CHÚ GIẢI PHẬT THUYẾT ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH B̀NH ĐẲNG
GIÁC KINH
佛 說 大
乘 無 量 壽 莊 嚴 清 淨 平
等
覺 經 解 卷 二
QUYỂN THỨ HAI
Trong quyển này, từ phẩm thứ tư đến
phẩm thứ mười tŕnh bày cặn kẽ nhân địa
của Phật Di Đà: Thấy Phật nghe pháp, sơ phát
đại tâm, năm kiếp tinh tấn kết thành đại
nguyện, Nhất Thừa nguyện hải, sáu chữ hồng
danh độ khắp ba căn, cứu hết muôn loài, tích
công, trữ đức, trụ Chân Thật Huệ, một
dạ chuyên chí trang nghiêm cơi nước nhiệm mầu.
Trong vô lượng kiếp, Ngài vun bồi đức hạnh
để thành tựu viên măn các đại nguyện đă
phát. Trong ba kinh Tịnh Độ, chỉ ḿnh kinh này giảng
nói những sự việc như vậy, nên kinh này
được xưng tụng là kinh Tịnh Độ đệ
nhất.
C. CHÁNH TÔNG PHẦN
Phần Chánh Tông của một bản kinh giống
như thân người có đủ các tạng: tim, phổi...
Phần Chánh Tông của kinh này gồm các phẩm từ phẩm
thứ tư đến phẩm thứ bốn mươi
hai. Nhân hạnh của Phật Di Đà, đại nguyện của
Pháp Tạng, y báo, chánh báo trang nghiêm cơi Cực Lạc, chánh
nhân văng sanh của ba bậc, sự tu tŕ của các Bồ
Tát cơi Cực Lạc, nhân duyên sanh vào nghi thành biên địa,
các sự ác khổ của cơi uế Sa Bà, hiển hiện Cực
Lạc để chứng tín v.v... đều được
thuật rơ trong phần Chánh Tông. Đấy chẳng những
là chủ thể của kinh này mà c̣n thật sự là những
điểm chủ chốt trong toàn bộ diệu pháp Tịnh
Độ vậy.
Kinh này hơn hẳn các kinh khác ở chỗ nó tŕnh bày
tường tận vô biên pháp hạnh nhiệm mầu
như sự tu hành khi c̣n tu nhân của Cực Lạc giáo chủ
A Di Đà Phật, thệ nguyện thù thắng của Ngài
v.v... Nội dung của quyển hai này bàn về lời phát
nguyện của Di Đà khi c̣n tu nhân, cũng như những việc
Ngài đă thực hiện để viên măn những đại
nguyện đó. Trước hết, kinh nói “trong quá khứ vô lượng chẳng thể nghĩ
bàn kiếp” nhằm diễn giải: Trong thuở cùng cực
lâu xa về quá khứ, Phật Di Đà trong thời Thế Gian
Tự Tại Vương Phật được gặp Phật
xuất gia học đạo, pháp danh là Pháp Tạng, phát khởi
thệ nguyện sâu rộng. Như vậy, thời gian kể
từ khi đức Phật Di Đà c̣n đang tu nhân phát tâm tu
hành đến nay thật chẳng thể tính kể nổi.
Nhưng cần nên biết rằng: Lúc đức Di Đà
phát nguyện, Ngài đă không c̣n là phàm phu. Đa số các bậc
cổ đức đều cho rằng khi phát nguyện
như thế, Ngài đă ở địa vị Địa
Thượng Bồ Tát. Suy ra, thời kỳ Ngài phát tâm ban
đầu c̣n phải lâu xa hơn nữa.
Do vậy, người tu Tịnh Độ càng phải sanh
ḷng tin trong sạch, cảm niệm ân đức vô biên của
Phật. Y báo, chánh báo cơi Cực Lạc và diệu pháp tŕ
danh chính là diệu quả do đức Di Đà trong vô lượng
vô số chẳng thể nghĩ bàn kiếp đă siêng gắng
tu tập thành, để nay ta đem cái diệu quả ấy
làm nhân tâm của ḿnh. Ân ấy, đức ấy không cách
nào sánh ví, diễn tả được nổi.
Hơn nữa, khi c̣n tu nhân đức Di Đà đă chứng
Pháp Thân từ lâu, nên Nhất Thừa nguyện vương,
sáu chữ hồng danh, các thứ trang nghiêm y báo, chánh báo, thậm
chí một sợi lông, một mảy bụi, không một thứ
nào chẳng phát sanh từ vô vi Pháp Thân, trí huệ chân thật.
Mỗi một thứ ấy đều siêu t́nh ly kiến,
mỗi một thứ ấy đều được Thật
Tướng chánh ấn in vào, mỗi một thứ đều
khai hóa hiển thị Chân Thật Tế, mỗi một thứ
đều ban cho chúng sanh cái lợi chân thật. Do vậy,
pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn.
Phẩm thứ tư tiếp theo đây sẽ nói về
nhân duyên phát tâm học đạo của tỳ-kheo Pháp Tạng
trong khi tu nhân.
4. Pháp Tạng nhân địa (法 藏 因 地)
Chánh kinh:
佛 告 阿 難:過 去 無 量 不 可 思 議 無 央 數 劫,有 佛 出 世,名 世 間 自 在 王 如 來、應 供、等 正 覺、明 行 足、善 逝、世 間 解、無 上 士、調 御 丈 夫、天 人 師、佛 世 尊。在 世 教 授 四 十 二 劫,時 為 諸 天 及 世 人 民 說 經 講 道。
Phật
cáo A
- Quá khứ vô lượng bất
khả tư nghị vô ương số kiếp, hữu
Phật xuất thế, danh Thế Gian Tự Tại
Vương Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh
Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,
Phật, Thế Tôn, tại thế giáo thọ tứ thập
nhị kiếp. Thời vị chư
thiên cập thế nhân dân thuyết kinh, giảng đạo.
Phật bảo
A
- Vô lượng
chẳng thể nghĩ bàn vô ương số kiếp trong
quá khứ có Phật xuất thế hiệu là Thế Gian Tự
Tại Vương Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô
Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhân Sư, Phật Thế Tôn trụ thế giáo hóa trong bốn
mươi hai kiếp. Khi ấy, đức Phật v́
chư thiên và người đời nói kinh giảng đạo.
Giải:
“Vô ương số
kiếp”, tiếng Phạn là A-tăng-kỳ, dịch
thành Vô Ương Số. Ương (央) nghĩa là cùng
tận. Do kiếp số chẳng thể tính đến
cùng tận nên gọi là “vô ương số kiếp” (hoặc
c̣n nói là A-tăng-kỳ kiếp. Trong quyển một đă
giảng chữ “kiếp”: Kiếp là đơn vị thời
gian rất dài. Số kiếp nhiều đến nỗi chẳng
thể tính đếm nổi th́ gọi là “vô ương số
kiếp”). A-tăng-kỳ kiếp lại chẳng có hạn
lượng, chẳng thể nghĩ bàn cho xiết, nên bảo
là “vô lượng bất khả
tư nghị vô ương số kiếp” (chẳng thể
nghĩ bàn vô ương số kiếp), ngụ ư: Thời
gian lâu xa đến vô cực trong quá khứ.
“Thế Gian Tự Tại
Vương” (Danh xưng này dựa theo bản Đường
dịch): Trong quá khứ lâu xa đến vô lượng chẳng
thể nghĩ bàn vô tận đại kiếp, có một vị
Phật xuất hiện trong thế gian, danh xưng là Thế
Gian Tự Tại Vương Phật. Đây chính là danh hiệu
riêng của một vị cổ Phật, nên gọi là “biệt
hiệu”.
Thế Gian Tự Tại là thường ở trong thế
gian, nhưng chẳng bị thế gian chướng ngại
như câu nói: “Phật chiếu
thế gian tướng, thường trụ tự tịch
diệt”. Sách B́nh Giải lại bảo: “Chữ Thế Gian tương ứng với Bát Nhă,
Tự Tại nghĩa là Giải Thoát, Vương là Pháp
Thân. Ba chính là một, một chính là ba, chẳng ngang, chẳng
dọc, nên gọi là Thế Tự Tại Vương”.
Đấy là cách giải thích danh hiệu Phật dựa trên ba
đức của Niết Bàn.
Thời cổ, mọi thứ đều thuộc về
nhà vua cả nên dùng chữ Vương để ví Pháp Thân.
Hết thảy đều từ Pháp Thân hiện ra,
nhưng thứ nào rồi cũng quy về Pháp Thân cả,
nên bảo Vương là Pháp Thân. Thông đạt thế gian
là Bát Nhă đức, tự tại trong thế gian là Giải
Thoát đức. Như vậy, danh hiệu Thế Tự Tại
Vương chứa trọn ba đức, ba tức là một,
một tức là ba, giống như ba điểm của chữ
Y (\). Câu “chẳng ngang chẳng dọc”
diễn tả diệu đức vô thượng Thường,
Lạc, Ngă, Tịnh của chân thân Niết Bàn.
Từ “Như Lai” đến “Phật Thế Tôn” là thông
hiệu (danh hiệu chung) của chư Phật, hết thảy
các đức Phật cùng có đủ mười hiệu
này. Thật ra, chư Phật vô lượng đức nên
đức hiệu cũng vô lượng, nay do thuận
theo căn cơ chúng sanh nên chỉ nói giản lược
mười hiệu.
Trong các kinh, do tách ra hay gộp lại sai khác, nên mười
danh hiệu trên thành ra sai khác. Chẳng hạn như Tịnh
Ảnh Sớ đă dựa theo Thành Thật Luận gộp
Vô Thượng Sĩ và Điều Ngự Trượng Phu
thành một hiệu, tách chữ “Phật Thế Tôn” thành hai
danh hiệu. Theo các kinh Niết Bàn, kinh Anh Lạc và quyển
mười của bộ Đại Luận (tức Đại
Trí Độ Luận) th́ Vô Thượng Sĩ và Điều Ngự
Trượng Phu là hai danh hiệu, Phật Thế Tôn
được gộp lại thành một danh hiệu. Tôi
theo thuyết này.
Mười hiệu được giải thích như
sau:
1. Như Lai: Như là Chân Như. Nương theo
đạo Chân Như để đạt (“lai”) thành Chánh
Giác, nên gọi là Như Lai. C̣n có thể hiểu là chư Phật
đạt đạo an ổn, nên cũng bảo là Như
Lai đến; lại chẳng sanh trong sanh tử nữa
nên gọi là Như Lai. Lại giống như chư Phật
mà đến nên gọi là Như Lai.
Sách Hợp Tán lại giảng: “Phẩm Phạm Hạnh của kinh Niết Bàn chép rằng:
‘Vân hà danh Như Lai? Như quá khứ chư Phật
sở thuyết bất biến, vân hà bất biến? Quá khứ
chư Phật vị độ chúng sanh, thuyết thập
nhị bộ kinh, Như Lai diệc nhiên, cố danh Như
Lai’ (V́ sao gọi là
Như Lai? Giống như lời nói của chư Phật
quá khứ chẳng biến đổi. V́ sao không biến
đổi? Chư Phật quá khứ v́ độ chúng sanh
nên giảng mười hai bộ kinh, nay Như Lai cũng
giống như thế nên gọi là Như Lai)”.
Sách Hội Sớ lại nói: “Chữ
Như Lai có ba nghĩa là: Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân. Kinh Kim
Cang dạy: ‘Vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ’ (Không
từ đâu đến cũng chẳng đi về
đâu) là nói về Pháp Thân Như Lai. Luận Chuyển Pháp
Luân bảo: ‘Đệ Nhất Nghĩa Đế là Như, Chánh
Giác là Lai’, là nói về Báo Thân Như Lai. Luận Thành Thật
chép: ‘Nương đạo Như Lai mà đạt thành
Chánh Giác nên gọi là Như Lai’ là nói về Ứng Thân
Như Lai”.
Trong bản sớ giải phẩm Thọ Lượng
[kinh Pháp Hoa], tổ Thiên Thai (Trí Giả đại sư) lại
giảng rằng: “Như là pháp
bất biến, giống như tấm gương, chẳng
phải là nhân, chẳng phải là quả. Dẫu có Phật
hay không có Phật th́ tánh tướng vẫn thường
như vậy. Trọn khắp hết thảy các chốn
mà chẳng bị đổi khác là Như, bất động
mà đến được khắp tất cả là Lai”.
Giải thích như vậy là giảng theo Pháp Thân Như Lai.
Do Phật có ba thân Pháp, Báo, Ứng, nên chữ Như Lai tất
nhiên được giải thích theo từng quan điểm
Pháp, Báo, Ứng khác nhau. Nói đầy đủ th́ sẽ
như Hội Sớ giảng:
- Chẳng đến, đi là Pháp Thân.
- Chánh Giác Đệ Nhất Nghĩa Đế, đạt
đến Chân Như Thật Tướng như thế là
Báo Thân.
- Nương theo Chân Như Thật Tướng để
thành tựu Chánh Giác, đạt đến như vậy
th́ là Ứng Thân.
Với các cách giải thích khác, ta luôn có thể dựa
theo cách giải thích của Hội Sớ để lănh hội
ư chỉ.
2. Ứng Cúng: Đại Luận viết: “Đức Phật đă trừ sạch
hết các kiết sử, đắc hết thảy trí huệ,
nên xứng đáng nhận lănh sự cúng dường của
hết thảy chúng sanh trong trời đất. V́ vậy,
Phật được xưng là Ứng Cúng”. Tịnh Ảnh
Sớ lại giảng: “Chứng,
diệt tương ứng nên gọi là Ứng. Lại do
chứng diệt nên đáng cúng dường; v́ vậy bảo
là Ứng Cúng”. Sách Hội Sớ lại bảo: “Vạn hạnh viên thành, phước
huệ đầy đủ, xứng đáng nhận lănh sự
cúng dường của trời, người, lợi ích hữu
t́nh, nên Phật hiệu là Ứng Cúng”.
3. Đẳng Chánh Giác: Tiếng Phạn là Tam Miệu
Tam Bồ Đề, nói đủ là “A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề”. A là Vô, Nậu Đa La là thượng, Tam
là chánh, Miệu là đẳng, Bồ Đề là giác, nói gộp
lại là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bồ Tát
nhân hạnh viên măn nên thành Đẳng Chánh Giác, xưa kia dịch
là Vô Thượng Chánh Biến Tri. Bản chú giải kinh Duy
Ma Cật của ngài Tăng Triệu có đoạn viết:
“A Nậu Đa La: Hán dịch là Vô
Thượng. Tam Miệu Tam Bồ Đề: Hán dịch là
Chánh Biến Tri. Do không có ǵ lớn hơn được
đạo, nên đạo là Vô Thượng. Đạo ấy
chân chánh, không pháp nào chẳng biết, nên là Chánh Biến Tri”.
Tịnh Ảnh Sớ lại giảng: “Chánh là lư. Chiếu soi tột cùng lư thể, nên bảo
là Biến Tri”.
4. Minh Hạnh Túc: Có nhiều cách giải thích
chữ Minh (明).
- Đại Luận giảng: “Túc
Mạng, Thiên Nhăn, Lậu Tận gọi là Tam Minh”. Sách Hội
Sớ và Tịnh Ảnh Sớ cùng theo cách giải thích này,
đều cho rằng Minh chính là Tam Minh.
- Tịnh Ảnh Sớ lại c̣n viết thêm: “Minh là chứng hạnh. Chứng
pháp rơ ràng rốt ráo nên bảo là Minh”. So ra, thuyết này
sâu sắc hơn cả v́ toàn bộ kinh Hoa Nghiêm chỉ là
tín giải hành chứng. Nếu thấu suốt rơ ràng, chứng
ngộ thông suốt được hành pháp th́ mới
được gọi là Minh.
- Quyển mười tám kinh Niết Bàn có chép: “Minh giả, danh
đắc vô lượng thiện quả… Thiện quả
giả, danh A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”
(Minh là đắc vô lượng thiện
quả... Thiện quả là Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác). Thuyết này cực sâu v́ đă chứng đắc Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mới được gọi
là Minh.
Nay dùng thuyết của kinh Niết Bàn để giải
thích chữ Minh trong bản kinh Vô Lượng Thọ này là
thỏa đáng nhất. Quyển mười tám kinh Niết
Bàn giảng chữ Hạnh Túc như sau: “Hạnh danh cước túc…
Cước túc giả, danh vi Giới Huệ. Thừa Giới
Huệ túc, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề, thọ cố danh vi Minh Hạnh Túc dă” (Hạnh là chân cẳng…. Chân cẳng
là Giới, Huệ. Dùng chân Giới, Huệ để đắc
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nên gọi là Minh Hạnh
Túc). Tịnh Ảnh Sớ cũng giảng tương tự:
“Ngài Long Thọ nói: Giới,
Không Huệ v.v... được gọi là Hạnh. Đầy
đủ trọn vẹn hai thứ ấy (chỉ Giới
và Không Huệ) th́ gọi là Túc”.
Sách Hội Sớ giảng hơi khác: “Hạnh Túc là thân -khẩu - ư nghiệp chân chánh, thanh
khiết. Dùng nguyện lực của chính ḿnh để
khéo tu trọn vẹn hết thảy các hạnh nên hiệu
là Minh Hạnh Túc”.
5. Thiện Thệ: Thiện (善) là hay, tốt.
Thệ (逝) là đi qua. V́ vậy, Thiện
Thệ c̣n được dịch là Hảo Khứ (khéo
đi qua). Đại Luận chép: “Hảo
Khứ là khéo đạt các tam-ma-đề (chánh định) sâu và vô lượng đại
trí huệ như lời kệ: ‘Nhất Thiết Trí của
Phật là cỗ xe lớn, hành tám chánh đạo nhập
Niết Bàn’, nên gọi là Hảo Khứ”. Sách Hợp Tán
lại bảo: “Thiện là phát
tâm lúc đầu tiên, Thệ là Đại Bát Niết Bàn.
Như Lai chẳng bỏ cái tâm đă phát đầu tiên mà chứng
đắc Niết Bàn. V́ vậy, Như Lai hiệu là Thiện
Thệ”. Cả hai thuyết trên đều coi “nhập
Niết Bàn” là Thiện Thệ. Sách Hội Sớ lại bảo:
“Thiện Thệ nghĩa là diệu
trụ, tức là vô lượng trí huệ đoạn
được các Hoặc, khéo xuất thế gian, nên đạt
đến Phật quả vậy”.
Như vậy, thuyết này xem “đạt Phật quả”
là Thiện Thệ, nhưng thật ra cũng chẳng khác với
hai thuyết nói trên. Phật đă chẳng đến,
đi, sao lại bảo là Hảo Khứ? Tịnh Ảnh Sớ
giảng: “Phật đức
viên măn chẳng có chốn nào để đến nên bảo
là Hảo Khứ. Tuy không đến đâu nhưng chẳng
phải là không đến được, như lửa lúc
kiếp tận tuy chẳng thiêu cái ǵ, nhưng không cái ǵ nó
chẳng thể thiêu được. V́ vậy, cũng có thể
gọi là Khứ”.
6. Thế Gian Giải: C̣n dịch là Tri Thế
Gian. Sách B́nh Giải giảng: “Thế
Gian là Ngũ Ấm. Giải là biết.
7. Vô Thượng Sĩ: Sĩ (士) là người,
cao quư nhất trong loài người th́ gọi là Thượng
Sĩ. Kinh Niết Bàn dạy: “Như Lai giả, danh Vô Thượng Sĩ. Thí như
nhân thân, đầu vi tối thượng, phi dư chi thủ
túc đẳng dă. Phật diệc như thị, tối vi
tôn thượng, phi Pháp, Tăng dă” (Như Lai gọi là Vô Thượng
Sĩ. Ví như trong thân người, đầu ở cao nhất,
chân tay, những thứ khác chẳng bằng được;
Phật cũng giống như vậy, cao quư nhất, Pháp,
Tăng chẳng bằng). Kinh c̣n chép: “Hữu sở
đoạn giả, danh Hữu Thượng Sĩ. Vô sở
đoạn giả, danh Vô Thượng Sĩ” (C̣n có cái để đoạn th́
gọi là Hữu Thượng Sĩ. Không c̣n ǵ để
đoạn là Vô Thượng Sĩ).
Sách Hội Sớ cũng giảng giống hai thuyết
trên: “Hoặc nghiệp hết
sạch th́ không có ǵ để đoạn, là bậc nhất,
tối thượng trong nhân thiên phàm thánh của tam giới,
không ai bằng nên hiệu là Vô Thượng Sĩ”. Trí Độ
Luận lại bảo: “Pháp Niết
Bàn vô thượng, Phật tự biết là Niết Bàn, chẳng
phải nghe từ người khác, lại c̣n có thể dẫn
dắt chúng sanh đạt đến Niết Bàn. Như Niết
Bàn là vô thượng trong các pháp, Phật cũng là vô thượng
trong chúng sanh. Hơn nữa, Phật tŕ giới, Thiền
Định, trí huệ giáo hóa chúng sanh không ai bằng được nổi, huống
là hơn nổi Ngài. V́ vậy, gọi Phật là vô thượng”.
8. Điều Ngự Trượng Phu: Tịnh Ảnh
Sớ giảng: “Khéo có thể
điều phục chúng sanh th́ gọi là Điều Ngự
Trượng Phu”. Sách Hợp Tán lại giảng: “Chính ḿnh đă là trượng
phu, lại có thể điều phục trượng phu.
V́ vậy, xưng tụng Phật là Điều Ngự Trượng
Phu. Nếu đầy đủ bốn pháp th́ gọi là
trượng phu. Những ǵ là bốn? Gần thiện tri
thức, hay nghe pháp, suy nghĩ ư nghĩa [của pháp đă
được nghe], tu hành đúng như lời dạy”.
Sách Hội Sớ lại giảng: “Đầy đủ lực dụng của bậc
đại trượng phu để nói các pháp, điều
phục chế ngự hết thảy chúng sanh khiến cho
họ ĺa cấu nhiễm, đắc đại Niết
Bàn”.
Nếu có kẻ chất vấn: Cũng phải nên giáo
hóa bọn nữ nhân, cớ sao chỉ nói đến bọn
trượng phu? [Xin mượn lời] Trí Độ Luận
để đáp: “Nếu nói
‘trượng phu’ là đă tính cả nhị căn (kẻ
có đủ hai căn nam, nữ), vô căn (bẩm sinh không có bộ phận sinh dục), nữ nhân, nên chỉ nói là
trượng phu”. Như vậy, khi nói đến trượng
phu là đă tính hết phụ nữ, nhị căn, vô
căn trong ấy.
9. Thiên Nhân Sư: Tịnh Ảnh Sớ giảng:
“Có thể dùng chánh pháp để
gần gũi, giáo hóa trời người, th́ gọi là
Thiên Nhân Sư”. Sách Hội Sớ bảo: “Tất cả thiên thượng,
nhân gian, ma vương, ngoại đạo, Thích, Phạm,
thiên, long đều cùng quy mạng, tuân lời dạy vâng
làm, đều làm đệ tử, nên hiệu là Thiên Nhân
Sư”. Sách Hợp Tán lại bảo: “
10. Phật Thế Tôn: Thành Thật Luận
tách danh hiệu này ra làm hai, coi Phật là danh hiệu thứ
chín, Thế Tôn là danh hiệu thứ mười. Nay tôi theo
ư kinh Niết Bàn gộp Phật và Thế Tôn thành hiệu thứ
mười.
Phật là Giác: tự giác, giác tha và giác măn. Ba giác viên măn
nên xưng là Phật. Sách Hợp Tán lại giảng rằng:
“Phật là Giác. Đă tự giác ngộ,
lại c̣n giác ngộ người khác. Ví như có kẻ hiểu
biết kẻ giặc, giặc chẳng thể làm ǵ
được nổi”. Phật c̣n nghĩa là Tri (hiểu
biết), như Trí Độ Luận viết: “Phật Đà, Hán dịch là Tri Giả (bậc hiểu
biết). Biết được hết thảy các pháp:
chúng sanh số, phi chúng sanh số, hữu thường, vô
thường v.v... trong quá khứ, vị lai, hiện tại.
Dưới cội Bồ Đề, Ngài hiểu biết rành rẽ
hết cả nên gọi là Phật Đà”. Luận c̣n chép: “Phật thành tựu hết thảy
trí huệ, đầy đủ trọn vẹn các đức,
nên đều hiểu rành rẽ quá khứ, vị lai, hiện
tại, tận, bất tận, động, bất động,
hết thảy thế gian, nên hiệu là Phật Đà”.
“Thế Tôn” tiếng Phạn
là Bạc Già Phạm (Bhagavan), đầy đủ trọn
vẹn các đức được thế gian khâm ngưỡng
nên hiệu là Thế Tôn. Phẩm Thập Hiệu của
Thành Thật Luận có viết: “Trọn
vẹn chín danh hiệu như trên, là bậc cao quư trong tam thế
thập phương thế giới, nên gọi là Thế
Tôn” (Trí Độ Luận xem Phật là hiệu thứ
mười v́ cho rằng Thế Tôn là tiếng xưng tụng
chung cả mười đức hiệu. Cách tách ra hay gộp
lại này so với thuyết của Tịnh Ảnh Sớ
hơi khác đôi chút, nhưng vẫn tương đồng).
“Tại thế giáo thọ tứ
thập nhị kiếp, thời vị chư thiên cập
thế nhân dân thuyết kinh, giảng đạo” (Trụ thế giáo hóa trong bốn mươi
hai kiếp. Khi ấy, đức Phật v́ chư thiên và
người đời nói kinh, giảng đạo - Câu này
trích từ bản Hán dịch): Đức Phật ấy trụ
thế hoằng pháp tất cả bốn mươi hai kiếp.
Khi ấy, Ngài v́ chư thiên và nhân dân trong thế gian diễn
thuyết kinh văn, giảng luận đạo pháp và
đạo yếu.
Đạo là con đường giác ngộ. Luận Câu Xá
giảng: “Đạo nghĩa là ǵ?
Là đường Niết Bàn, v́ đi theo con đường
ấy đến được thành Niết Bàn”. Hoa
Nghiêm Đại Sớ cũng nói: “Thông
đến quả Phật nên gọi là Đạo”. “Đạo
pháp” là pháp dẫn đến chánh đạo Niết Bàn. “Đạo yếu” là điểm
trọng yếu trong Phật đạo, như Tán A Di Đà Phật
Kệ đă viết: “Cứu
sướng đạo yếu vô chướng ngại” (Thông suốt đạo yếu
chẳng chướng ngại).
Chánh kinh:
有 大 國 主 名 世 饒 王,聞 佛 說 法,歡 喜 開 解,尋 發 無上 真 正 道 意。棄 國 捐 王,行 作 沙 門,號 曰 法 藏。
Hữu đại quốc chúa danh
Thế Nhiêu Vương, văn Phật thuyết pháp, hoan hỷ
khai giải, tầm phát vô thượng chân chánh đạo
ư, khí quốc quyên vương, hành tác sa-môn, hiệu viết
Pháp Tạng.
Có đại quốc chúa tên
là Thế Nhiêu Vương nghe Phật thuyết pháp hoan hỷ,
khai giải, liền phát vô thượng chánh chân đạo
ư, bỏ nước, bỏ ngôi vua, trở thành sa-môn, hiệu
là Pháp Tạng.
Giải:
Danh hiệu
Thế Nhiêu Vương được ghi trong bản Hán dịch,
kinh chép: “Thế
Nhiêu Vương văn kinh tu đạo, hoan hỷ khai giải,
tiện khí vương vị, hành tác tỳ-kheo” (Thế Nhiêu
Vương nghe kinh, tu đạo, hoan hỷ, khai ngộ, thấu
hiểu, liền bỏ ngôi vua, trở thành tỳ-kheo). Ngài
Nghĩa Tịch bảo: “Chuẩn
theo kinh văn, Thế Nhiêu Vương chính là tục danh của
ngài Pháp Tạng”. Ngài nói như vậy v́ kinh văn bản
Hán dịch khẳng định rơ ràng: Lúc làm quốc
vương, [Pháp Tạng] tên là Thế Nhiêu Vương, sau
đó xuất gia trở thành tỳ-kheo Pháp Tạng.
Vào thời ấy, có một đại quốc
vương tên là Thế Nhiêu Vương nghe đức Phật
Thế Gian Tự Tại Vương thuyết pháp, tâm chợt
khai ngộ, hiểu thấu suốt Thật Nghĩa nên kinh
chép là “khai giải”. Do khai giải
nên tự nhiên “hoan hỷ”.
Điểm này giống như cuối các bản kinh thường
chép: “Văn Phật sở thuyết,
giai đại hoan hỷ” (Nghe lời Phật dạy
đều đại hoan hỷ).
Trong câu “tầm
phát vô thượng chân chánh đạo ư” (liền phát vô thượng chánh chân đạo
ư), chữ “tầm” (尋) có nghĩa là ngay lập tức, “phát” là phát tâm. “Vô
thượng chánh chân đạo” tiếng Phạn là A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, tức là đạo
mà đức Phật đă chứng đắc. Do không ǵ
hơn được đạo ấy nên bảo là “vô thượng”. “Chân” là chân thật. “Chánh” là thánh trí v́ biết
đúng như pháp tướng. “Đạo”
là đạo vô ngại. “Ư”
là tâm năng cầu, tức là cái tâm cầu Bồ Đề
đạo được gọi là “ư”. V́ vậy, “vô thượng chánh chân đạo
ư” chính là phát vô thượng đại Bồ Đề tâm.
Thế Nhiêu Vương nghe pháp khai giải, ngay lập tức
phát vô thượng đại Bồ Đề tâm, bỏ đất
nước và ngôi vua, tránh đời, xuất gia, trở
thành sa-môn.
“Sa-môn” (śramana)
nguyên là tiếng
để gọi chung những người xuất gia, kể
cả ngoại đạo, sau này mới trở thành danh từ
dành riêng cho tăng lữ Phật giáo. Sa-môn nghĩa
là Cần Tức, sách Hội Sớ giảng: “Kẻ ấy siêng (cần) tu pháp lành, dứt (tức) các ác”. Kinh Tứ
Thập Nhị Chương chép: “Từ
thân xuất gia, thức tâm, đạt bổn, giải vô vi
pháp, danh vi Sa-môn” (Từ biệt thân thuộc xuất gia,
hiểu thấu cội rễ của tâm tánh, hiểu pháp vô
vi, gọi là Sa-môn). Đấy chính là ư nghĩa sâu xa của chữ
Sa-môn vậy.
“Hiệu viết Pháp Tạng”
(Hiệu
là Pháp Tạng): Pháp Tạng chính là pháp danh của Thế
Nhiêu Vương sau khi trở thành tỳ-kheo. Bản Hán dịch
chép là Pháp Bảo Tạng, bản Ngô dịch ghi là Đàm Ma Ca (Dharmākara), bản Đường
dịch viết là Pháp Xứ, bản Tống dịch ghi là
Tác Pháp, Đại Luận lại ghi là Pháp Tích, chỉ mỗi
bản Ngụy dịch chép là Pháp Tạng; bản hội tập
dùng danh xưng này. Các bản dịch tên Ngài sai khác như vậy
chỉ là do cách dùng từ sai khác. Theo Thám Huyền Kư, chữ
Pháp có đến bốn nghĩa:
- Chứa đựng, bao gồm
- Tích chứa sâu sắc.
- Sanh ra
- Vô tận.
Do chứa đựng hết thảy pháp nên gọi là
Pháp Tạng, như Gia Tường Sớ giảng: “Do có thể tích lũy Phật
pháp một cách sâu xa, nên gọi là Pháp Tạng”. Lại v́
có thể mở bày pháp tạng của Phật nên gọi là
Pháp Tạng.
Chánh kinh:
修 菩 薩 道,高 才 勇 哲,與 世 超 異。信 解 明 記,悉 皆 第一。又 有 殊 勝 行 願,及 念 慧 力,增 上 其 心,堅 固 不 動。修 行 精 進,無 能 踰 者。
Tu Bồ
Tát đạo, cao tài dũng triết, dữ thế siêu dị,
tín giải minh kư, tất giai đệ nhất. Hựu hữu thù thắng hạnh nguyện,
cập niệm huệ lực, tăng thượng kỳ
tâm, kiên cố bất động. Tu hành tinh tấn, vô năng du giả.
Tu Bồ Tát đạo,
cao tài dũng triết, trỗi lạ hơn đời,
tín, giải, nhớ rơ, đều là bậc nhất. Lại
có hạnh nguyện và niệm huệ lực thù thắng
để tăng thượng tâm ḿnh kiên cố chẳng
động, tu hành tinh tấn chẳng ai hơn nổi.
Giải:
Đoạn kinh này khen ngợi nồng nhiệt đức
hạnh tu hành của tỳ-kheo Pháp Tạng sau khi xuất
gia. Câu “tu Bồ Tát đạo”
trích từ bản Ngô dịch, hàm ư: Ngài Pháp Tạng hướng
thẳng đến Nhất Thừa, chẳng lạc trong
Quyền, Tiểu. Bản Tống dịch ghi là “Đại Thừa đệ nhất”.
Như vậy, pháp của Bồ Tát tu chỉ là đại
pháp Nhất Thừa Chân Như viên măn.
“Cao tài dũng triết”: Tài (才)
là khả
năng hay trí huệ, Triết (哲) là hiểu rơ.
Gia Tường Sớ giảng: “Khen
ngợi tài năng siêu quần nên bảo là Cao Tài. Tự thắng
được ḿnh, thắng được người
nên khen là Dũng. Sáng suốt phá tan tà kiến nên bảo là
Triết”. Tịnh Ảnh Sớ lại giảng: “Tài là tài khéo, tài đức
hơn người nên bảo là Cao Tài. Ư chí mạnh mẽ
là Dũng. Tâm sáng suốt là Triết”. Như vậy, câu “cao tài dũng triết” hàm ư: Bồ
Tát Pháp Tạng tài cao hơn người, dũng mănh tinh tấn,
tâm rạng, trí sáng.
Tịnh Ảnh Sớ giảng câu “dữ thế siêu dị” (trỗi lạ hơn
đời) như sau: “Riêng ḿnh
Ngài đức hạnh vượt trỗi, nên bảo là ‘thế
siêu dị’ (trỗi lạ hơn đời)”. Sách Hội
Sớ lại bảo: “Thường
nhân chẳng thể bằng nổi nên bảo là dữ thế
siêu dị”. Sách Hợp Tán lại bảo: “Nếu là ở bậc Địa
Thượng phát tâm th́ đời (Thế) có nghĩa là những
người thuộc Địa Tiền”. V́ không dám đoan
chắc lúc Bồ Tát Pháp Tạng phát tâm đă đạt
đến địa vị nào nên sách Hợp Tán chỉ nói
dè dặt rằng: “Nếu là ở
bậc Địa Thượng phát tâm” th́ chữ Thế
trong câu “ư thế siêu dị”
sẽ chỉ hết thảy những người chưa
đạt đến Sơ Địa (những người ấy
thường được gọi bằng danh xưng
“Địa Tiền”). Đó là v́ những người c̣n thuộc
Địa Tiền được gọi chung là “thế gian”,
chỉ bậc chứng Sơ Địa trở lên mới
được gọi là “xuất thế gian”. Tôi trộm
nghĩ tác giả sách Hợp Tán tin rằng ngài Pháp Tạng
khi ấy đă là bậc Địa Thượng Bồ Tát phát
tâm, nhưng chưa dám quả quyết đó thôi.
Với vấn nạn: “Khi phát tâm Bồ Tát Pháp Tạng
đă ở địa vị nào?”, các nhà chú giải kinh nêu
lên nhiều thuyết khác nhau. Ngài Tịnh Ảnh bảo: “Ở đây, Ngài vừa mới
phát tâm vô thượng nên c̣n thuộc Địa Tiền thế
gian hạnh; đến đoạn sau có câu: ‘Ta phát tâm Vô
Thượng Chánh Giác’, [lúc ấy] Ngài mới thuộc Địa
Thượng xuất thế gian hạnh”. Các vị Nghĩa
Tịch, Vọng Tây v.v... cũng nghĩ tương tự:
Trong đoạn kinh này, khi Pháp Tạng phát tâm c̣n thuộc Địa
Tiền; đến phẩm thứ năm, khi phát tâm lần
nữa, Ngài mới là Địa Thượng Bồ Tát phát tâm.
Các vị Đàm Loan, Gia Tường, Thiện Đạo và tác
giả sách B́nh Giải đều bác thuyết ấy. Sách
B́nh Giải bác thuyết của ngài Tịnh Ảnh như
sau: “Dẫu có nói phát tâm trước
(đoạn kinh này), sau (phẩm
thứ năm) nhưng chẳng
có hai lượt phát tâm. Chỉ là một lần phát tâm mà
thôi!”.
Ư nói: Đoạn này là đức Thích Ca thuyết pháp, thuật
lại sự phát tâm của Bồ Tát Pháp Tạng; trong phẩm
thứ năm ở phần sau, chính tỳ-kheo Pháp Tạng
tự thuật việc phát tâm của ḿnh. Việc phát tâm
thuật trong phần sau chỉ là nhắc lại việc
phát tâm lần này. Tuy kinh có nói đến thứ tự phát
tâm trước sau một cách sơ lược hay chi tiết
sai khác, nhưng việc phát tâm của ngài Pháp Tạng chỉ
là một, chẳng hề có đến hai lần!
Ư kiến của sách B́nh Giải rất xác đáng. Sách
c̣n viết tiếp: “Đại sĩ
Long Thọ phán định là thuộc Sơ Địa hoặc
là Bát Địa, cũng là từ quả hướng đến
nhân, thật khác với ư các sư lắm!” Viết
như vậy là căn cứ theo Đại Luận. Trong Đại
Luận, Đại Sĩ Long Thọ phán định Bồ Tát
Pháp Tạng khi phát tâm đă ở bậc Sơ Địa hay là
Bát Địa, nghĩa là đều thuộc bậc Địa
Thượng mà phát tâm. Do đó, ư Đại Luận thật
khác xa thuyết của các sư! Thuyết của sách B́nh Giải
thật có chứng cứ đích xác.
Phẩm Thọ Lượng kinh Pháp Hoa chép: “Ngă thực thành Phật
dĩ lai, vô lượng vô biên bách thiên vạn ức
na-do-tha kiếp”
(Từ
khi ta (Phật Thích Ca) thành Phật đến nay đă vô
lượng vô biên trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp).
Kinh Pháp Hoa c̣n chép đức Thích Ca cùng Phật Di Đà trong vô
lượng A- tăng-kỳ kiếp trước cùng làm
vương tử của Đại Thông Trí Thắng Như
Lai. Như vậy, Di Đà Như Lai cũng đă thành Phật
từ rất lâu xa rồi, đúng là tỳ-kheo Pháp Tạng
chỉ từ quả hướng nhân mà thôi.
“Tín giải minh kư, tất giai
đệ nhất” (Tín, giải, nhớ rơ đều là bậc nhất):
Tín (信) là tin nhận (tín thọ). Quyển hai sách Đại
Thừa Nghĩa Chương chép:
“Đối với Tam Bảo tâm tịnh chẳng ngờ gọi
là Tín”. Quyển sáu kinh Hoa Nghiêm (bản dịch đời
Tấn) cũng bảo: “Tín vi đạo nguyên công đức mẫu… thị hiện
khai phát vô thượng đạo” (Tín là nguồn đạo của
biển công đức... thị hiện khai phát vô thượng
đạo). “Giải” (解) là liễu giải,
khai giải, tức hiểu thông suốt. Kinh Hoa Nghiêm lấy
“tín giải hạnh chứng” làm cương yếu là bởi
có tín giải chân thật th́ mới có thể sanh khởi hạnh
chứng chân thật. “Minh kư”
(明 記) là ghi nhớ một
cách phân minh, chẳng hề quên mất pháp đă nghe, nhớ
rành mạch phân minh nên bảo là “minh
kư”.
Câu “tất giai đệ nhất”
(đều là đệ nhất) có hai nghĩa:
- Một là cao cùng tột vô thượng, không ai hơn
được nổi.
- Hai là sự tín, giải, lănh hội của Ngài đều
khế hợp Đệ Nhất Nghĩa Đế nên “tất giai đệ nhất”.
“Hựu hữu thù thắng hạnh
nguyện, cập niệm huệ lực, tăng thượng
kỳ tâm, kiên cố bất động” (Lại có hạnh nguyện và niệm huệ
lực thù thắng để tăng thượng tâm ḿnh
kiên cố chẳng động): “Thù thắng” là thuật ngữ
riêng của Phật giáo, Thù (殊) là đặc biệt,
Thắng (勝) là siêu việt. Việc ǵ siêu phàm tuyệt tục,
thế gian hiếm có th́ bảo là “thù thắng”.
“Hạnh nguyện” là thân hạnh
và tâm nguyện hỗ trợ nhau. Sách Bồ Đề Tâm Luận
giảng: “Cầu Bồ Đề
là phát Bồ Đề tâm, tu Bồ Đề tâm”. “Phát” là tín
nguyện, “tu” là hạnh. Ba thứ tư lương Tín,
Nguyện, Hạnh như ba chân của cái đỉnh, chẳng
thể thiếu một. Phật Di Đà hiệu là Đại Nguyện
Vương, pháp môn Tịnh Độ hoàn toàn nương vào biển
nguyện Nhất Thừa của Phật Di Đà, lấy “tín
nguyện tŕ danh” làm Tông, cho thấy chữ Nguyện thật
đúng là cốt lơi của Tự Giác, Giác Tha vậy.
Đại nguyện sanh ra đại lực, nên đại
nguyện và sức niệm huệ cùng làm tăng thượng
duyên. Tịnh Ảnh Sớ nói: “Nguyện
để khởi hạnh th́ gọi là nguyện lực”.
Sách Hội Sớ nói: “Nguyện
lực là Tứ Hoằng Thệ Nguyện để thanh tịnh
Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh vậy”.
Nay Bồ Tát Pháp Tạng có đủ các nguyện lực
thù thắng không chi bằng nổi, nên Ngài được gọi
là Đại Nguyện Vương. Chữ “niệm huệ lực” c̣n chỉ Niệm Lực
và Huệ Lực. Tín Lực, Tinh Tấn Lực, Niệm Lực,
Định Lực và Huệ Lực gọi chung là Ngũ Lực.
Trí Độ Luận nói: “Tăng
trưởng Ngũ Căn khiến cho chúng chẳng bị
phiền năo phá hoại nên gọi là Lực”. Luận c̣n
nói: “Thiên ma ngoại đạo
chẳng thể ngăn trở, phá hoại nên gọi là Lực”.
Hơn nữa, Niệm Lực tăng trưởng niệm
căn, phá được các tà niệm. Huệ Lực
tăng trưởng huệ căn, phá các Hoặc trong tam giới.
Đại sư Linh Phong (tổ Ngẫu Ích) c̣n bảo: “Niệm căn tăng trưởng
thành tựu hết thảy chánh niệm xuất thế công
đức nên gọi là Niệm Lực. Huệ căn
tăng trưởng ngăn che hết thảy các Hoặc
Chướng dù thông hay biệt, phát sanh chân vô lậu, nên gọi
là Huệ Lực”.
Kiến Tư Hoặc là Thông Hoặc (phiền năo chung)
v́ cả ba thừa đều cùng phải đoạn trừ.
Trần Sa Hoặc, Vô Minh Hoặc là Biệt Hoặc, chỉ
riêng hàng Bồ Tát phải đoạn. Huệ quang dứt
được Hoặc, hiển phát chân trí vô lậu nên gọi
là Huệ Lực. Các lực như vậy đều thù thắng
cả.
“Tăng thượng” là có thế lực
mạnh mẽ, có thể khiến cho các pháp khác được
tăng trưởng, phát triển thêm, nên gọi là “tăng thượng”. Cái
được tăng thượng trong đoạn kinh này
thật hết sức thù thắng, v́ nó chẳng phải là
pháp nào khác mà chính là “kỳ tâm”.
“Kỳ tâm” chính là tự tâm của đương nhân.
Kinh Kim Cang dạy: “Ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm” (Đừng trụ vào đâu cả
mà sanh tâm ḿnh). Cả hai kinh cùng nhắc đến “kỳ tâm”, đó chính là “nhất tâm”. Giống như
khi mài gương, chất dơ hết th́ gương hiện
sáng; vô minh hoặc đă hết, tự tâm liền hiện
sáng. V́ thế, kinh nói: “Tăng
thượng kỳ tâm”.
“Kiên cố bất động”
(Kiên
cố chẳng động): Tâm ḿnh như kim cang phá
được hết thảy, nhưng hết thảy chẳng
thể phá được tâm, nên bảo là “kiên cố”. Tâm ấy
như như, giống như kinh Kim Cang nói: “Như như bất động” nên bảo là “bất động”. Cái tâm bất
động ấy chẳng hề bị ch́m đắm,
vướng mắc trong không tịch mà tâm tâm khế hợp
với Chân Như, niệm niệm nhập trong Như
Lai Giác Hải.
“Tu hành tinh tấn, vô năng du
giả” (Tu hành tinh tấn
không ai hơn được): “Tu
hành” xưa kia vốn là tiếng thông dụng, chỉ từ
đời Tấn trở đi, tu hành mới trở thành
thuật ngữ Phật giáo chuyên biệt. Đúng như lư mà
hành Giới, Định, Huệ th́ gọi là “tu hành”. Tu hành chính là hành pháp trong bốn pháp Giáo,
Lư, Hành, Quả của Phật giáo. “Tinh tấn” là siêng năng. Trong bản sớ giải
kinh Quán Di Lặc Thượng Sanh, ngài Từ Ân (Khuy Cơ)
giảng chữ “tinh tấn”
như sau: “Tinh là tinh thuần,
không ác tạp. Tấn là thăng tấn, chẳng biếng
lười”. “Du” (踰) nghĩa là
vượt hơn, hơn hẳn, vượt trội.
Hai câu này (tức là câu: “Tu
hành tinh tấn, vô năng du giả”) dùng để tổng
kết đoạn kinh văn trên. Chữ “tu hành” chỉ chung các diệu hạnh đă thuật
trong các đoạn trên. Với các hạnh như vậy
đều siêng năng tấn tới, nên bảo là “tu hành tinh tấn”. Đức hạnh
của tỳ-kheo Pháp Tạng không ai bằng được
nổi nên bảo là “vô năng
du giả” (không ai có thể trội hơn nổi).
Chánh kinh:
往 詣 佛 所,頂 禮 長 跪,向 佛 合 掌,即 以 伽 他 讚 佛,發 廣 大 願 ,頌 曰:
Văng nghệ Phật sở,
đảnh lễ, trường quỵ, hướng Phật
hiệp chưởng, tức dĩ già-tha tán Phật, phát quảng
đại nguyện, tụng viết:
Đi đến chỗ
Phật, đảnh lễ, quỳ dài, hướng về
Phật chắp tay, liền dùng già-tha khen Phật, phát nguyện
rộng lớn, tụng rằng:
Giải:
“Nghệ” (詣) là đi qua, “sở”
(所) là
nơi chốn. “Đảnh lễ”: Tiếng Phạn là Na Mộ, Hán
dịch là Quy Mạng, Khể Thủ, Đảnh Lễ, hoặc
chỉ dịch là Lễ, thường nói: “Đảnh lễ Phật túc” (Đảnh lễ
dưới chân Phật). Chỗ quư nhất trong thân ta là
đảnh đầu, chỗ thấp hèn nhất là bàn
chân. Dùng cái tôn quư nhất của ta để cung kính cái thấp
hèn nhất của người khác nhằm biểu lộ
ḷng cung kính đến cùng cực.
“Già-tha” (Gatha): Xưa dịch
là Kệ (偈), nay dịch là Tụng. Tụng (頌) có nghĩa là
khen ngợi, ca tụng. Dùng đến kệ tụng v́ hai
lư do:
1. Lời kệ ít chữ nhưng chứa đựng
nhiều ư nghĩa, dễ hiểu, dễ nhớ.
2. Âm điệu bài kệ du dương nên thường
được dùng để tán vịnh.
Tỳ-kheo Pháp Tạng đến trước đức
Phật, lễ Phật, khen ngợi, lại c̣n phát ra lời
nguyện rộng lớn (như sẽ thuật đủ
trong phần kinh văn kế tiếp). Hết thảy chúng
sanh trong hiện tại và tương lai đều
nương theo Nhất Thừa nguyện hải ấy mà
được độ thoát cả.
Chánh kinh:
如 來 微 妙 色 端 嚴
一 切 世 間 無 有 等
光 明 無 量 照 十方
日 月 火 珠 皆 匿 曜
世 尊 能 演 一 音 聲
有 情 各 各 隨 類 解
又 能 現 一 妙 色 身
普 使 眾 生 隨 類 見
Như Lai vi
diệu sắc đoan nghiêm
Nhất thiết thế gian vô
hữu đẳng
Quang minh vô lượng chiếu
thập phương
Nhật
nguyệt hỏa châu giai nặc diệu.
Thế Tôn năng diễn nhất
âm thanh
Hữu
t́nh các các tùy loại giải.
Hựu năng hiện nhất
diệu sắc thân
Phổ sử
chúng sanh tùy loại kiến
Như Lai vi diệu
sắc đoan nghiêm
Hết thảy
thế gian không ai sánh
Quang minh vô
lượng chiếu thập phương
Nhật, nguyệt,
hỏa, châu đều ẩn sáng
Thế Tôn hay diễn
một âm thanh
Hữu t́nh tùy
loại đều hiểu được
Lại hiện
ra một diệu sắc thân
Khiến khắp
chúng sanh tùy loại thấy
Giải:
Bài tụng này trong bản Hán dịch mỗi câu chỉ
có năm chữ, bản Ngụy dịch mỗi câu bốn
chữ, hai bản Đường dịch và Tống dịch mỗi
câu có bảy chữ (bản Ngô dịch thiếu hẳn bài
kệ này). So ra, câu văn và ư nghĩa bài kệ trong hai bản
Đường dịch và Tống dịch hay hơn cả, nên
hội bản cũng dùng bài kệ bảy chữ.
Trong bài tụng trên, đoạn đầu tán thán Phật
đức. “Vi” (微) là nhỏ nhiệm,
tinh diệu; “diệu” (妙) là tốt đẹp, tinh túy. Đây là tiếng dùng để
khen ngợi, ngụ ư: Đầy đủ các sự chẳng
thể nghĩ bàn, không ǵ có thể so sánh nổi. Báo độ,
báo thân, sắc tướng của đức Phật chẳng
thể nghĩ bàn nổi, nên khen là “diệu sắc”. “Vi diệu” là tinh diệu đến
cùng cực. “Sắc đoan
nghiêm” là sắc tướng đoan chánh, trang nghiêm. Phẩm
Tự của kinh Pháp Hoa có câu: “Thân sắc như kim sơn, đoan nghiêm thậm vi diệu”
(Sắc thân như ḥn núi bằng vàng,
đoan nghiêm thật vi diệu).
“Nặc” (匿) là giấu kín, ẩn
đi, mất đi. “Diệu”
(曜: Trong lời kệ
tạm dịch là “sáng” do số chữ hạn chế) có
nghĩa là chiếu sáng. Nghĩa của bốn câu đầu
bài tụng như sau: Sắc tướng Như Lai vi diệu,
đoan chánh, trang nghiêm khó thể nghĩ lường nổi.
Hết thảy tất cả các vật trong thế gian,
không vật nào sánh nổi sắc tướng của
Như Lai. Ư nghĩa hai câu này cũng giống như lời
kệ tán Phật: “Thập
phương sở hữu ngă tận kiến, nhất thiết
vô hữu như Phật giả” (Con đă thấy hết
tất cả hết thảy các vật trong mười
phương. Trong hết thảy các vật, không có vật
nào sánh bằng được Phật).
Phật phóng ra vô lượng quang minh chiếu khắp
các cơi nước trong mười phương. Ánh sáng rực
rỡ của mặt trời, mặt trăng, lửa, châu
trong các cơi ấy đều bị quang minh của Phật
che lấp mất chẳng thấy được nữa.
Chữ “hỏa” (火) ở đây
chỉ chung hết thảy đèn, đuốc và hết thảy
các thứ ánh lửa sáng. “Châu” (珠) là
Ma-ni, c̣n phiên là Mạt-ni, nói đầy đủ là Chấn-đá-mạt-ni
(Cintāmani), dịch nghĩa
là “châu, bảo, ly cấu, như ư”. Nếu dịch gộp
chung các ư trên th́ dịch là “như
ư bảo châu”. Ma-ni tỏa quang minh lớn, hơn hẳn
các thứ trong đời. Sách Hội Sớ nói: “Vật sáng nhất trong thiên hạ
không ǵ hơn mặt trời, mặt trăng. Vật sáng nhất
trong muôn vật không ǵ hơn nổi Ma-ni. Nhưng Phật
quang vừa tỏa, ánh sáng của chúng đều bị che
lấp hết”.
Bốn câu tụng kế đó đều trích nguyên
văn từ bản Đường dịch. Bốn câu này
xưng tán Thế Gian Tự Tại Vương Phật viên
minh cụ đức, sự sự vô ngại, diệu dụng
chẳng thể nghĩ bàn. Nghĩa của bốn câu ấy
như sau: Đức Thế Tôn diễn thuyết diệu
pháp, trong một âm thanh có thể khiến cho các loài chúng sanh
trong khắp cả cửu giới, lục đạo, tứ
sanh đều tùy theo căn tánh của từng loài cùng nghe
được, hiểu được lời Phật dạy.
Ngôn ngữ trong thế gian thường bị trở ngại
v́ phương ngôn khác nhau, cũng như do người
nghe, kẻ nói không cùng một tŕnh độ, nên không hiểu
được nhau. Đức Thế Tôn diệu dụng vô
cùng, Ngài khiến cho khắp tất cả các loài chúng sanh
loài nào cũng hiểu được tiếng nói của
Ngài. Tiếng nói của Phật càng chẳng thể nghĩ
bàn hơn nữa, v́ trong một âm thanh đă đầy
đủ trọn vẹn vô biên diệu dụng chẳng thể
nghĩ bàn như thế.
Hai câu kệ
này thật đă hiển thị cảnh giới sự sự
vô ngại siêu t́nh ly kiến của kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Phổ
Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm có câu: “Nhất thiết Như Lai ngữ
thanh tịnh, nhất ngôn cụ chúng âm thanh hải, tùy
chư chúng sanh ư nhạo âm, nhất nhất lưu Phật
biện tài hải” (Lời nói của hết thảy
Như Lai thanh tịnh, mỗi một tiếng có đủ
các biển âm thanh. Theo ư thích của từng chúng sanh, mỗi
một tiếng phát xuất biển biện tài của Phật). Quả thật, bài kệ
trên có cùng một ư chỉ với hai câu kệ trong kinh này: “Thế Tôn năng diễn nhất
âm thanh, hữu t́nh các các tùy loại giải” (Thế Tôn hay diễn
một âm thanh, hữu t́nh tùy loại đều hiểu
được). Mỗi một âm thanh có vô lượng âm
thanh, mỗi một âm trong vô lượng âm thanh ấy lại
có vô biên diệu dụng, tùy theo ư thích của từng chúng
sanh mà mỗi một âm thanh xuất hiện vô biên biện
tài khiến cho mỗi chúng sanh đều được
nghe hiểu, được độ thoát. Đây chính là môn “chủ bạn viên minh cụ
đức” trong mười huyền môn: Một pháp viên
măn công đức của hết thảy pháp nên bảo là “viên minh cụ đức”.
Trong một âm vang ra vô lượng âm, nói trọn vẹn hết
thảy pháp, phổ độ vô biên chúng sanh, đấy
chính là “viên minh cụ đức”.
Hiển nhiên, kinh này và kinh Hoa Nghiêm có cùng một pháp vị.
Hai câu kệ trên đă diễn tả Ngữ Mật của
Như Lai. Hai câu kệ kế tiếp: “Hựu năng hiện nhất diệu sắc thân,
phổ sử chúng sanh tùy loại kiến” (Lại hiện
ra một diệu sắc thân, khiến khắp chúng sanh tùy
loại thấy) diễn tả Thân Mật của đức
Như Lai. Phật có thể hiện ra một sắc thân vi
diệu khiến cho khắp các loài chúng sanh tùy theo phẩm
loại của chúng đều được thấy Phật.
Xét ra, Phật thân có đến năm loại: Pháp Thân,
Báo Thân, Ứng Thân, Hóa Thân, Đẳng Lưu Thân.
1. Pháp Thân: Tức là Tự
Tánh Thân, mang tên Tỳ Lô Giá Na (Vairocana), dịch là Biến Nhất
Thiết Xứ. Thân này là Lư Thể của Trung Đạo, ĺa
khỏi hết thảy các tướng và các hư luận,
đầy đủ vô biên công đức thanh tịnh, chân
thật. Đây là cảnh giới chỉ có Phật với Phật
mới có thể chứng nhập được.
2. Báo Thân: Thân này của
đức Như Lai mang tên Lô Xá Na (Rocana), dịch là Quang
Minh Biến Chiếu, phải là bậc Bồ Tát từ
Sơ Địa trở lên mới thấy nổi.
3. Ứng Thân: Chẳng
hạn như đức Thích Ca Văn (Śākyamuni). Ứng thân
[nói chung] chỉ thân Phật dùng để hiện tám tướng
thành đạo. Địa Tiền Bồ Tát, Nhị Thừa,
phàm phu đều thấy được thân này.
4. Hóa Thân: Thân Phật
hóa hiện trong một giai đoạn nào đó th́ gọi
là Hóa Thân.
5. Đẳng Lưu Thân: Là
một trong bốn thân do Mật giáo lập ra. Đẳng
Lưu Thân là thân do Phật thị hiện có cùng h́nh dạng
như các loài trời, người, quỷ, súc sanh v.v... cho
các dị loại đều được thấy.
Câu kệ trong bài tụng trên có nghĩa là: Từ một
thân Phật hiện ra vô lượng các thân, khiến cho mọi
loài chúng sanh mỗi loài đều được trông thấy.
Câu này cũng hiển thị cảnh giới viên minh cụ
đức chẳng thể nghĩ bàn vậy.
Phần kệ tụng trên đây là lời khen ngợi
Phật, phần tiếp theo là phát nguyện. Tỳ-kheo Pháp
Tạng sau khi tán thán công đức của Phật xong, liền
phát khởi thệ nguyện rộng lớn: Nguyện tự
làm Phật, nguyện nhiếp tŕ Phật độ, lợi
khắp chúng sanh chóng thành Chánh Giác.
Phải phát đại nguyện v́ đó là việc trọng
yếu nhất. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện
có chép: “Như Lai công
đức, giả sử thập phương nhất thiết
chư Phật, kinh bất khả thuyết bất khả
thuyết Phật sát cực vi trần sát kiếp,
tương tục diễn thuyết, bất khả cùng tận.
Nhược dục thành tựu thử công đức môn,
ưng tu thập chủng quảng đại hạnh nguyện”
(Giả sử
mười phương hết thảy chư Phật liên
tục diễn nói công đức của Như Lai trong số
kiếp nhiều như số cực vi trần trong bất
khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật cũng
chẳng thể nói hết nổi. Nếu muốn thành tựu
môn công đức ấy phải tu mười thứ hạnh
nguyện rộng lớn).
V́ vậy, Tịnh tông dùng ba thứ Tín, Hạnh, Nguyện
làm tư lương.
Linh Phong đại sư dạy: “Không có Tín th́ chẳng đủ để phát khởi
Nguyện, không có Nguyện sẽ chẳng đủ dẫn
dắt Hạnh”. Pháp sư Tỉnh Am đời Thanh cũng
nói: “Tu hành th́ việc cần
kíp trước tiên là lập nguyện. Nguyện đă lập
th́ mới độ nổi chúng sanh, tâm đă phát mới
kham thành được Phật đạo”. Ngài c̣n dạy:
“V́ vậy, cần biết là nếu
muốn học Như Lai thừa th́ trước hết phải
phát đủ Bồ Tát nguyện, chẳng được
chần chừ”.
Đoạn kệ tụng tiếp sau đây là lời Pháp Tạng
nguyện cầu đức tự giác, giác tha. Muốn giác
tha th́ trước hết ḿnh phải tự giác đă. Cầu
tự giác chính là để giác tha.
Chánh kinh:
願 我 得 佛 清 淨 聲
法 音 普 及 無 邊 界
宣 揚 戒 定 精 進 門
通 達 甚 深 微 妙 法
智 慧 廣 大 深 如 海
內 心 清 淨 絕 塵 勞
超 過 無 邊 惡 趣 門
速 到 菩 提 究 竟 岸
無 明 貪 瞋 皆 永 無
惑 盡 過 亡 三 昧 力
Nguyện ngă đắc Phật
thanh tịnh thanh
Pháp âm phổ cập vô biên giới
Tuyên dương Giới, Định,
Tinh Tấn môn
Thông đạt thậm thâm vi diệu pháp
Trí huệ quảng đại
thâm như hải
Nội tâm thanh tịnh tuyệt
trần lao
Siêu quá vô biên ác thú môn
Tốc đáo Bồ Đề
cứu cánh ngạn
Vô minh, tham, sân, giai vĩnh
vô
Hoặc tận,
quá vong, tam-muội lực
Nguyện con
được tiếng Phật thanh tịnh
Pháp âm phổ cập
vô biên cơi
Tuyên
dương Giới, Định, Tinh Tấn môn
Thông đạt
thậm thâm vi diệu pháp
Trí huệ rộng
lớn sâu như biển
Nội tâm thanh
tịnh tuyệt trần lao
Vượt khỏi
vô biên ác thú môn
Mau đến bờ
Bồ Đề rốt ráo
Vô minh, tham, sân vĩnh
viễn dứt
Hoặc tận,
lỗi mất, tam-muội lực
Giải:
Hai câu đầu là tỳ-kheo Pháp Tạng nguyện
được đầy đủ hạnh đức lợi
tha như Phật: Nguyện được tiếng thanh tịnh
của Như Lai. “Thanh tịnh”
là không có lầm lỗi ác hạnh, ĺa phiền năo cấu
nhiễm th́ gọi là “thanh tịnh”.
Nguyện tôi được như Phật có thể phát ra
những pháp âm không lầm lỗi, không cấu nhiễm, trọn
khắp vô biên các giới.
Sách Đại Thừa Nghĩa Chương giảng chữ
“giới” (界) như sau: “Chia riêng biệt ra gọi là Giới.
Tánh các pháp riêng biệt nên gọi là Giới”. Như vậy,
Giới có nghĩa là “sai biệt”. Mỗi thứ sự vật
tự duy tŕ tướng của nó, tướng sai biệt
nhưng chẳng hỗn độn th́ là Giới, chẳng
hạn như ta thường nói: “Các giới nhân sĩ”. Do chữ Giới có nhiều
nghĩa như vậy nên câu “phổ
cập vô biên giới” có nghĩa là phổ biến khắp
hết thảy.
Câu kệ thứ ba: “Tuyên
dương Giới, Định, Tinh Tấn môn” trích từ
bản Tống dịch. Câu kệ này trong bản Đường
dịch được ghi là: “Diễn
thuyết Thí Giới chư pháp môn, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn
cập Định, Huệ” (Diễn thuyết các pháp
môn: Thí, Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Định và Huệ).
Bản Đường dịch nói rơ Lục Độ: Bố
Thí, Tŕ Giới, Tinh Tấn, Thiền Định, Bát Nhă. Bản
Hán dịch cũng chép như vậy, bản Tống dịch
ghi giản dị hơn là ba độ: Giới, Định,
Tinh Tấn. Ba Độ này là cốt lơi cùng bao hàm cả ba
thứ kia.
Câu kế tiếp: “Thông
đạt thậm thâm vi diệu pháp” nói đến pháp
rất sâu vô thượng được mười
phương chư Phật khen ngợi, đó là Tŕ Danh Niệm
Phật. Tỳ-kheo Pháp Tạng nguyện đạt
được pháp âm như Phật, rộng tuyên các diệu
hạnh như Lục Độ v.v... là muốn cho chúng sanh
thông đạt pháp vi diệu rất sâu sau đây: “Tâm này là Phật, tâm này làm Phật”,
hiểu rơ bản tâm của chính ḿnh, thấu hiểu bản
tánh của ḿnh, đều sẽ thành Phật độ
sanh cả.
Bốn câu đầu của phần kệ tụng này
là lời mong cầu Giác Tha Đức, sáu câu tiếp theo là ư
mong cầu Tự Giác Đức. Trước hết cầu
pháp âm được tuyên lưu, sau cầu trí huệ rộng
như biển, đạt thẳng đến bờ kia rốt
ráo.
“Trí huệ” là Bát Nhă, Trí Độ
Luận nói: “Bát Nhă: Hán dịch
là Trí Huệ. Trong hết thảy các thứ trí huệ, Bát
Nhă là bậc nhất, vô thượng, không ǵ sánh, không chi bằng,
không có ǵ hơn được nổi”. Sách Văng Sanh Luận
Chú cũng viết: “Bát Nhă là tên
gọi của cái trí huệ đă đạt Như”, nghĩa
là: Trí huệ thông đạt được Chân Như gọi
là Bát Nhă. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương lại giảng:
“Thể của Chân Như sáng tỏ,
tự tánh chẳng tối tăm, nên gọi là Huệ”,
nghĩa là: Bản thể của Chân Như sáng tỏ, tự
tánh rạng ngời, sáng suốt không chút tối tăm, nên
ta gọi đó là Huệ.
Trong phần phát nguyện được tự giác của
kệ tụng, trước tiên, nói ngay đến Trí Huệ
v́ Trí Huệ là tối thượng. Hơn nữa, chỉ
dùng trí mới vượt nổi biển cả Phật
pháp, như bản Hán dịch chép: “Đàn Thí điều phục
ư, Nhẫn, Giới, cập Tinh Tấn, như thị tam-muội
định, trí huệ vi thượng tối” (Đàn Thí, điều phục
ư. Giới, Nhẫn và Tinh Tấn. Tam-muội định
như thế, trí huệ là tối thượng). Ngài Gia
Tường giảng: “Thấu
hiểu năm Độ mới là hạnh, chưa thể
thoát khỏi sanh tử; cần phải do trí huệ thấu
đạt cội nguồn mới có thể giải thoát.
Do đó, trí huệ là tối thượng”. Theo như
câu văn trong Đại Thừa Nghĩa Chương vừa
trích dẫn ở trên, ta thấy rằng Trí Huệ chính là bản
thể của chân tâm sáng tỏ, tự tánh không tối
tăm. V́ vậy, ngay khi Trí Huệ đă sâu rộng như
biển th́ nội tâm ắt cũng phải thanh tịnh,
không ác, không lỗi, ly cấu, ly nhiễm, dứt sạch
các trần lao nên mới bảo: “Nội
tâm thanh tịnh tuyệt trần lao” như Tâm kinh đă
dạy: “Hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến
Ngũ Uẩn giai không, độ nhất thiết khổ
ách” (Lúc thực hành
Bát Nhă Ba La Mật Đa một cách sâu xa, soi thấy năm
Uẩn đều là không, vượt khỏi hết thảy
khổ ách).
“Tuyệt” (絕) có nghĩa là dứt,
diệt, hoàn toàn không c̣n nữa. “Trần
lao” là phiền năo. Do các phiền năo tham, sân, si… như bụi
bặm (trần cấu) che lấp chân tánh khiến thân tâm mệt
nhọc, năo loạn, nên ta gọi phiền năo là “trần lao”.
Do trí huệ sâu rộng, thanh tịnh tuyệt trần
như vậy, nên có thể vượt khỏi vô biên vô số
các nẻo ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh, chẳng
đọa trong ba đường ác, nên nói: “Siêu quá vô biên ác thú môn” (Vượt khỏi vô biên ác thú môn) và nhanh chóng
đạt đến bờ kia Bồ Đề rốt ráo. Bồ
Đề là Giác. “Bồ
Đề cứu cánh ngạn” (Bờ Bồ Đề rốt ráo)
chính là Cứu Cánh Giác. Sách Tam Tạng Pháp Số giảng:
“Cứu Cánh nghĩa là quyết
định, chung cực, nghĩa là: Hiểu rơ ràng nguồn
gốc của cái tâm cấu nhiễm đến mức cùng
tột, rốt ráo th́ tâm ấy chính là Bổn Giác, nên ta gọi
đó là Cứu Cánh Giác”. Đấy chính là sự giác ngộ
đến cùng tột, trọn vẹn nhất của bậc
Bồ Tát đại hạnh viên măn, tức là đă thành Phật
vậy.
V́ muốn
thoát khỏi sanh tử, trước hết tỳ-kheo Pháp Tạng
cầu trí huệ. Do trí huệ chiếu soi, nội tâm thanh
tịnh sạch hết trần lao, ngay khi ấy, đóng lấp
các nẻo ác, nhanh chóng chứng được Quả Giác cứu
cánh. Do đó, Ngài bảo: “Tốc
đáo Bồ Đề cứu cánh ngạn” (Mau đến bờ
Bồ Đề rốt ráo). Chữ “ngạn”
ở đây là “bờ kia” (bỉ
ngạn). Sanh tử là bờ bên này (thử ngạn), Niết
Bàn là bờ bên kia. “Cứu cánh
ngạn” (bờ cứu cánh) là địa vị Niết
Bàn cứu cánh.
“Vô minh” là tên khác của
Si. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương viết: “Thể của cái tâm bị si ám
là v́ không có trí huệ sáng suốt, nên gọi là vô minh”. Vô
minh, tham, và sân là Tam Độc. Do trí huệ đạt
đến bờ kia, lại do sức tam-muội nên vĩnh
viễn không c̣n Tam Độc, Tam Hoặc (Kiến Tư, Trần
Sa và Vô Minh) đều hết sạch, bao lỗi lầm
đều chẳng c̣n.
“Tam-muội” c̣n gọi là
Chánh Định, Chánh Thọ, Đẳng Tŕ. Sách Thám Huyền Kư,
quyển ba giảng: “Tam-muội,
Hán dịch là Đẳng Tŕ. V́ chẳng ch́m nổi, v́ trí huệ
b́nh đẳng nên gọi là Đẳng. Do tâm chẳng tán loạn,
trụ vào một cảnh nên gọi là Tŕ”. Trong các tam-muội
chỉ có Niệm Phật tam-muội là cao quư nhất
như vị vua, quư nhất như của báu, nên kinh Đại
Tập gọi Niệm Phật tam-muội là Bảo
Vương tam-muội. “Tam-muội”
được nói trong bài kệ tụng ở đây chính
là Niệm Phật tam-muội. Sau chữ “tam-muội” lại thêm chữ “lực” để biểu thị các đức lớn
lao như trên đều xuất phát từ sức Niệm
Phật tam-muội nên nói: “Vô
minh, tham, sân giai vĩnh vô, Hoặc tận, quá vong, tam-muội
lực” (Vô minh, tham, sân đều vĩnh viễn dứt.
Hoặc tận, lỗi mất, tam-muội lực).
Sáu câu phát nguyện này lấy trí huệ để mở
đầu, lấy Bảo Vương tam-muội và Giới,
Định, Huệ v.v… để kết thúc, thật là ư chỉ
sâu xa vậy.
Chánh kinh:
亦 如 過 去 無 量 佛
為 彼 羣 生 大 導 師
能 救 一 切 諸 世 間
生 老 病 死 眾 苦 惱
常 行 布 施 及 戒 忍
精 進 定 慧 六 波 羅
未 度 有 情 令 得 度
已 度 之 者 使 成 佛
假 令 供 養 恆 沙 聖
不 如 堅 勇 求 正 覺
Diệc như quá khứ vô
lượng Phật
Vị bỉ quần sanh đại
đạo sư
Năng cứu nhất thiết
chư thế gian
Sanh lăo bệnh tử chúng khổ
năo
Thường hành Bố Thí cập
Giới, Nhẫn
Tinh Tấn, Định, Huệ,
lục Ba La
Vị độ hữu t́nh
linh đắc độ
Dĩ độ chi giả, sử
thành Phật
Giả linh cúng dường hằng
sa thánh
Bất
như kiên dũng cầu Chánh Giác
Cũng như
vô lượng Phật quá khứ
Làm đại
đạo sư cho quần sanh
Cứu độ
hết thảy các thế gian:
Sanh, lăo, bịnh,
tử... các khổ năo
Thường
hành Bố Thí và Giới, Nhẫn,
Tinh Tấn, Định,
Huệ, sáu Ba La
Hữu t́nh
chưa độ khiến được độ
Kẻ đă
được độ, khiến thành Phật
Giả sử
cúng dường hằng sa thánh
Chẳng bằng
kiên dũng cầu Chánh Giác.
Giải:
Đoạn kệ
phát nguyện trên đây diễn tả ư mong cầu đức
Giác Tha của Phật.
Ư của bốn
câu đầu là tỳ-kheo Pháp Tạng nguyện được
như hết thảy vô lượng chư Phật trong quá
khứ: Làm đại đạo sư cho hết thảy hữu
t́nh, dẫn dắt chúng sanh ĺa khổ được vui, từ
mê được ngộ, thoát biển sanh tử, nhập
Phật tri kiến, lại dùng các thứ phương tiện
khiến hết thảy chúng sanh được sức vô
úy. V́ thế, Ngài nói: “Năng cứu
nhất thiết chư thế gian, sanh lăo bệnh tử
chúng khổ năo” (Cứu độ hết thảy các thế
gian, sanh, lăo, bịnh, tử... các khổ năo).
Nói một cách thô thiển, Dục giới, Sắc giới,
Vô Sắc giới là “chư thế
gian”. Tam giới chẳng an ví như nhà lửa, đều
thuộc trong biển sanh tử nên nguyện cứu độ.
Nói ở mức độ cao hơn, ngay cả những vị
ở bậc Địa Tiền vẫn c̣n thuộc thế
gian, vô minh chưa dứt, nên cũng cần phải độ
thoát họ. Bốn câu từ chữ “thường hành Bố Thí” trở đi nói đến
bổn nguyện đại bi vô tận của Pháp Tạng
Bồ Tát: Nguyện thường hành Lục Độ phổ
độ chúng sanh.
Phẩm Phổ
Hiền Hạnh Nguyện chép: “
“Lục Ba La” tức là Lục Độ, là chánh nhân để
chứng Niết Bàn. Nguyện hành Lục Độ chính là: “Pháp môn vô biên thệ nguyện học”
và “Phật đạo vô thượng
thệ nguyện thành”. Hơn nữa, Bố Thí trị
được keo tham, Tŕ Giới trị phá giới, Nhẫn
Nhục trị nóng giận, Tinh Tấn trị biếng trễ,
Thiền Định trị tán loạn, Trí Huệ trị ngu
si. Thường hành Lục Độ th́ chính là “phiền năo vô biên thệ nguyện đoạn”. Tự
giác, giác tha là dùng sự giác ngộ của chính ḿnh để
giác ngộ khắp các chúng sanh, dùng hạnh của chính ḿnh
để dẫn dắt chúng sanh, đem đức của
chính ḿnh hồi hướng cho chúng sanh. Đấy chính là “chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ”. Do vậy, trong kệ tụng có câu: “Vị độ hữu t́nh
linh đắc độ, dĩ độ chi giả, sử
thành Phật” (Hữu t́nh chưa độ khiến
được độ, kẻ đă được
độ khiến thành Phật). Cứu vớt, gánh vác cho
họ đều đạt tới “bỉ ngạn”. Bốn
câu kệ này đă chứa trọn ư nghĩa Tứ Hoằng
Thệ Nguyện.
Trong hai câu “giả linh
cúng dường hằng sa thánh, bất như kiên dũng cầu
Chánh Giác” (giả sử
cúng dường hằng sa thánh, chẳng bằng kiên dũng
cầu Chánh Giác), chữ “hằng
sa” chỉ cát trong con sông Hằng của Ấn Độ. Do sông Hằng
lắm cát, đại chúng ai cũng thấy rơ như vậy,
nên Phật thường dùng cát sông Hằng làm thí dụ. Ư
nghĩa của hai câu kệ trên là: Giả sử cúng dường
chư Phật nhiều như số cát của sông Hằng
“chẳng bằng cầu Chánh
Giác một cách kiên cố, dũng mănh, chẳng khiếp
nhược”. Đoạn kinh này giống hệt như ư nghĩa
của đoạn kinh sau đây trong phẩm Phổ Hiền
Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm:
“Thiện nam tử! Chư cúng dường
trung, pháp cúng dường tối. Sở vị: Như thuyết
tu hành cúng dường, lợi ích chúng sanh cúng dường,
nhiếp thọ chúng sanh cúng dường, đại chúng
sanh khổ cúng dường, cần tu thiện căn cúng
dường, bất xả Bồ Tát nghiệp cúng dường,
bất ly Bồ Đề tâm cúng dường.
Thiện nam tử! Như tiền cúng
dường vô lượng công đức, tỷ pháp cúng
dường nhất niệm công đức, bách phần bất
cập nhất, thiên phần bất cập nhất, bách
thiên câu-chi na-do-tha phần, ca-la phần, toán phần, số
phần, dụ phần, ưu-ba-ni-sa-đà phần diệc
bất cập nhất. Hà dĩ cố? Dĩ chư Như
Lai tôn trọng pháp cố. Dĩ như thuyết hành xuất
sanh chư Phật cố. Nhược chư Bồ Tát hành
pháp cúng dường, tắc đắc thành tựu cúng
dường Như Lai. Như thị tu hành, thị chân cúng
dường cố”
(Này thiện nam
tử! Trong các loại cúng dường, pháp cúng dường
là bậc nhất. Pháp cúng dường là: Cúng dường bằng
cách tu hành đúng như lời dạy, cúng dường bằng
cách lợi ích chúng sanh, cúng dường bằng cách nhiếp
thọ chúng sanh, cúng dường bằng cách chịu khổ
thay cho chúng sanh, cúng dường bằng cách siêng tu các
căn lành, cúng dường bằng cách chẳng bỏ Bồ
Tát nghiệp, cúng dường bằng cách chẳng rời Bồ
Đề tâm.
Này thiện nam tử! Công đức của vô lượng
các thứ cúng dường trước đó (ư nói cúng
dường bằng tài vật) đem so với công đức
của pháp cúng dường dẫu trong một niệm th́
chẳng bằng được một phần trăm, một
phần ngàn [cho đến] cũng chẳng bằng nổi
một phần trăm ngàn câu-chi na-do-tha, ca-la phần, toán
phần, số phần, dụ phần, ưu-bà-ni-sa-đà
phần.
V́ sao vậy? V́ các đức Như Lai tôn trọng pháp,
do tu hành đúng như lời dạy sẽ sanh ra chư Phật.
V́ nếu các Bồ Tát thực hành pháp cúng dường th́
chính là thành tựu việc cúng dường Như Lai. V́ tu
hành như thế mới là cúng dường chân chánh).
V́ “kiên dũng cầu Chánh
Giác” (kiên cố, dũng mănh cầu Chánh Giác) chính là pháp cúng
dường, là cúng dường chân chánh, là bậc nhất
trong các cách cúng dường, nên cầu Chánh Giác vượt
xa cúng dường hằng sa chư thánh bằng các tài vật
khác.
Trong đoạn kinh Hoa Nghiêm trên đây, “câu-chi” là một ngàn vạn, “na-do-tha” là vạn vạn, những con số nói kế
tiếp đó càng lớn hơn nữa. Dẫu đem cả
đại địa nghiền nát thành vi trần th́ con số
“ưu-bà-ni-sa-đà” vẫn
c̣n lớn hơn số vi trần ấy nữa. Công đức
của pháp cúng dường ví như số vi trần trong
toàn bộ quả địa cầu, c̣n công đức của
tài cúng dường chưa bằng một hạt bụi nhỏ,
làm sao sánh nổi với tất cả số vi trần của
địa cầu. Đấy chính là lời khen chi tiết về
công đức chẳng thể nghĩ bàn của pháp cúng
dường vậy.
Câu kệ “bất
như kiên dũng cầu Chánh Giác” (chẳng bằng kiên dũng cầu Chánh Giác)
chỉ rơ công đức “kiên cố,
dũng mănh cầu Chánh Giác” của Bồ Tát Pháp Tạng
vượt xa công đức cúng dường hằng sa
chư thánh.
Chánh kinh:
願 當 安 住 三 摩 地
恆 放 光 明 照 一 切
感 得 廣 大 清 淨 居
殊 勝 莊 嚴 無 等 倫
輪 迴 諸 趣 眾 生 類
速 生 我 剎 受 安 樂
常 運 慈 心 拔 有 情
度 盡 無 邊 苦 眾 生
Nguyện đương an trụ tam-ma-địa
Hằng phóng quang minh chiếu
nhất thiết
Cảm đắc quảng
đại thanh tịnh cư
Thù thắng trang nghiêm vô đẳng
luân
Luân hồi chư
thú chúng sanh loại
Tốc sanh ngă sát thọ an lạc
Thường vận từ tâm
bạt hữu t́nh
Độ tận vô biên khổ
chúng sanh
Nguyện sẽ
an trụ tam-ma-địa
Luôn phóng quang
minh chiếu hết thảy
Cảm
được chốn thanh tịnh, rộng lớn
Trang nghiêm thù thắng
không chi sánh
Các chúng sanh luân
hồi các nẻo
Chóng sanh cơi tôi
hưởng an lạc
Thường vận
từ tâm cứu hữu t́nh
Độ hết
vô biên chúng sanh khổ
Giải:
Tám câu trên đây chính là lời nguyện cầu thành Phật,
nhiếp thủ Tịnh Độ. Tám câu này thật đúng là
chỗ quy kết của toàn bộ các nguyện trên, cũng
chính là cốt lơi của bốn mươi tám nguyện sẽ
được thuật trong phần sau của chánh kinh.
Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện chép: “Nhược
chư Bồ Tát dĩ đại bi thủy nhiêu ích chúng
sanh, tắc năng thành tựu A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề. Thị cố Bồ Đề thuộc
ư chúng sanh” (Nếu các Bồ
Tát dùng nước Đại Bi làm lợi ích chúng sanh th́ có
thể thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. V́
vậy, Bồ Đề thuộc về chúng sanh). Để làm
phương tiện rốt ráo hầu thành tựu sự
nghiệp độ sanh nên Ngài phát đại nguyện nhiếp
thủ cơi Tịnh Độ.
Trong hai câu: “Nguyện
đương an trụ tam-ma-địa,
hằng phóng quang minh chiếu nhất thiết” (Nguyện sẽ an trụ tam ma địa, luôn
phóng quang minh chiếu hết thảy), “tam-ma-địa” chính là tam-muội hay Chánh Định.
Nguyện an trụ trong Chánh Định, thường phóng quang
minh chiếu trọn hết thảy. Nói cách khác, câu trên là
nói về Tịch, về Thể; câu dưới nói về
Chiếu, về Dụng. Hai câu kệ ngụ ư diệu
đức: Định Huệ đẳng tŕ, Tịch Chiếu
đồng thời, Thể - Dụng bất nhị.
Phóng quang là Tu Đức, Thể của nó là Tánh Đức:
Tịch mà thường Chiếu, Chiếu nhưng luôn Tịch.
Cơi nước là Thường Tịch Quang, thân là Vô Lượng
Thọ, Vô Lượng Quang Như Lai, cho nên an trụ tịch
định, luôn phóng quang minh chiếu khắp hết thảy.
Do vậy, cảm được cơi Phật rộng lớn,
thanh tịnh.
Chữ “cư”
(居, tạm dịch là “chốn”) trong câu “cảm đắc quảng
đại thanh tịnh cư” (cảm được nơi chốn thanh tịnh, rộng
lớn) chỉ quốc độ. Chữ “quảng đại” (rộng
lớn) chỉ cơi nước “khoan
quảng b́nh chánh, bất khả hạn cực” (rộng
răi, bằng phẳng, chẳng có hạn lượng)
được nói trong kinh. “Thanh
tịnh” là “thanh tịnh
trang nghiêm, siêu du thập phương” (thanh tịnh trang
nghiêm, vượt trội mười phương). Do vậy,
bảo là “quảng đại
thanh tịnh cư” (chốn thanh tịnh rộng lớn).
Luận Văng Sanh bảo ba thứ trang nghiêm vào trong một
pháp cú mà một pháp cú là thanh tịnh cú. Thanh tịnh cú là
“chân thật trí huệ vô vi Pháp Thân”. Vô vi Pháp Thân là Thể,
từ Thể hiện ra y báo, chánh báo trang nghiêm của cơi Cực
Lạc, nên nói: “Cảm
đắc quảng đại thanh tịnh cư, thù thắng
trang nghiêm vô đẳng luân” (Cảm
được chốn thanh tịnh, rộng lớn, trang
nghiêm thù thắng không chi sánh). “Vô
đẳng luân” nghĩa là không ǵ bằng được
nổi, không ǵ so sánh nổi. Bản Ngụy dịch lại
chép rằng: “Đạo tràng siêu
tuyệt”. “Siêu tuyệt”
là thù thắng, ư nghĩa cũng tương tự.
Gia Tường
Sớ ghi: “Tu đạo nhanh
chóng thành Phật nên bảo là siêu tuyệt”. Một lời
của đại sư Gia Tường đă mở toang chỗ
siêu việt thù thắng của Tịnh tông: Nhanh chóng thành Phật,
phàm phu văng sanh chứng ngay Bất Thoái; có Bất Thoái mới
mau chóng thành Phật được. Do phương tiện
thù thắng nên phổ nguyện: “Luân hồi
chư thú chúng sanh loại, tốc sanh ngă
sát thọ an lạc” (Các chúng sanh luân hồi các nẻo, mau sanh
cơi tôi hưởng an lạc). Sự an lạc ấy mới
là an lạc chân thật. Nhanh chóng thoát khỏi sanh tử,
chóng thành Chánh Giác nên bảo là “an
lạc”.
Kinh Xưng Tán Tịnh Độ lại dạy: “Vị chư hữu
t́nh tuyên thuyết thậm thâm vi diệu chi pháp, linh đắc
thù thắng lợi ích an lạc” (V́ các hữu t́nh tuyên thuyết pháp thậm thâm
vi diệu để họ được lợi ích an vui
thù thắng). Kinh c̣n chép: “Vô hữu nhất thiết thân tâm ưu khổ, duy hữu
vô lượng thanh tịnh hỷ lạc. Thị cố
danh vi Cực Lạc thế giới” (Chẳng có hết thảy khổ
năo nơi thân tâm, chỉ có vô lượng hỷ lạc
thanh tịnh. V́ vậy, gọi là thế giới Cực Lạc).
Do những điều trên, kệ nói: “Thọ an lạc” (Hưởng an lạc) vậy.
Những điều vừa tŕnh bày trên chính là ư nghĩa thật
sự của câu kinh: “Huệ dĩ
chân thật chi lợi” (Ban cho cái lợi chân thật).
“Thường vận từ tâm
bạt hữu t́nh, độ tận vô biên khổ chúng sanh”
(Thường vận từ tâm cứu
hữu t́nh, độ tận vô biên chúng sanh khổ): Từ
là ban vui, Bi là dẹp khổ. Hai câu trên thể hiện hoằng
thệ đại từ đại bi của ngài Pháp Tạng:
Nguyện thường v́ hết thảy chúng sanh dẹp khổ,
ban vui đến tột cùng đời vị lai; cứu vớt,
gánh vác độ hết sạch chúng sanh xong mới thành
Chánh Giác.
“Thường” (常) là nói về thời
gian. Quá khứ, vị lai, hiện tại được gọi
là “tam tế” (Tế (際) là bờ mé,
giai đoạn). Thường là tính theo chiều dọc, tột
cùng cả tam tế, bao quát hết thảy thời gian quá
khứ, hiện tại lẫn vị lai.
“Vô biên” là nói về
không gian, trọn khắp cả mười phương
hư không, tức là theo chiều ngang bao trọn hết thảy
mười phương, bao quát hết thảy không gian nên
vô biên, mười phương tam thế vô lượng vô
biên.
Pháp Tạng Bồ Tát trong hết thảy thời, hết
thảy chỗ, đại từ, đại bi độ
thoát chúng sanh măi cho đến khi độ xong tất cả
mới ngưng nghỉ, nhưng thời gian vô cùng tận,
không gian vô cùng tận, chúng sanh cũng vô cùng tận, nên
đại từ, đại bi, đại nguyện, đại
hạnh cũng vô cùng tận.
Chánh kinh:
我 行 決 定 堅 固 力
唯 佛 聖 智 能 證 知
縱 使 身 止 諸 苦 中
如 是 願 心 永 不 退
Ngă hạnh quyết định
kiên cố lực
Duy Phật thánh trí năng chứng
tri
Túng sử thân chỉ chư khổ trung
Như thị nguyện tâm vĩnh
bất thoái
Hạnh
tôi: sức quyết định, kiên cố
Chỉ
Phật thánh trí chứng biết được
Dẫu
thân tôi trụ trong các khổ
Nguyện tâm
như thế măi chẳng thoái
Giải:
Bổn nguyện được chia thành ba đoạn
lớn: Đoạn đầu là tán thán Phật, đoạn
kế là phát nguyện, bốn câu sau cùng này thỉnh Phật
chứng minh. Tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện xong, liền
thỉnh đức Thế Tự Tại Vương
Như Lai chứng minh.
“Ngă” (Tôi) là tiếng
Pháp Tạng tự xưng. Hạnh nguyện của tôi vốn
sẵn đủ sức kiên cố quyết định, chỉ
có đức Phật Thế Tôn là đấng đă viên măn
ba giác, ngũ nhăn rạng ngời, trí huệ vô ngại mới
có thể chân thật chứng minh cho tôi, nên nói: “Duy Phật thánh trí năng chứng
tri” (Chỉ Phật thánh trí chứng
biết được).
Hơn nữa, khi ngài Pháp Tạng phát nguyện th́ đă
thuộc về cảnh giới rất sâu của bậc Địa
Thượng Bồ Tát nên những người khác chẳng
thể thấu hiểu nổi, chỉ có thánh trí của Phật
mới có thể chứng biết nổi. Điểm này chứng
tỏ Đại Sĩ Pháp Tạng diệu đức khó thể
lường nổi.
Hai câu kệ cuối cùng chính là kết thệ để
lập tâm. Bản Đường dịch ghi: “Túng trầm Vô Gián chư địa ngục, như
thị nguyện tâm chung bất thoái” (Dẫu ch́m trong các
ngục Vô Gián, nguyện tâm như vậy trọn chẳng
thoái). Địa ngục Vô Gián khổ sở vô hạn, bản
Đường dịch lấy nỗi khổ nặng nề
nhất trong Vô Gián để chỉ chung tất cả các nỗi
khổ khác. Trong bản hội tập, ngài Pháp Tạng thề
rằng: “Túng sử
thân chỉ chư khổ trung” (Dẫu cho thân trụ trong các khổ) v́ chữ “khổ”
dĩ nhiên đă gồm cả cái khổ địa ngục.
Thề rằng: Dẫu đọa vào địa ngục
th́ hạnh nguyện trên đây của tôi cũng chẳng bị
thoái chuyển, minh thị rơ điều được nói
trong câu kệ ngay trước đó: “Ngă hạnh quyết định kiên cố
lực” (hạnh tôi: sức
quyết định, kiên cố).
Sách Hội Sớ cũng giảng: “Nếu chỉ có nguyện th́ nguyện ấy là
hư dối; nếu chỉ có hạnh, hạnh ấy cũng
luống uổng. V́ vậy, nguyện hạnh phải hỗ
trợ nhau th́ việc làm (tu hành) mới thành tựu”.