CHÚ GIẢI PHẬT THUYẾT ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH B̀NH ĐẲNG
GIÁC KINH
佛 說 大
乘 無 量 壽 莊 嚴 清 淨 平
等
覺 經 解 卷 一
QUYỂN THỨ NHẤT
oOo
Lời Nói Đầu
Pháp môn Tịnh độ là Nhất Thừa liễu
nghĩa, vạn thiện đồng quy, thích ứng khắp
ba căn, thâu trọn phàm thánh, thoát khỏi ba cơi theo chiều
ngang (hoành siêu tam giới), nhanh chóng bước lên bốn
cơi Tịnh Độ, cực viên, cực đốn, là pháp môn
vi diệu chẳng thể nghĩ bàn. Kinh Vô Lượng Thọ
là kinh lănh đạo trọng yếu của các kinh Tịnh
Độ. Các bậc đại đức trong Tịnh tông
thường gọi là kinh này là kinh Tịnh Độ bậc
nhất.
Quyển Phật thuyết
Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh
B́nh Đẳng Giác Kinh là do thầy tôi, lăo cư sĩ Hạ
Liên Cư, hội tập năm bản dịch gốc
đời Hán, Ngụy, Ngô, Đường, Tống của
kinh Vô Lượng Thọ, chọn hết những điểm
tinh yếu, thâu trọn các điểm mầu nhiệm soạn
thành kinh này, hiện đang được công nhận là bản
kinh Vô Lượng Thọ hoàn thiện nhất.
Kinh Vô Lượng Thọ là cương yếu của
Tịnh tông. Cư sĩ Bành Thiệu Thăng đời
Thanh khen rằng: “Kinh Vô Lượng
Thọ là Viên giáo xứng tánh của Như Lai, là cách thức
hóa độ chúng sanh về cái họ vốn sẵn có”.
Thầy Thích Đạo Ẩn người Nhật cũng
khen kinh này như sau: “Chánh thuyết
của đức Như Lai xuất thế, kinh điển
mầu nhiệm kỳ lạ,
đặc biệt tối thắng, lời giảng cùng cực
về Nhất Thừa cứu cánh, lời vàng khiến chóng
chứng viên dung, lời thành thật của mười
phương Như Lai, là giáo pháp chân thật dành cho kẻ
mà thời tiết, căn cơ đă chín muồi”.
Cậu tôi là lăo cư sĩ Mai Quang Hy cũng ngợi
khen: “Kinh Vô Lượng Thọ
là lời giảng xứng tánh đến cùng cực của
Như Lai, là cách thức giáo hóa chúng sanh về cái họ sẵn
có, là Nhất Thừa liễu nghĩa, là pháp môn tổng hợp
vạn thiện, là cương yếu của hơn một
trăm mấy mươi kinh Tịnh
Độ, là chỉ quy của cả Đại Tạng giáo”.
Các bậc hiền đức đă nồng nhiệt
khen ngợi kinh này như trên là v́ pháp môn Tŕ Danh Niệm Phật
rất viên măn, thẳng chóng, là phương tiện rốt
ráo nhất siêu trực nhập, viên đốn cùng cực.
Dùng biển nguyện Nhất Thừa của đức Di
Đà, sáu chữ hồng danh của Quả Giác rốt ráo để
làm cái tâm phát khởi cầu thành Phật quả cho bọn
chúng sanh ta. Dùng quả làm nhân, nhân quả đồng thời;
từ quả khởi tu, nên tu cũng chính là quả. Tâm tu cầu
thành Phật chính là cái tâm thành Phật chẳng thể
nghĩ bàn. V́ vậy, sách Di Đà Yếu Giải viết:
“Một câu A Di Đà Phật
chính là pháp để đắc Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác của đức Bổn Sư Thích Ca trong đời
ác Ngũ Trược, nay đem toàn thể Quả Giác này
trao cho chúng sanh trược ác. Đó là cảnh giới sở
hành của chư Phật, chỉ Phật với Phật mới
có thể hiểu cùng tận được nổi, chẳng
phải là điều cửu giới dùng tự lực mà tin hiểu được
nổi”.
Lại viết: “Đem pháp giới
thể làm thành thân và cơi của Phật Di Đà. Cũng do chính
toàn bộ cái Thể ấy làm thành danh hiệu Di Đà. V́ vậy,
danh hiệu Di Đà chính là bổn giác lư tánh của chúng sanh”.
Đủ thấy rằng: Kinh này thật là lời giảng
xứng tánh đến cùng cực của đấng đại
từ bi phụ Như Lai Thế Tôn, là kho tàng bí mật của
chư Phật đem phơi bày trọn vẹn ra hết. Vả
lại, pháp môn Niệm Phật đây cũng chính là cách thức
để giáo hóa chúng sanh về cái họ vốn sẵn có.
Đúng như sách Yếu Giải đă nói, một câu Phật
hiệu này chính là bổn giác lư tánh của chúng sanh. Nên biết:
Cái tâm niệm Phật ngay hiện tại của ta chính là
Quả Giác của Như Lai. Do đó, Quán kinh dạy: “Tâm này là Phật”. Tâm này tŕ
danh th́ chính là “tâm này làm Phật”.
Vốn đă là Phật, nay
lại làm Phật. V́ vậy,
ngay lập tức là Phật,
thẳng chóng thỏa đáng, phương tiện rốt
ráo, kỳ diệu, đặc biệt, thù thắng chẳng
thể nghĩ bàn.
Hơn nữa, trong các kinh Tịnh Độ, chỉ có kinh
này có đủ trọn vẹn cả Viên lẫn Diệu:
Dùng “phát Bồ Đề tâm, nhất
hướng chuyên niệm” làm Tông, lấy đại nguyện
mười niệm ắt văng sanh của Phật Di Đà làm gốc,
giảng tỉ mỉ chánh nhân văng sanh của ba bậc, bao
gồm trọn khắp các loài thánh phàm trong chín giới, dạy
rơ pháp Tŕ Danh Niệm Phật, trực chỉ con đường
văng sanh quy nguyên. V́ vậy, kinh này được xem là kinh bậc
nhất của Tịnh Tông.
Khổ nỗi, kinh điển quư báu thù thắng bậc
nhất của Tịnh tông này lại bị ch́m lấp
trong Đại Tạng Trung Hoa đến hơn ngàn năm. Xét
đến nguyên nhân, cũng bởi kinh này có đến
năm bản dịch gốc, các bản dịch hoặc rộng
hoặc lược sai biệt khá lớn. Nêu một ví dụ:
Về đại nguyện của đức Di Đà, trong hai
bản dịch đời Đường và đời Ngụy
có bốn mươi tám nguyện, nhưng hai bản dịch
đời Ngô và Hán chỉ có hai mươi bốn, bản
dịch đời Tống lại là ba mươi sáu nguyện.
Điều này khiến cho kẻ sơ tâm học Phật nếu
chuyên tŕ một bản dịch th́ khó bề hiểu rơ ư chỉ
sâu xa. Nếu đọc đủ cả năm bản lại
càng gian nan. V́ vậy, đa số bỏ kinh này, dồn sức
vào nghiên cứu kinh A Di Đà.
Đầu đời Thanh, cư sĩ Bành Thiệu
Thăng nói: “Kinh này ít được
xiển dương th́ quả thật là do chúng ta thiếu
cội lành”. Thật đúng như vậy! Thế nên,
các đại cư sĩ Vương Nhật Hưu đời
Tống, Bành Thiệu Thăng, Ngụy Thừa Quán đời
Thanh đều v́ hoằng dương kinh này mà mỗi vị
trước sau soạn ra hội bổn và tiết bổn[1]
Cư sĩ Vương Nhật Hưu đời Tống
từng viết cuốn Long Thư Tịnh Độ Văn
được bốn biển khen ngợi, truyền tụng
tới nay. Ông Vương khi lâm chung đứng ngay ngắn
văng sanh, đủ chứng minh cư sĩ thật là bậc
hạnh giải đều ưu việt, là bậc tại
gia đại đức thù thắng hy hữu của Tịnh
Tông Trung Hoa. Ông Vương tiếc nuối bảo điển
bị bụi phủ, bèn hội tập bốn bản dịch
các đời Hán, Ngụy, Ngô, Tống của kinh Vô Lượng
Thọ, soạn thành một bản, đặt tên là Đại
A Di Đà kinh. Bản của ông Vương ra đời
được cả nước khen là tiện lợi,
được các tùng lâm lấy làm khóa bổn[2]
lưu truyền phổ biến c̣n hơn cả bản dịch
gốc. Càn Long Đại Tạng Kinh của Trung Hoa và Đại
Chánh Tân Tu Đại Tạng của Nhật đều thu nhập
bản hội tập của Vương vào Đại Tạng.
Liên Tŕ đại sư nói: “Bản
hội tập của ông Vương so sánh với năm bản
dịch th́ giản dị, rơ ràng, hiện đang phổ biến,
lợi ích rất lớn”. Lại nói: “Do bản của họ Vương phổ biến
trong đời, người ta quen xem”. V́ thế, trong
tác phẩm Di Đà Sớ Sao, mỗi khi dẫn chứng kinh Vô
Lượng Thọ, đa phần Ngài trích dẫn từ bản
của ông Vương. Cận đại, Ấn Quang đại
sư khi viết lời tựa cho lần tái bản bộ
Viên Trung Sao, cũng khen bản của ông Vương là: “Văn nghĩa tường tận,
lưu thông khắp nơi”.
Bản hội tập của ông Vương tuy có công rất
lớn đối với Tịnh tông, nhưng có quá nhiều
điểm sai sót. Ngọc trắng có vết, hiền giả
xót xa! Liên Tŕ đại sư chê rằng: “Sao phần trước, viết thêm phần sau”, “phần
lấy, phần bỏ chưa trọn vẹn”. Bành Thiệu
Thăng cư sĩ chê là: “Lộn
xộn, trái nghịch nhau, chẳng phù hợp với ư chỉ
viên dung”. Bút giả nay dựa theo lời phê của các bậc
cổ đức, trộm nêu ra ba khuyết điểm của
ông Vương:
- Một, bản hội tập của ông Vương
chỉ dựa theo bốn bản, chưa dùng bản dịch
đời Đường. Bản dịch đời Đường
mang tên Vô Lượng Thọ Như Lai Hội trích từ
kinh Đại Bảo Tích do đại sư Bồ Đề
Lưu Chí dịch, lời văn có nhiều điểm áo
diệu, tinh yếu mà các bản dịch khác không có.
- Hai, phần lấy, phần bỏ chưa trọn vẹn:
Chọn phần rườm rà, bỏ phần trọng yếu,
biến sâu thành cạn. Chẳng hạn như, Liên Tŕ đại
sư quở rằng: “Như
ba bậc văng sanh, bản dịch đời Ngụy đều
nói là phát Bồ Đề tâm, mà bản họ Vương chỉ
nói là bậc trung phát Bồ Đề tâm. Bậc hạ bảo
chẳng phát, bậc thượng lại chẳng nói, thành
ra cao thấp chẳng thứ tự. V́ vậy, bảo là
chưa trọn vẹn”. Do câu trên, thấy rằng “bậc thượng chẳng
nói” là bỏ chỗ trọng yếu, “bậc hạ lại nói chẳng phát” chính là biến
sâu thành cạn. V́ vậy, Liên Tŕ đại sư cùng ông
Bành đều quở trách.
- Ba, tự ư thêm văn, nghiễm nhiên tự sáng tác. Họ
Vương hay dùng lời văn ḿnh sáng tác ra để diễn
thuật nghĩa của bản dịch gốc. V́ vậy,
Liên Tŕ đại sư quở rằng: “Sao phần trước, thêm phần sau, chưa theo
đúng phép dịch thuật”. Ngài trách ông Vương sao
dẫn kinh văn nơi phần trước, rồi tiếp
đó, chép thêm lời văn ông tự soạn. Nếu
đă là hội tập, cần phải dựa theo bản dịch
gốc, muôn phần chẳng được dùng câu nào ngoài
bản dịch gốc. V́ ông tự tiện thêm câu văn
nên Tổ trách họ Vương “chưa
theo đúng phép dịch thuật”. Thấy được
những khuyết điểm trên của họ
Vương không có nghĩa là chẳng nên hội tập, mà
chỉ để thấy rằng hội bản của ông
ta có nhiều tỳ vết.
Cư sĩ Bành Thiệu Thăng cảm khái trước
lỗi lầm của hội bản họ Vương, bèn
dùng bản dịch đời Ngụy chia thành từng mục,
tạo thành bản kinh Vô Lượng Thọ thứ bảy,
nhưng bản này chỉ là tiết bản của bản
dịch đời Ngụy.
V́ thế, cuối đời Thanh, cư sĩ Ngụy
Thừa Quán (tự là Mặc Thâm) nhằm cứu văn khuyết
điểm của ông Long Thư (hiệu của ông
Vương Nhật Hưu) bèn dùng cả năm bản dịch
gốc hội tập thành một bản. Ban đầu
đặt tên là kinh Vô Lượng Thọ, sau ông Chánh Định
Vương Canh Tâm đổi thành Ma Ha A Di Đà Kinh. Lời
văn bản hội tập của ông Ngụy giản dị,
trong sáng, chọn lọc, thích đáng, vượt xa bản
họ Vương, nhưng vẫn vướng căn bịnh
thêm văn chưa hoàn toàn dứt hết được. Do
đó, bản của họ Ngụy cũng chưa tận
thiện.
Tiên sư là cư sĩ Hạ Liên Cư bi, trí cùng đủ,
thông suốt Tông lẫn Giáo, viên dung Hiển, Mật, Thiền,
Tịnh nhất tâm, chuyên hoằng dương tŕ danh niệm
Phật nhiếp vạn đức. Do hoằng dương
Tịnh Tông nên Ngài mong mỏi bản kinh đệ nhất
của Tịnh Tông này sẽ được vẹt bụi
tỏa sáng, nguyện ước bản kinh vô thượng
này lợi lạc đời sau, bèn kế tục tiền
hiền, tiến hành hội tập lần nữa, vứt
bỏ vạn duyên đóng cửa ba năm, tịnh đàn,
kết giới, lắng tâm, tồn chí, sửa bản thảo
mười lần mới hoàn tất.
Đầu tiên, được vị lăo pháp sư thấu
triệt cả Tông lẫn Giáo là Huệ Minh, tay cầm hội
bản chụp h́nh trước Phật điện để
chứng minh. Kế đó, vị đại đức
trong Luật tông là lăo pháp sư Từ Châu chuyên giảng kinh
này ở Tế
“Tinh đáng, minh xác, hiển
nhiên có căn cứ. Không một nghĩa nào chẳng lấy
từ bản dịch gốc. Không một câu nào vượt
ngoài bản gốc. Làm rơ ràng những chỗ khó khăn, thô
tháp, tối nghĩa. Với chỗ phiền phức rườm
rà làm cho đơn giản gọn gàng. Chỗ lộn xộn, lôi thôi biến
thành nghiêm chỉnh. Chỗ thiếu sót làm cho viên dung. Chỗ
tốt đẹp đều được đầy
đủ, không sự thực nào chẳng được thâu lấy trọn vẹn.
Tuy muốn chê là bản chẳng hay cũng vô phương”.
V́ vậy, từ khi hội bản của tiên sư ra
đời đến nay, chẳng có chân mà đi khắp chốn.
Các bậc tôn túc Phật giáo cho rằng hội bản này
văn giản dị, nghĩa phong phú, câu cú lưu loát,
nghĩa lư viên dung, nên nó được giảng thuyết,
tán dương, lưu truyền cả trong nước lẫn
hải ngoại. Người thấy kẻ nghe hoan hỷ
tín thọ, tŕ tụng, ấn hành liên tục chẳng dứt.
Gần đây, hội bản này được giới học
Phật hải ngoại đưa vào Tục Tạng trong lần
ấn hành mới nhất. Mừng được thấy
quang minh của Đại kinh thường chiếu thế
gian, cái nguyện thù thắng hội tập của tiên hiền
may đă viên thành. Bản kinh Vô Lượng Thọ hoàn thiện
nhất nay đă hiện diện, ấy thật là đại
sự nhân duyên hy hữu khó gặp vậy.
Niệm Tổ tôi là phàm phu đầy dẫy phiền
năo, trót được tiên sư giao phó đại sự
chú giải hoằng dương kinh này. Tôi tuy trước
đă phát đại tâm, nhưng chướng sâu huệ cạn,
phải vâng lănh sứ mạng nặng nề này thật hoảng
hốt tột bực! May được từng theo học
dưới giảng ṭa của thầy, đích thân nghe toàn
bộ kinh này. Trong hai mươi năm hầu hạ, từng
được nghe điểm huyền áo của các tông Thiền,
Tịnh, Mật, hiểu thô thiển thâm tâm hội tập
Đại kinh của tiên sư. Đầu thập niên sáu
mươi, từng thử viết đề cương
huyền nghĩa kinh này, tŕnh lên thầy duyệt, may
được ấn khả, nhưng trong cơn kiếp nạn
cách mạng Văn Hóa, bản thảo ấy bị hủy
mất chẳng c̣n chút ǵ.
Tôi giờ đây tuổi đă ngoài bảy mươi,
lại lắm bệnh cũ, thẹn chưa báo ơn sâu, sợ
vô thường chợt đến, nên gắng gượng
tấm thân già bệnh, kế tục hoằng thệ truyền
đăng, đem thân tâm này cúng dường Tam Bảo,
đóng cửa tạ khách, toàn lực chú giải kinh, mong
báo một trong muôn phần ân sâu của tiên sư cùng mười
phương tam thế thượng sư Tam Bảo cùng
pháp giới chúng sanh.
Thêm nữa, kinh này thù thắng ở chỗ khế lư,
khế cơ. Lư là Thật Tế Lư Thể, cũng tức
là Chân Như Thật Tướng, bổn tế chân thật.
Khế lư là v́ kinh này vốn trụ nơi chân thật huệ
để khai hóa hiển thị Chân Thật Tế cùng ban
cái lợi chân thật, thuần nhất chân thật. Kinh này
c̣n được xưng tụng là Trung Bổn Hoa Nghiêm
kinh: Hết thảy sự lư được giảng trong
kinh này đều là Nhất Chân pháp giới sự lư vô ngại,
sự sự vô ngại của kinh Hoa Nghiêm. Lư thể bí mật,
sâu thẳm của kinh Hoa Nghiêm hiện diện trong kinh này
nên nói là khế lư.
Về khế cơ, chỉ riêng ḿnh kinh này là thù thắng.
Pháp môn Tŕ Danh của kinh này thích hợp khắp cả ba
căn, thâu trọn phàm thánh. Kẻ thượng thượng
căn thật rất thích hợp gánh vác toàn thể kinh này,
kẻ hạ hạ căn cũng có thể do kinh này đắc
độ. Trên th́ như Pháp Thân Đại Sĩ: Văn Thù, Phổ
Hiền cũng đều phát nguyện văng sanh. Dưới
đến Ngũ Nghịch, Thập Ác lâm chung niệm Phật
cũng đều tùy nguyện văng sanh. Vượt ngang khỏi
ba cơi, chứng trọn vẹn bốn cơi Tịnh Độ,
chóng sát cánh cùng Quán Âm, Thế Chí, mới thấy
phương tiện rốt ráo của pháp môn này thật
thích ứng khắp mọi căn cơ.
Hơn nữa, khế cơ c̣n có nghĩa là “khéo khế
hợp với căn cơ, thời đại”. Như Lai
rủ ḷng từ riêng lưu lại kinh này một trăm
năm nữa sau khi các kinh khác diệt hết, đúng là ngụ
ư: Kinh này phù hợp xă hội hiện tại và tương
lai. Hiện tại, khoa học phát triển, nhân loại
càng cần phải có đầy đủ tri thức rộng
răi. Xă hội tiến bộ, trách nhiệm mỗi người
phải gánh vác càng tăng thêm. V́ vậy, ai nấy đều
phải học rộng, đa năng, cúc cung tận tụy
tham gia kiến thiết, tạo phước cho nhân dân, thực
hiện nhân gian Tịnh Độ. Cận đại, đại
sư Thái Hư đề xướng nhân gian Tịnh Độ,
từng dẫn chứng kinh Vô Lượng Thọ. Ấy
là bởi kinh này soi chiếu cả pháp thế gian lẫn xuất
thế gian, dạy rơ hai đế Chân, Tục.
Điểm mầu nhiệm của Tịnh tông là “chẳng ĺa Phật pháp mà hành thế
pháp, chẳng bỏ thế pháp mà chứng Phật pháp”.
Bởi pháp Tŕ Danh thật là tiện lợi, tu chỗ nào
cũng được, nào phải ẩn cư rừng núi,
lúc nào cũng niệm được, chẳng phiền bế
quan, ngồi yên, chỉ cần phát khởi cái tâm rộng
lớn, một bề chuyên niệm, thậm chí mười
niệm, một niệm cũng được văng sanh, chẳng
trở ngại công việc thế gian, vẫn như cũ
mà chóng thoát sanh tử. Lại có thể tự giác, giác tha, rộng
độ chúng sanh đời vị lai. Đây cũng là ta,
người cùng lợi, tạo phước cho xă hội
ngay trong hiện tại.
V́ vậy, kinh dạy:
“Đương lai chi thế, kinh đạo diệt tận,
ngă dĩ từ bi ai mẫn, đặc lưu
thử kinh chỉ trụ bách tuế. Kỳ hữu chúng
sanh, trị tư kinh giả, tùy ư sở nguyện, giai khả
đắc độ” (Đời tương lai kinh đạo diệt
hết, ta do từ bi xót thương, riêng lưu lại
kinh này tồn tại trăm năm. Nếu có chúng sanh gặp
được kinh này, tùy ḷng mong cầu đều đắc
độ). Rơ ràng kinh này phù hợp t́nh huống thực tế
của xă hội, chiếu cả Chân lẫn Tục, viên
dung cả Sự lẫn Lư, thâu phàm lẫn thánh, tâm và Phật chẳng hai. V́
vậy, chỉ ḿnh kinh này có thể trường tồn
trong đời vị lai. Rơ ràng kinh này chẳng những là
cương yếu của các kinh Tịnh Độ mà c̣n là chỉ
quy cho giáo pháp của cả Đại Tạng, thật v́ hết
thảy hữu t́nh cơi này, phương khác, hiện tại,
tương lai được ĺa khổ hưởng vui, tột
cùng pháp yếu Bồ Đề.
V́ vậy, Niệm Tổ tôi nghĩ ân mong báo đáp, phát
tâm vô thượng, kính cẩn chú giải kinh này để
tiếp nối Phật huệ mạng. Kính mong hai giới
tăng, tục, thập phương Như Lai, thượng
sư, bổn tôn, kim cang hộ pháp từ ân chở che, oai
đức thầm gia hộ. Mong bản chú thích này sẽ
khế hợp thánh tâm, rộng khởi phát niềm tin cho mọi
người. Hễ ai thấy nghe đều vào được
biển nguyện Nhất Thừa của Phật Di Đà.