có nghĩa là cái gốc căn bản nhất, Lư Thể
của pháp tánh chính là căn bản tột cùng của các
pháp nên gọi là cái gốc căn bản nhất. Sách Pháp
Hoa Huyền Nghĩa nói: “Bổn
cực Pháp Thân vi diệu thậm thâm”. Như vậy, “bổn” ở đây chính là “bản tâm” của chúng sanh, là
Thật Tế lư thể, cũng tức là Chân Như Thật
Tướng.
“Cụ chư công đức
bổn” (Đủ các cội công đức) là cùng tận cội
nguồn, an trụ trong Pháp Thân, nhập vào Thật Tướng
của các pháp.
“Bồ Đề” là như An Lạc
Tập giảng: “Bồ Đề
chính là tên gọi khác của Vô Thượng Phật Đạo”.
“Tu thắng Bồ Đề hạnh” là tu tập hạnh
Vô Thượng Phật Đạo thù thắng. Câu này tiếp nối
ư câu trên, tức là nói về Căn Bản Trí và Sai Biệt
Trí. Từ đại trí của Văn Thù khởi ra đại
hạnh của Phổ Hiền, mà tánh đức của Phổ
Hiền Đại Sĩ là dẫn dắt quy hướng Cực
Lạc.
“Thọ kư” (受 記) là lời Phật tiên đoán
tương lai ắt sẽ được thành Phật. Do
có đủ trí huệ, thệ nguyện và các diệu hạnh
như trên đă nói nên ắt được Phật thọ
kư sẽ viên măn Phật quả. V́ thế, kinh nói: “Thọ kư đương tác Phật”
(Thọ kư sẽ thành Phật).
Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Ư kệ nói: Với trí hạnh đó, họ ắt sẽ
thành Phật”.
Trong bài kệ này của Phật Di Đà, hai câu đầu
tiên nói đến trí và nguyện, ba câu kế tiếp là tu hạnh
thù thắng, câu cuối cùng là thọ kư thành Phật. Đấy
chính là cảm được diệu quả.
3. “Thông đạt chư pháp tánh,
nhất thiết không, vô ngă” (Thông đạt
các pháp tánh, hết thảy không, vô ngă).
Sách Hội Sớ giảng bài kệ này như sau: “Hết thảy hữu t́nh, phi
t́nh, phàm, thánh, tịnh, uế được gọi là
‘chư pháp’. Tánh có nghĩa là chẳng đổi, là Lư Thể
của các pháp (Lư thể sẵn có của các pháp, vĩnh
viễn chẳng biến cải, đó chính là Lư Thể Thật
Tế). Nhân duyên hợp thành, giả
gọi là các pháp (nhân duyên ḥa hợp nên hiện ra các pháp,
thật ra đều là hư vọng, chỉ là giả danh
mà thôi). Tự tánh tịch diệt,
Thể bất khả đắc nên bảo là không, vô ngă”.
Ngă gồm có hai thứ:
* Một là Nhân Ngă: Phàm phu chẳng hiểu rằng
Ngũ Ấm ḥa hợp giả hiện có Ngă nên lầm nhận
thật có con người tự chủ tự tại,
thường làm chủ tể cái thân ḿnh. Đó là Nhân Ngă. Nếu
hiểu rơ đấy chỉ là năm Uẩn ḥa hợp, thật
sự chẳng có tự thể th́ đó là Nhân Vô Ngă. Đây
chính là cách tu hành của Tiểu Thừa: Đoạn phiền
năo để đắc Niết Bàn.
* Hai là Pháp Ngă: Cố chấp các pháp thật sự có tự
thể, thật sự có công dụng th́ gọi là Pháp Ngă. Nếu
hiểu rơ các pháp chỉ từ nhân duyên sanh, thật ra chẳng
có tự thể th́ gọi là “Pháp
Vô Ngă”.
Tiểu Thừa chỉ ngộ nhập Nhân Vô Ngă, Bồ
Tát ngộ được cả nhân lẫn Pháp Vô Ngă.
“Không” đồng
nghĩa với “vô ngă”. Sách Đại
Thừa Nghĩa Chương, quyển một nói: “Không và Vô Ngă chỉ là tên gọi
khác nhau như mắt c̣n gọi là nhăn”. Ư nói: Mắt và
nhăn tuy là hai danh từ, nhưng thật ra chỉ nói lên cùng
một nghĩa; “không” và “vô ngă” cũng giống như thế.
Tiếp đó, kệ nói: “Chuyên
cầu tịnh Phật độ, tất thành như thị
sát” (Chuyên cầu tịnh cơi Phật, ắt thành cơi
như thế).
Sách Hội Sớ bảo: “Chuyên
cầu là thệ nguyện như bốn mươi tám nguyện
vậy. Chữ ‘như thị sát’ (cơi như thế) chỉ
cơi Cực Lạc”. Ư kệ khuyên nên mong cầu [cơi giống
như cơi Cực Lạc]. Ngài Tịnh Ảnh cho rằng bài
kệ này có ư nói:
“Với trí huệ như thế
ắt sẽ được thọ kư đạt được
cơi nước. Thông đạt tánh pháp tánh hết thảy
là không, vô thường là nói về trí. Trong phần trước,
nói ‘hiểu hết thảy như huyễn, mộng, tiếng
vang’ là nói đến Thế Đế Trí; c̣n ở đây thông hiểu các
pháp tánh: Hết thảy là không, vô ngă th́ chính là Chân Đế
Trí. ‘Chuyên cầu Tịnh Độ’ là nguyện. ‘Ắt thành
cơi như thế’ là thọ kư sẽ được cơi
nước”. Nghĩa là bởi họ chí nguyện
như vậy nên Phật thọ kư họ sẽ đắc
cơi nước nghiêm tịnh.
Ngài Vọng Tây lại giải thích như sau: “Nhị Trí (Chân Đế Trí và Tục
Đế Trí) tuy khác nhau, nhưng
tánh của chúng đều là không. Tuy biết tánh là không,
nhưng nguyện đắc Tịnh Độ”.
Ngài c̣n nói: “Phật pháp chẳng
vướng vào có, chẳng vướng vào không, cũng chẳng
vướng vào vừa có vừa không, cũng chẳng chấp
vào chẳng phải có chẳng phải không, cũng chẳng
chấp trước vào chẳng chấp trước”.
Nói gọn là: Chẳng trụ vào nhị biên, xa ĺa tứ cú,
khế hợp nhiệm mầu với Trung Đạo, b́nh
đẳng nhất tướng.
Kinh Kim Cang dạy: “Vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ
giả, tu nhất thiết thiện pháp, tức đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” (Không
ngă, không nhân, không chúng sanh, không có thọ giả, tu hết
thảy thiện pháp liền đắc Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác). V́ vậy, mười phương
Chánh Sĩ hiểu sâu xa pháp là không, chuyên cầu Tịnh Độ
th́ chính là ĺa khỏi bốn tướng (nhân, ngă, chúng sanh,
thọ giả) tu hết thảy pháp lành nên “tất thành như thị sát” (ắt thành cơi như thế).
Sách Hội Sớ lại nói: “Sở
dĩ Bồ Tát tuy hiểu thấu suốt ba thứ Không,
trí chẳng chấp trước, nhưng Đại Bi hun
đúc tâm Ngài nên phát nguyện nghiêm tịnh cơi Phật. Tuy
nghiêm tịnh cơi Phật nhưng thường tịch tĩnh. Đấy chính là một
pháp cú (chân thật trí huệ vô vi Pháp Thân) mà lại đủ hai
mươi chín thứ (Văng Sanh Luận nói đến hai
mươi chín thứ trang nghiêm của cơi Cực Lạc). Hai mươi chín thứ lại
thể hiện ư nghĩa của một thanh tịnh cú”.
Lời sớ giải này thật tinh diệu, v́ hết
thảy các pháp không pháp nào chẳng do một pháp giới biến
hiện ra, cũng không một pháp lại chẳng quy về
một pháp giới này. Một pháp giới chính là một
pháp cú.
Đức Thích Tôn trần thuật xong lời hiểu dụ
từ bi đối với mười phương Chánh
Sĩ của Phật Di Đà xong, Ngài liền tiếp tục
khai thị cho mọi người trong pháp hội cơi này
(Trước câu “văn pháp nhạo thọ hành” trong
kinh văn, bản Ngụy dịch c̣n ghi: “Chư Phật
cáo Bồ Tát, linh cận An Dưỡng Phật” (Chư
Phật bảo các Bồ Tát hăy thân cận đức Phật
nơi cơi An Dưỡng - Hội bản lược bỏ
câu này).
Những người “văn
pháp nhạo thọ hành” (nghe
pháp vui mừng nhận lấy, thực hành) chính là mười
phương Chánh Sĩ. Thập phương chư Phật
khuyên răn các vị Chánh Sĩ trong nước ḿnh nên kính
lễ A Di Đà Phật. Các vị Chánh Sĩ ấy tuân lời
Phật dạy đi đến thế giới Cực Lạc,
được thấy Vô Lượng Thọ Phật, nghe
giảng lănh nhận diệu pháp. Nghe xong nếu tin ưa nhận
lănh, thực hành, một ḷng mong cầu cơi tịnh th́ đều
được thọ kư: Sẽ được thành Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Hội Sớ viết: “Nghe pháp mừng, nhận, hành là
nghe A Di Đà Phật thuyết pháp liền vui mừng, thọ
tŕ, phụng hành”.
Chánh kinh:
聞 法 樂 受 行
得 至 清 淨 處
必 於 無 量 尊
受 記 成 等 覺
Văn pháp nhạo thọ hành
Đắc chí thanh tịnh xứ
Tất ư Vô Lượng tôn
Thọ kư
thành Đẳng Giác
Nghe pháp mừng,
nhận, hành,
Đạt đến
chỗ thanh tịnh,
Đều
được Vô Lượng Tôn
Thọ kư thành Đẳng
Giác.
Giải:
Tịnh Ảnh Sớ viết: “Tự trong tương lai sẽ được cơi tịnh
mầu nhiệm nên bảo là “đắc chí thanh tịnh xứ’
(đạt tới chỗ thanh tịnh)”.
Sách Hội Sớ cũng nói: “Thanh
tịnh xứ chính là Tịnh Độ, ư nghĩa tương
tự như câu ‘tất thành như thị sát’ trong phần
trên”.
Cả hai lời sớ giải đều nêu cùng một
ư chỉ: Kiến lập cơi tịnh chính là “đắc chí thanh tịnh xứ” (đạt
đến chỗ thanh tịnh).
Nhưng nếu luận theo pháp môn Tâm Địa, ta c̣n có thể
hiểu “thanh tịnh xứ” ở
một mức độ cao hơn: Đó chính là diệu tâm
vốn tịnh! Nếu như nghe pháp rồi tin nhận,
tương ứng nhất niệm, thấu triệt tột
cùng nguồn tâm, Đại Giác vốn sẵn thanh tịnh rạng
ngời, khế hợp ngay với Pháp Thân th́ đó cũng
chính là “đạt đến
chỗ thanh tịnh”. Thậm chí “dĩ thanh tịnh tâm, hướng Vô Lượng Thọ”
(dùng tâm thanh tịnh hướng
đến Vô Lượng Thọ). Nhất niệm tịnh
tín, nhất niệm tịnh tâm th́ trong khoảng sát-na
sẽ khế hợp “thanh tịnh
xứ”.
Ở mức độ thấp hơn th́ chí thành niệm
Phật, không một mảy băn khoăn, ngờ vực,
tịnh niệm tiếp nối không hề gián đoạn,
thầm hợp diệu đạo, niệm mà ly niệm th́
cũng đáng gọi là “ngầm
đạt đến chỗ thanh tịnh”. Những
người như vậy cũng đều sẽ
được Vô Lượng Thọ Phật thọ kư,
tương lai ắt sẽ thành Phật. Ngài sẽ gia bị
một cách hiển nhiên hoặc thầm gia hộ; đó là
do trí huệ, nguyện hạnh, thiện căn, phước
đức mỗi người đều sai khác.
Chánh kinh:
無 邊 殊 勝 剎
其 佛 本 願 力
聞 名 欲 往 生
自 致 不 退 轉
菩 薩 興 至 願
願 己 國 無 異
普 念 度 一 切
各 發 菩 提 心
捨 彼 輪 迴 身
俱 令
登
彼
岸
Vô biên thù thắng sát
Kỳ Phật bổn nguyện
lực
Văn danh dục văng sanh
Tự trí Bất Thoái Chuyển
Bồ Tát hưng chí nguyện
Nguyện kỷ quốc vô dị
Phổ niệm độ nhất
thiết
Các phát Bồ Đề tâm
Xả bỉ luân hồi thân
Câu linh đăng bỉ ngạn
Cơi vô biên thù thắng
Do Phật bổn
nguyện lực
Nghe danh muốn
văng sanh
Tự đạt
Bất Thoái Chuyển
Bồ Tát khởi
chí nguyện
Nguyện nước
ḿnh chẳng khác
Phổ niệm
độ hết thảy
Đều phát Bồ
Đề tâm
Bỏ thân luân hồi
ấy
Đều
được lên bờ kia
Giải:
Cơi nước Cực Lạc thù thắng vượt trỗi,
vi diệu, chẳng có ranh giới, chẳng có lượng
số, chẳng thể diễn tả nổi nên bảo là “vô biên thù thắng sát” (cơi vô
biên thù thắng).
Cơi nước báu ấy vượt trỗi mười
phương chính là nhờ vào bổn nguyện lực thù thắng
của Phật Di Đà nên nói: “Do
Phật bổn nguyện lực”.
Do lời nguyện thứ mười bảy “chư Phật khen ngợi” nên
mười phương chúng sanh được nghe danh hiệu
Ngài, lại do các nguyện nghe danh phát tâm, nghe danh được
phước, nghe danh đắc Nhẫn v.v… hỗ trợ
nên họ đều tín nguyện tŕ danh, được
sanh cơi Cực Lạc, chứng ngôi vị Bất Thoái. V́ thế
kinh nói: “Văn danh dục văng
sanh, tự trí Bất Thoái Chuyển” (Nghe danh muốn văng
sanh, tự đạt Bất Thoái Chuyển). Đấy chính là
lời nguyện mười tám: “Văn ngă danh hiệu,
chí tâm tín nhạo, nguyện sanh ngă quốc, thập niệm
tất sanh” (Nghe danh hiệu ta, chí tâm tin ưa, nguyện
sanh cơi ta mười niệm ắt được văng
sanh)”.
Câu “Bồ Tát hưng chí nguyện”
(Bồ Tát khởi chí nguyện) ư nói các Bồ Tát đă
được văng sanh, đều cảm mộ ân sâu của
Phật, đều học theo đức Di Đà, nên đều
phát đại nguyện; cho nên kinh mới nói là: “Hưng chí nguyện” (Dấy lên chí nguyện).
Sách Hội Sớ nói: “Chí nguyện
là những nguyện nhiếp lấy cơi nước, nhiếp
thọ chúng sanh, nhiếp Pháp Thân của đức Di
Đà. Những nguyện ấy vốn khó nghĩ tưởng
đến mức cùng cực, Bồ Tát nguyện cũng sẽ
đạt được những nguyện như vậy”.
V́ thế, họ nguyện cũng nhiếp lấy cơi Phật
giống như cơi Cực Lạc để độ vô
biên chúng sanh đều phát Bồ Đề tâm, một dạ
chuyên niệm A Di Đà Phật, cùng sanh Tịnh Độ, chóng chứng
Bất Thoái, chứng Pháp Thân của Phật. Đó là hạnh lợi
tha của Bồ Tát, cho nên mới nguyện “nguyện kỷ quốc vô dị” (nguyện cơi ḿnh chẳng khác).
Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Nguyện
ḿnh sẽ đạt cơi nước giống như cơi của
A Di Đà Phật, nên nói ‘quốc vô dị’”. “Phổ niệm”
là b́nh đẳng đại bi, nguyện độ khắp
hết thảy chúng sanh: Ai nấy đều phát khởi
tâm Vô Thượng Bồ Đề, nguyện chán bỏ thân
luân hồi nghiệp chướng, cùng vượt lên bờ
kia Cực Lạc.
Chánh kinh:
奉 事 萬 億 佛
飛 化 徧 諸 剎
恭 敬 歡 喜 去
還 到 安 養 國。
Phụng sự vạn ức
Phật
Phi hóa biến chư sát
Cung kính hoan hỷ khứ
Hoàn đáo An Dưỡng quốc
Phụng sự
vạn ức Phật
Phi, hóa khắp
các cơi
Cung kính hoan hỷ
đi
Trở về
nước An Dưỡng
Giải:
Lần lượt độ thoát như thế nên có vô
lượng vô biên Bồ Tát được văng sanh, an trụ
trong cơi Cực Lạc. Họ lại có thể đến
khắp mười phương cúng dường Như Lai,
nghe pháp.
“Phi hóa” (飛
化)
là bay
đi, du hành bằng cách biến hóa. “Hóa” có nghĩa là sự biến hóa thần diệu
khó nghĩ tưởng nổi. “An
Dưỡng quốc” chính là cơi Cực Lạc.
Bài kệ này ngụ ư: Trong cơi Cực Lạc, mười
phương Chánh Sĩ đă văng sanh và các vị Bồ Tát
được các Ngài lần lượt độ thoát
đều thờ kính, hầu hạ khắp các chư Phật,
cung kính, lễ bái, thân cận, hoan hỷ, nghe pháp, rồi lại
cung kính hoan hỷ trở về cơi Cực Lạc.
[1] Bản Ngụy dịch
chép là “hân tiếu” (cười vui vẻ) thay v́ “vi tiếu”
(mỉm cười) như các bản dịch khác.