29. Nguyện Lực Hoằng Thâm ( : Nguyện lực sâu rộng)

 Phẩm này chỉ rơ tất cả các vị Bồ Tát trong cơi ấy đều có nguyện lực rộng sâu, quyết định nhất sanh bổ xứ. Nếu vị nào có bổn nguyện v́ cứu độ chúng sanh nên tuy sanh trong cơi Cực Lạc nhưng chẳng bỏ rơi hữu t́nh trong đời ác th́ vào trong sanh tử cứu độ quần sanh, muốn cho hết thảy chúng sanh trong mười phương đều được văng sanh, đều sẽ thành Phật, lần lượt cứu độ lẫn nhau chẳng có cùng tận. Cuối phẩm này lại tán thán Vô Lượng Thọ Phật ân đức vô cực.

Chánh kinh:

難,彼 中,所 在、未 薩,皆 處。唯 願,入 界,為 生,作 吼。擐 胄,以 嚴。雖 世, 彼,直 佛,不 趣。生 處,常 宿 命。

Phục thứ A Nan! Bỉ Phật sát trung, sở hữu hiện tại, vị lai nhất thiết Bồ Tát giai đương cứu cánh Nhất Sanh Bổ Xứ, duy trừ đại nguyện, nhập sanh tử giới, vị độ quần sanh, tác sư tử hống, hoàn đại giáp trụ, dĩ hoằng thệ công đức nhi tự trang nghiêm. Tuy sanh Ngũ Trược ác thế, thị hiện đồng bỉ, trực chí thành Phật, bất thọ ác thú. Sanh sanh chi xứ, thường thức túc mạng.

Lại này A Nan! Trong cơi Phật ấy, tất cả hết thảy hiện tại, vị lai Bồ Tát đều sẽ rốt ráo là Nhất Sanh Bổ Xứ. Chỉ trừ người có đại nguyện vào trong cơi sanh tử để độ quần sanh, hiện sư tử hống, khoác đại giáp trụ, dùng công đức hoằng thệ để tự trang nghiêm. Tuy sanh trong đời ác Ngũ Trược, thị hiện giống như những chúng sanh ấy, nhưng cho đến khi thành Phật chẳng sa vào ác đạo. Sanh ở chỗ nào cũng thường biết túc mạng.

Giải:

Những điều nói trong phẩm này chính là kết quả của nguyện ba mươi lăm “Nhất Sanh Bổ Xứ” và nguyện ba mươi sáu “giáo hóa tùy ư”.

Lời nguyện thứ ba mươi lăm là: “Sanh ngă quốc giả, cứu cánh tất chí Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ kỳ bổn nguyện vị chúng sanh cố, bị hoằng thệ khải, giáo hóa nhất thiết hữu t́nh, giai phát tín tâm, tu Bồ Đề hạnh, hành Phổ Hiền đạo. Tuy sanh tha phương thế giới, vĩnh ly ác thú” (Người sanh trong nước ta ắt rốt ráo đạt đến Nhất Sanh Bổ Xứ. Trừ những người do bổn nguyện độ sanh nên mặc giáp hoằng thệ, giáo hóa hết thảy hữu t́nh khiến họ đều phát tín tâm, hành đạo Phổ Hiền. Tuy sanh trong thế giới phương khác nhưng vĩnh viễn thoát khỏi đường ác).

Phàm người sanh về Cực Lạc nếu chẳng ĺa cơi An Dưỡng th́ ắt đều đạt đến bậc Nhất Sanh Bổ Xứ. Chỉ có những Bồ Tát phát đại nguyện thù thắng, nguyện sanh vào cơi sanh tử để giáo hóa hữu t́nh. Bồ Tát cơi ấy tận tai nghe Phật Di Đà thuyết pháp, liền đem những pháp ḿnh được nghe dạy lại chúng sanh. V́ vậy, pháp họ thuyết ra giống như đức Như Lai đích thân thuyết ra nên cũng giống như là Bồ Tát hiện sư tử hống.

“Hoàn” () là thân mặc lấy, đeo giáp trụ vào. “Trụ” () là áo giáp, “giáp trụ” là thứ áo để chiến sĩ mặc hộ thân trong thời cổ, nhằm tránh tên, đá đâm trúng thân thể. Ở đây, kinh ví von hành nhân chí nguyện Đại thừa đối địch sanh tử, dùng thệ nguyện làm giáp trụ để bảo vệ huệ mạng của bản thân. Quán kinh cũng nói: “Hoàn đại giáp trụ, dĩ hoằng thệ công đức nhi tự trang nghiêm” (Mặc đại giáp trụ, dùng công đức hoằng thệ để tự trang nghiêm) thật giống với ư đoạn kinh trong phẩm này.

Người từ Cực Lạc sanh trở lại cơi này tuy sống trong đời ác Ngũ Trược, thị hiện giống như phàm phu, cũng có sanh tử, nhưng thẳng đến khi thành Phật trọn chẳng đọa ác đạo. Hơn nữa, đời đời, kiếp kiếp thường nhớ túc mạng, chẳng mê muội bản tâm. Trong câu thị hiện đồng bỉ” (thị hiện giống những chúng sanh ấy), chữ “bỉ” () chỉ chúng sanh trong uế độ.

Chánh kinh:

佛,意 類,皆 使 國,悉 道。作 者,令 佛。既 已, 授,轉 脫,如 轉, 計。十 界,聲 薩,諸 類,生 國,得 道,當 者,不 數。

Vô Lượng Thọ Phật, ư dục độ thoát thập phương thế giới chư chúng sanh loại, giai sử văng sanh kỳ quốc, tất linh đắc Nê Hoàn đạo. Tác Bồ Tát giả, linh tất tác Phật. Kư tác Phật dĩ, chuyển tương giáo thọ, chuyển tương độ thoát, như thị triển chuyển, bất khả phục kế. Thập phương thế giới, Thanh Văn, Bồ Tát, chư chúng sanh loại, sanh bỉ Phật quốc, đắc Nê Hoàn đạo, đương tác Phật giả, bất khả thắng số.

Vô Lượng Thọ Phật ư muốn độ thoát các loài chúng sanh trong mười phương thế giới đều được sanh về cơi ấy, đều khiến cho họ đắc đạo Nê Hoàn. Kẻ đă là Bồ Tát th́ khiến cho đều được thành Phật, người đă thành Phật sẽ lại tiếp nối dạy dỗ, độ thoát người khác. Lần lượt như thế chẳng thể tính nổi. Không thể tính nổi số Thanh Văn, Bồ Tát, các loài chúng sanh trong mười phương thế giới sanh về cơi Phật ấy đắc đạo Nê Hoàn, sẽ thành Phật.

Giải:

Các vị Đại Sĩ cơi Cực Lạc phát khởi những thệ nguyện sâu thẳm đến mức như thế ấy là do Di Đà bổn nguyện gia hộ oai thần cũng như bản thân họ khéo học theo hạnh của Phật.

Bản ư của Phật Di Đà là nguyện chúng sanh được văng sanh cơi ấy, đắc đạo Nê Hoàn (Niết Bàn), thảy đều thành Phật. Vị Phật mới thành lại độ chúng sanh. Chúng sanh được độ sẽ lại đều thành Phật rồi lại độ sanh tiếp theo. V́ vậy kinh nói: Chuyển tương giáo thọ, chuyển tương độ thoát, như thị triển chuyển, bất khả phục kế” (Tiếp nối dạy dỗ, độ thoát người khác. Lần lượt như thế chẳng thể tính nổi).

Do lần lượt độ thoát nhau như thế nên các Bồ Tát, Nhị Thừa, các loài chúng sanh trong tứ sanh, lục đạo trong mười phương được văng sanh Cực Lạc, chứng đạo thành Phật “bất khả thắng số” (chẳng thể tính nổi số). Đó là v́ số người được văng sanh đă chẳng thể tính đếm nổi (Nê Hoàn chính là [cách phiên âm khác của chữ] Niết Bàn).

Chánh kinh:

中,常 法,不 多。所 何?猶 海,為 王,諸 行,都 中。是 水,甯 減。

Bỉ Phật quốc trung, thường như nhất pháp, bất vị tăng đa. Sở dĩ giả hà? Do như đại hải, vi thủy trung vương, chư thủy lưu hành, đô nhập hải trung. Thị đại hải thủy, ninh vi tăng giảm.

Trong cơi Phật ấy thường như nhất pháp, chẳng tăng thêm nhiều. V́ sao vậy? Ví như biển cả là vua trong các ḍng nước. Các ḍng nước chảy đều đổ vào biển mà nước biển lớn ấy chẳng hề tăng, giảm.

Giải:

Nếu có kẻ ngờ rằng mười phương phàm, thánh đều sanh về Cực Lạc th́ một cơi như vậy làm sao chứa đựng hết nổi? Chẳng phải như vậy! Cơi nước Cực Lạc “thường như nhất pháp, bất vị tăng đa” (thường như nhất pháp, chẳng tăng thêm nhiều).

Chữ “nhất pháp” Phật nói đó ư nghĩa rất sâu, chúng sanh khó thể lănh hội nổi nên Phật dùng biển cả làm thí dụ để giảng rơ nghĩa ấy. Biển cả ví như Cực Lạc, các ḍng nước ví như chúng sanh trong mười phương. Các ḍng nước đổ vào biển, biển cả chẳng tăng thêm. Cũng thế, chúng sanh trong mười phương văng sanh Cực Lạc nhưng số người nơi Cực Lạc cũng chẳng tăng thêm. Hơn nữa, con số các vị Đại Sĩ cơi ấy lại trở vào uế độ cứu độ quần sanh là vô lượng, nhưng thánh chúng cơi Cực Lạc vẫn chẳng tăng, giảm. V́ thế, nói “thường như nhất pháp, ninh hữu tăng giảm” (thường như một pháp, nào có tăng giảm)

Tôi tạm dùng toán học của thế gian để biện giải ư nghĩa này. Trong toán học có khái niệm “lớn vô cực” hoặc “lớn vô hạn”, thường được kư hiệu là ¥, nghĩa là con số rất lớn vượt khỏi mọi hạn lượng nên gọi là “lớn vô hạn”.

Nếu cộng thêm bất cứ con số hữu hạn vào ¥ th́ nó vẫn là ¥¥ đă biểu thị con số lớn vô lượng nên nếu cộng vào ¥ mà được con số lớn hơn ¥ th́ ¥ chẳng c̣n là số lớn vô hạn nữa! Hơn nữa, dù có trừ bớt ¥ bất cứ con số hữu hạn nào th́ nó vẫn bằng ¥ v́ nếu ¥ bị giảm nhỏ đi th́ chẳng c̣n là con số lớn vô hạn nữa! V́ vậy, ¥ “thường như nhất pháp… ninh hữu tăng giảm”.

Cơi Cực Lạc là lớn vô hạn nhất trong những thứ lớn vô hạn nên vượt ngoài hết thảy số lượng của thế gian vậy.

Hơn nữa, kinh này hiển thị cảnh giới sự sự vô ngại chẳng thể nghĩ bàn, thù thắng vi diệu. Do Cực Lạc chính là Hoa Tạng nên rộng hẹp tự tại, một chính là nhiều, nhiều chính là một, dung thông nhiếp thủ lẫn nhau, không thể dùng ngôn ngữ, tư duy thấu triệt nổi!

Chánh kinh:

上下,佛 數。阿 國,長 大,明 樂,最 勝。本 時,求 願,累 致。無 佛,恩 下,無 極,深 量,不 言。

Bát phương thượng hạ, Phật quốc vô số. A Di Đà quốc, trường cửu quảng đại, minh hảo khoái lạc, tối vi độc thắng. Bổn kỳ vi Bồ Tát thời, cầu đạo sở nguyện, lũy đức sở trí. Vô Lượng Thọ Phật, ân đức bố thí bát phương thượng hạ, vô cùng vô cực, thâm đại vô lượng, bất khả thắng ngôn.

Tám phương, trên, dưới có vô số cơi Phật. Cơi Phật A Di Đà trường cửu, rộng lớn, sáng, đẹp, khoái lạc, thật là thù thắng độc nhất. Ấy vốn là do sở nguyện cầu đạo, tích tập công đức lúc Phật tu Bồ Tát đạo tạo thành. Vô Lượng Thọ Phật bố thí ân đức cả tám phương, thượng, hạ một cách vô cùng vô cực, rộng sâu vô lượng chẳng thể nói nổi.

Giải:

“Bát phương thượng hạ” (Tám phương, thượng, hạ) là tám phương kể thêm phương trên, phương dưới thành ra mười phương.

Trong vô số cơi Phật ở mười phương, không cơi nào có thể sánh nổi cơi Cực Lạc về mặt “trường cửu, quảng đại, minh hảo, khoái lạc” (trường cửu, rộng lớn, sáng, đẹp, khoái lạc) nên kinh bảo “tối vi độc thắng” (thật là thù thắng độc nhất).

“Trường cửu” ( ) chính là thường trụ như kinh nói: “Kiến lập thường nhiên, vô suy, vô biến” (Kiến lập thường nhiên, chẳng suy, chẳng biến). Chữ “quảng đại” ( : rộng lớn) nên hiểu như trong ví dụ về biển cả vừa đề cập ở trên. “Minh” () là thanh tịnh, quang minh. “Hảo” () là tướng tốt trang nghiêm. “Khoái lạc” ( ) là như kinh Tiểu Bổn ghi: “Vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc” (chẳng có các nỗi khổ, chỉ hưởng các niềm vui).

Cực Lạc sở dĩ “tối vi độc thắng” (thật là thù thắng độc nhất) toàn là do Phật Di Đà lúc c̣n tu nhân đă cầu được đại nguyện, trong vô lượng kiếp tích công trữ đức nên mới được thành tựu như thế. Phật Di Đà đem ân đức vô thượng ấy thí khắp mười phương chẳng có cùng tận. Ân đức của Phật Di Đà rộng lớn sâu xa khó ḷng diễn tả nổi. Dẫu cho thân có trăm miệng, mỗi miệng có trăm lưỡi nói suốt cả kiếp cũng chẳng tŕnh bày hết nổi nên bảo “bất khả thắng ngôn” (chẳng thể nói nổi). Ấy là v́ đức Phật ấy trụ Chân Thật Huệ nên có thể ban bố cái lợi chân thật khiến cho khắp hết thảy chúng sanh cùng nhập Chân Thật Tế nên ân đức của Ngài chẳng hề cùng tận.

Quyển ba hết

(Bửu Quang tự đệ tử Như Ḥa kính dịch xong ngày 27 tháng 04 năm 2002 - Tăng đính lần thứ ba ngày 14 tháng 07 năm 2009)