47. Phước Huệ Thỉ Văn (福 慧 始 聞 -
Phước huệ
mới được nghe)
Sau khi đức Thế Tôn nói trường hàng xong, Ngài
bèn dùng kệ tụng để trùng tuyên ư trước.
Trong phần kệ tụng này, Ngài lại nhắc lại
điều sai, lẽ đúng, bác cái sai, đề cao cái
đúng. Trong phần chỉ rơ cái đúng, lại gồm có
ba phần: Một là tin vào văng sanh; hai là Phật trí khó
nghĩ lường; ba là niệm Phật đắc độ.
Chánh kinh:
爾 時 世 尊 而 說 頌 曰:
若 不 往 昔 修 福 慧
於 此 正 法 不 能 聞
已 曾 供 養 諸 如 來
則 能 歡 喜 信 此 事
惡 驕 懈 怠 及 邪 見
難 信 如 來 微 妙 法
譬 如 盲 人 恆 處 闇
不 能 開 導 於 他 路
Nhĩ
thời, Thế Tôn nhi thuyết tụng viết:
Nhược
bất văng tích tu phước huệ,
Ư
thử chánh pháp bất năng văn,
Dĩ
tằng cúng dường chư Như Lai,
Tắc
năng hoan hỷ tín thử sự,
Ác
kiêu giải đăi cập tà kiến,
Nan
tín Như Lai vi diệu pháp,
Thí
như manh nhân hằng xử ám,
Bất
năng khai đạo ư tha lộ.
Lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn bèn nói kệ tụng:
- Xưa kia nếu
chẳng tu phước huệ
Th́ chẳng
được nghe chánh pháp này
Đă từng cúng
dường các Như Lai
Mới hoan hỷ
tin nổi sự này
Ác, kiêu, biếng
nhác và tà kiến
Khó tin Như Lai
vi diệu pháp
Như kẻ
đui ở măi trong tối
Chẳng thể
chỉ đường cho kẻ khác
Giải:
Bốn câu đầu thể hiện ư nghĩa tên phẩm
này “phước huệ thỉ
văn” (phước huệ mới được nghe). Đây cũng chính là như trong
kinh đă dạy: “Đương
hữu chúng sanh, thực chư thiện bổn, dĩ tằng
cúng dường vô lượng chư Phật, do bỉ
Như Lai gia oai lực cố, năng đắc như thị
quảng đại pháp môn, nhiếp thủ thọ tŕ” (Nếu
có chúng sanh trồng các cội lành, đă từng cúng dường
Vô Lượng Thọ Phật, do oai lực của đức
Như Lai ấy gia bị nên mới được pháp môn
rộng lớn như thế này nhiếp thủ, thọ tŕ).
“Thực chư thiện bổn”
(Trồng
các cội lành) trong đoạn kinh trên đây chính là “văng tích tu phước huệ” (xưa
kia tu phước huệ). Nếu trước đă chẳng
tu sẽ “ư thử chánh pháp
bất năng văn” (chẳng được nghe chánh
pháp này).
“Dĩ tằng cúng dường
chư Như Lai” (Đă từng cúng dường các Như Lai)
chính là như trong đoạn kinh trên nói: “Dĩ tằng cúng dường vô lượng chư
Phật” (Đă từng cúng dường vô lượng
chư Phật). Người như vậy rộng tu cội
lành, lại được oai lực của đức
Như Lai gia bị nên “tắc
năng hoan hỷ tín thử sự” (th́ mới có thể
hoan hỷ tin tưởng chuyện này).
Kinh Kim Cang nói: “Như Lai diệt
hậu, hậu ngũ bách tuế, hữu tŕ giới tu
phước giả, ư thử chương cú năng sanh
tín tâm, dĩ thử vi thực, đương tri thị
nhân, bất ư nhất Phật, nhị Phật, tam tứ
ngũ Phật nhi chủng thiện căn, dĩ ư vô
lượng thiên vạn Phật sở chủng chư thiện
căn” (Sau khi Như Lai diệt độ, năm
trăm năm sau đó có kẻ tŕ giới, tu phước,
đối với chương cú này mà sanh nổi ḷng tin,
coi đó là thật th́ nên biết là người ấy chẳng
phải đă gieo trồng thiện căn ở nơi một
đức Phật, hai đức Phật, ba, bốn,
năm đức Phật, mà là đă từng ở nơi
vô lượng trăm vạn đức Phật gieo các
căn lành). V́ thế,
người nghe được pháp môn Tịnh Độ tối
cực viên đốn, phương tiện rốt ráo này,
nghe xong hoan hỷ tin nhận th́ là đă từng tu phước,
tu huệ, trồng các căn lành nơi vô lượng Phật.
Trái lại, hết thảy những kẻ ác trược,
kiêu mạn, biếng nhác và tà kiến sẽ chẳng thể
tin nổi pháp này; khác nào kẻ đui mù thường sống
trong bóng tối, tự ḿnh chẳng biết đường
th́ làm sao dẫn dắt người khác đi theo đường
chánh cho được!
Chánh kinh:
唯 曾 於 佛 植 眾 善
救 世 之 行 方 能 修
聞 已 受 持 及 書 寫
讀 誦 讚 演 并 供 養
如 是 一 心 求 淨 方
決 定 往 生 極 樂 國
假 使 大 火 滿 三 千
乘 佛 威 德 悉 能 超
Duy tằng ư Phật thực chúng thiện,
Cứu thế chi hạnh phương
năng tu,
Văn dĩ thọ tŕ cập thư tả,
Độc tụng, tán diễn, tịnh
cúng dường,
Như thị nhất tâm cầu tịnh
phương,
Quyết định văng sanh Cực Lạc
quốc,
Giả sử đại hỏa măn tam
thiên,
Thừa Phật oai đức tất
năng siêu.
Chỉ từng
nơi Phật gieo các thiện,
Th́ mới tu nổi
hạnh cứu đời
Nghe xong thọ
tŕ và biên chép
Đọc, tụng,
khen, giảng và cúng dường
Nhất tâm
như vậy cầu cơi tịnh
Quyết định
văng sanh cơi An Lạc.
Giả sử
đại hỏa trọn tam thiên
Nương oai
đức Phật vượt qua được
Giải:
Chỉ có hạng người đă từng ở
nơi vô lượng đức Phật trồng nhiều
cội lành lớn lao mới có thể tu tập hạnh cứu
độ khắp hết thảy thế gian này.
“Cứu thế chi hạnh” (hạnh cứu
đời) chính là như kinh này đă nói: Hết thảy
hàm linh trong đời tương lai đều nhờ vào
pháp này mà được độ thoát. Ai muốn tự cứu
và cứu khắp hết thế gian th́ đều phải
tu hạnh cứu độ thế gian đó. Cái hạnh ấy
chính là như đoạn kệ tiếp đó đă nói: “Văn dĩ thọ tŕ cập
thư tả” (Nghe rồi thọ tŕ và biên chép)… cho đến
“như thị nhất tâm cầu
tịnh phương” (nhất tâm như thế cầu
cơi tịnh).
Đoạn
trên là nói về việc nghe và tin kinh này, đoạn kệ
đây giảng rộng ư nghĩa: Từ nghe và tin hăy nên phát
khởi hạnh nguyện. “Thọ” (受) là tin nhận, “tŕ” (持) là ǵn giữ. Phụng hành đúng
theo lời dạy, phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên
niệm A Di Đà Phật. Đồng thời c̣n biên chép, đọc
tụng, khen ngợi, diễn nói, cúng dường kinh Vô
Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác
này. Đối với các thứ công đức thù thắng
nhiệm mầu như vậy đều dùng tâm chí thành, tâm
bất nhị để hồi hướng Tịnh Độ,
cầu sanh Cực Lạc nên bảo là “như thị nhất tâm cầu tịnh
phương” (nhất tâm như thế cầu cơi tịnh).
Phật liền thọ kư rằng: “Quyết định văng sanh Cực Lạc quốc” (Quyết
định văng sanh cơi Cực Lạc).
Hạng
người như thế lúc lâm chung “giả linh tam thiên đại thiên thế giới măn
trung đại hỏa, diệc năng siêu quá, sanh bỉ
sát quốc” (giả sử cả tam thiên đại thiên
thế giới đều ngập tràn đại hỏa vẫn
có thể vượt qua sanh về cơi ấy) cho nên mới
nói: “Giả sử đại hỏa
măn tam thiên, thừa Phật oai đức tất năng
siêu” (Giả sử đại hỏa trọn tam thiên,
nương oai đức Phật ắt sẽ vượt
qua được).
Chánh kinh:
如 來 深 廣 智 慧 海
唯 佛 與 佛 乃 能 知
聲 聞 億 劫 思 佛 智
盡 其 神 力 莫 能 測
如 來 功 德 佛 自 知
唯 有 世 尊 能 開 示
人 身 難 得 佛 難 值
信 慧 聞 法 難 中 難
Như Lai thâm quảng trí huệ hải,
Duy Phật
dữ Phật năi năng tri,
Thanh
Văn ức kiếp tư Phật trí,
Tận
kỳ thần lực mạc năng trắc,
Như
Lai công đức Phật tự tri,
Duy hữu
Thế Tôn năng khai thị,
Nhân
thân nan đắc, Phật nan trị,
Tín huệ
văn pháp nan trung nan.
Biển Như
Lai trí huệ rộng sâu
Chỉ Phật
với Phật mới biết nổi
Thanh Văn ức
kiếp suy Phật trí
Trọn hết
thần lực chẳng lường nổi
Như Lai công
đức Phật tự biết
Chỉ có Thế
Tôn khai thị nổi
Thân người
khó được, Phật khó gặp
Tín huệ nghe
pháp khó bậc nhất
Giải:
Đoạn này ư nói Phật trí sâu rộng chỉ có Phật
mới có thể biết được nổi, hiền
thánh Nhị Thừa đều chẳng thể suy lường
nổi, huống hồ phàm phu! V́ thế, ta phải nên bỏ
sạch mọi t́nh chấp, chỉ nên kính tin. Nay ta may mắn
có được phước huệ đầy đủ
nên mới được nghe pháp này th́ chớ luống uổng
dịp này!
Chữ “hải” (海) là h́nh ảnh
dùng để ví dụ; trí huệ của Như Lai sâu rộng
không bờ bến tựa như biển cả nên gọi
là “trí huệ hải”.
“Duy Phật dữ Phật
năi năng tri” (Chỉ có Phật với Phật biết
được nổi) là như trong phẩm Phương
Tiện kinh Pháp Hoa đă chép: “Phật
sở thành tựu đệ nhất hy hữu nan giải
chi pháp, duy Phật dữ Phật, năi năng cứu tận
chư pháp Thật Tướng” (Đối với pháp hy hữu khó hiểu bậc
nhất do đức Như Lai đă thành tựu th́ chỉ
có Phật với Phật mới có thể thấu hiểu
trọn vẹn Thật Tướng của các pháp) và: “Vô
lậu bất tư nghị, thậm thâm vi diệu pháp, ngă
kim dĩ cụ đắc, duy ngă tri thị tướng, thập
phương Phật diệc nhiên” (Vô lậu chẳng
nghĩ bàn, pháp vi diệu rất sâu, ta nay đă chứng trọn.
Ḿnh ta biết tướng này; thập phương Phật
cũng thế). Ta thấy là pháp vi diệu vô lậu, rất
sâu chẳng thể nghĩ bàn mà Phật đă thành tựu
và cứu cánh Thật Tướng của các pháp th́ chỉ
có Phật mới biết nổi mà thôi.
“Thanh Văn ức kiếp
tư Phật trí, tận kỳ thần lực mạc
năng trắc” (Thanh Văn trong ức kiếp suy nghĩ Phật
trí, trọn hết thần lực vẫn chẳng thể
lường nổi) là như trong kinh Pháp Hoa, phẩm
Phương Tiện đă nói: “Ngă
cập thập phương Phật, năi năng tri thị sự.
Thị pháp bất khả thị, ngôn từ tướng tịch
diệt, chư dư chúng sanh loại, vô hữu năng
đắc giải, dư chư Bồ Tát chúng, tín lực
kiên cố giả” (Ta cùng mười phương Phật
mới biết nổi việc này. Pháp này chẳng thể
chỉ bày, tướng ngôn từ tịch diệt. Các loài
chúng sanh khác không ai có thể hiểu được nổi,
chỉ trừ các vị Bồ Tát có tín lực kiên cố
[là có thể thấu hiểu]).
Kinh c̣n dạy: “Bích Chi Phật
lợi trí, vô lậu tối hậu thân, diệc măn thập
phương giới, kỳ số như trúc lâm, tư
đẳng cộng nhất tâm, ư ức vô lượng
kiếp, dục tư Phật thật trí, mạc năng
tri thiểu phần” (Bích Chi Phật trí lanh, thân tối hậu
vô lậu, cũng đầy mười phương cơi, số
đông như rừng trúc, bọn họ chung một ḷng,
trong ức vô lượng kiếp, muốn suy Phật thật
trí, chẳng thể biết chút phần).
Ư nói: Thật Trí của Phật chẳng thể dùng ngôn
ngữ để diễn tả nổi. Pháp ấy chẳng
thể chỉ bày được, chẳng giảng nói
được, ngoại trừ các vị Bồ Tát tín lực
kiên cố; c̣n ngoài ra những kẻ khác không cách nào thấu
hiểu nổi.
“Như Lai công đức Phật
tự tri” (Như Lai công đức Phật tự biết)
là như trong phẩm Thọ Lượng của kinh Pháp Hoa
đă nói:
“Nhất thiết thế
gian thiên nhân cập A Tu La, giai vị kim Thích Ca Mâu Ni Phật,
xuất Thích thị cung, khứ Già Da thành bất viễn, tọa
ư đạo tràng, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề. Nhiên thiện nam tử, ngă thật
thành Phật dĩ lai, vô lượng vô biên bách thiên kiếp
vạn ức na-do-tha kiếp. Thí như ngũ bách thiên vạn
ức na-do-tha A-tăng-kỳ tam thiên đại thiên thế
giới, giả sử hữu nhân mạt vi vi trần. Quá
ư Đông phương ngũ bách thiên vạn ức
na-do-tha A-tăng-kỳ quốc, năi hạ nhất trần.
Như thị Đông hành, tận thị vi trần.
Di Lặc Bồ Tát đẳng
câu bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Thị chư thế
giới, vô lượng vô biên, phi toán số sở tri, diệc
phi tâm lực sở cập. Nhất thiết Thanh Văn,
Bích Chi Phật, dĩ vô lậu trí, bất năng tư duy
tri kỳ hạn số. Ngă đẳng trụ A Duy Việt
Trí địa, ư thị sự trung, diệc bất sở
đạt. Thế Tôn! Như thị chư thế giới,
vô lượng vô biên.
Nhĩ thời, Phật cáo
đại Bồ Tát chúng: -
Di Lặc Bồ Tát v.v…đều bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn! Các thế giới ấy vô lượng,
vô biên, chẳng thể dùng toán số để biết nổi,
cũng chẳng thể dùng tâm lực để suy nổi.
Hết thảy Thanh Văn, Bích Chi Phật dùng vô lậu trí
cũng chẳng thể suy nghĩ biết nổi số hạn
ấy. Chúng con đă ở vào địa vị A Duy Việt
Trí mà đối với sự ấy vẫn chẳng thể
biết rơ. Bạch Thế Tôn! Các thế giới như vậy
vô lượng vô biên.
Lúc bấy giờ, Phật bảo các vị đại
Bồ Tát: - Các thiện nam tử! Ta nay phân minh bảo các
ông. Các thế giới ấy dù là có đặt một vi trần
hay chẳng đặt vi trần, cho đến hết số
vi trần ấy, cứ tính một vi trần là một kiếp
th́ từ khi ta thành Phật cho đến nay c̣n hơn số
đó cả trăm ngàn vạn ức na-do-tha A-tăng-kỳ
kiếp).
Kinh đă nói rơ: Đối với thọ lượng của
Phật th́ bậc Bổ Xứ Bồ Tát c̣n chưa thể
biết nổi, cho nên công đức của Phật chỉ
ḿnh Phật tự biết. Bởi thế tiếp theo
đó, Phật mới nói: “Duy hữu
Thế Tôn năng khai thị” (Chỉ có Thế Tôn khai thị
nổi). Khai thị chính là khai Phật tri kiến, thị
Phật tri kiến vậy.
Sáu câu kệ trên đây cực lực tán dương trí
huệ của Phật nhằm làm cho chúng sanh hiểu rơ trí
huệ sâu thẳm của Như Lai rồi thật sự
tin tưởng vào lời Phật dạy. Trong phẩm Thọ
Lượng [của kinh Pháp Hoa], đức Thế Tôn ba
lượt bảo đại chúng: “Nhữ đẳng đương tín giải Như
Lai thành đế chi ngữ” (Các ông nên tin hiểu lời
nói thành thật, đúng đắn của Như Lai). Đó là bởi
v́ dẫu trong suốt cả ức kiếp, hàng Thanh Văn
c̣n chẳng thể thấu hiểu nổi trí của
Như Lai, huống hồ là phàm phu lại há nên dùng cái tâm
sanh diệt để suy lường Phật trí một
cách hư vọng ư? V́ thế, chúng ta chỉ nên kính
ngưỡng, tin lời Phật dạy như phẩm
Phương Tiện trong kinh Pháp Hoa đă chép: “Ư Phật sở thuyết
pháp, đương sanh đại tín lực” (Với
pháp Phật đă thuyết, nên sanh đại tín lực).
Biển cả Phật pháp hễ tin th́ được vào.
“Nhân thân nan đắc” (Thân người
khó được) là như trong Tự Phần của kinh
Phạm Vơng đă nói: “Nhất
thất nhân thân, vạn kiếp bất phục” (Một
phen mất thân người, vạn kiếp khó có lại
được). Kinh Niết Bàn cũng dạy: “Nhân thân nan đắc như
Ưu Đàm hoa” (Thân người khó được
như hoa Ưu Đàm). Được thân người ít như
chút đất nơi móng tay, mất thân người nhiều
như đất nơi đại địa.
“Phật nan trị” (Phật khó gặp),
Trị (値) là gặp gỡ, như phẩm Thọ Lượng kinh Pháp Hoa
đă dạy: “Tỳ-kheo
đương tri, chư Phật xuất thế, nan khả
trị ngộ, sở dĩ giả hà? Chư bạc đức
nhân quá vô lượng bách thiên vạn ức kiếp hoặc
hữu kiến Phật, hoặc bất kiến giả.
Dĩ thử sự cố, ngă tác thị ngôn: -
Lại ngay khi đức Phật ngự trong thành
Vương Xá ở Ấn Độ mà chỉ có một phần
ba người dân trong thành ấy gặp được Phật.
Một phần ba số người chỉ nghe danh Phật
chứ không được thấy. Một phần ba c̣n lại
chẳng nghe danh, cũng chẳng gặp Phật, đủ
thấy gặp Phật là một sự khó.
“Tín huệ văn pháp nan
trung nan” (Tín huệ nghe pháp khó bậc nhất) chính là
như trong phần trên đă nói: “Nhược
văn tư kinh, tín nhạo thọ tŕ, nan trung chi nan, vô quá
thử nan” (Nếu nghe kinh này mà tin ưa, thọ tŕ th́
là điều khó nhất trong các điều khó, không c̣n ǵ
khó hơn nữa). Do huệ sanh giải cho nên nghe kinh liền
phải tin ưa. Thân người khó được, Phật
pháp khó nghe, Tịnh tông khó tin; điều khó được
nay ḿnh đă được, điều khó nghe nay đă
được nghe, điều khó tin nay ḿnh đă tin mà lại
c̣n hiểu biết được bằng trí huệ nữa
th́ thật là “nan trung chi nan” (điều
khó nhất trong các điều khó). Phật khuyên hành nhân nên
tin sâu, nguyện thiết, niệm Phật cầu sanh, chớ
để luống qua. Để lỡ qua dịp này thật
là điều mất mát lớn.
Chánh kinh:
若 諸 有 情 當 作 佛
行 超 普 賢 登 彼 岸
是 故 博 聞 諸 智 士
應 信 我 教 如 實 言
如 是 妙 法 幸 聽 聞
應 常 念 佛 而 生 喜
受 持 廣 度 生 死 流
佛 說 此 人 真 善 友
Nhược
chư hữu t́nh đương tác Phật,
Hạnh
siêu Phổ Hiền đăng bỉ ngạn,
Thị
cố bác văn chư trí sĩ,
Ưng
tín ngă giáo như thật ngôn,
Như
thị diệu pháp hạnh thính văn,
Ưng
thường niệm Phật nhi sanh hỷ,
Thọ
tŕ quảng độ sanh tử lưu,
Phật
thuyết thử nhân chân thiện hữu.
Nếu các hữu
t́nh sẽ thành Phật,
Hạnh vượt
Phổ Hiền lên bờ kia,
V́ thế, các bậc
trí học nhiều
Phải tin lời
ta dạy như thật.
Diệu pháp
như thế may được nghe
Nên thường
niệm Phật, sanh hoan hỷ
Thọ tŕ rộng
độ ḍng sanh tử
Phật bảo
người ấy chân thiện hữu
Giải:
Hai bài kệ trên đây tổng kết toàn bộ bản
kinh. Phẩm thứ hai của kinh này được đặt
tên là Đức Tuân Phổ Hiền và các vị Bồ Tát trong hội
“hàm cộng tuân tu Phổ Hiền
đại sĩ chi đức” (đều cùng tuân tu hạnh
đức của Phổ Hiền đại sĩ). Cuối
bản kinh lại nói: “Nhược
chư hữu t́nh đương tác Phật, hạnh siêu Phổ
Hiền đăng bỉ ngạn” (Nếu các hữu
t́nh sẽ thành Phật, hạnh vượt Phổ Hiền
lên bờ kia). Trước th́ nói “đức
tuân Phổ Hiền”, sao ở đây lại nói “hạnh siêu Phổ Hiền” nghĩa
là làm sao?
Câu “hạnh siêu Phổ Hiền”
trích nguyên văn từ bản Đường dịch. Dịch
giả của bản Đường dịch chính là ngài Tam Tạng
Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chí đời Đường. Phần
đầu của bản Đường dịch cũng ghi hội
chúng “hàm cộng tuân tu Phổ
Hiền chi đạo” (đều cùng tuân tu đạo
của Phổ Hiền), cho thấy ư “đức tuân Phổ Hiền” và “hạnh siêu Phổ Hiền” đều cùng phát xuất
từ bản Phạn, chứ chẳng phải là người
dịch ghi nhầm.
Chẳng những ngài Bồ Đề Lưu Chí không dịch
nhầm, mà đó c̣n chính là ḷng từ bi cùng cực của
đức Thế Tôn. Phật phơi trọn tâm can cho chúng
sanh được thấy: Phổ Hiền là bậc đại
hạnh Bồ Tát tượng trưng cho Sai Biệt Trí,
được gọi là Hoa Nghiêm Trưởng Tử, dùng
mười đại nguyện vương để dẫn
dắt về Cực Lạc. Nguyện mà được gọi
là “vương” th́ nguyện của ngài Phổ Hiền phải
rộng lớn không ngằn hạn, tột cùng vô tận kiếp,
dẫn dắt quy về Cực Lạc, cứu vớt, lợi
ích vô tận nên gọi là “đại nguyện
vương”. Bởi thế, thánh chúng đến dự pháp
hội này đều cùng tuân tu hạnh đức của
ngài Phổ Hiền.
Nhưng trong kinh đây, đức Thế Tôn lại
riêng dạy phương tiện bậc nhất trong các
phương tiện, hiển thị pháp viên đốn nhất
trong các pháp viên đốn, nêu thẳng một pháp Tín Nguyện
Tŕ Danh để gồm trọn lục độ vạn hạnh,
thâu tóm trọn vẹn mười đại nguyện
vương vào một câu danh hiệu, bao gồm trọn vẹn
vô biên hạnh môn của ngài Phổ Hiền quy về Nhất
Hạnh tam-muội của ngài Văn Thù.
Văn Thù tượng trưng cho Căn Bản Trí. Nhất
Hạnh tam-muội là “buộc
tâm nơi một đức Phật, chuyên xưng danh hiệu”.
Thế nên, một pháp Tŕ Danh đúng là đề-hồ, gồm
trọn các điểm mầu nhiệm. Phổ Hiền Đại
Nguyện Vương là từ Căn Bản Trí trở thành
Sai Biệt Trí. Nay thời gồm trọn nguyện
vương, chỉ xướng xuất Tín Nguyện Tŕ
Danh th́ đó là Sai Biệt Trí quay trở về Căn Bản
Trí, nghĩa là quay trở về gốc nên mới bảo là
“hạnh siêu Phổ Hiền”.
Diệu hạnh tŕ danh lấy Quả Giác làm cái tâm tu nhân;
nhân quả đồng thời, chẳng nhọc
phương tiện, chẳng cần theo thứ lớp, thật
đúng như sách Di Đà Yếu Giải nhận định:
“A Di Đà Phật dịch
nghĩa là vô lượng, vốn chẳng thể nói. Đức
Bổn Sư lấy hai nghĩa quang minh và thọ lượng
để thâu trọn hết
thảy những điều vô lượng. Quang minh thời
theo chiều ngang chiếu trọn mười phương,
thọ thời theo chiều dọc suốt cả ba đời.
Ngang dọc trọn khắp
chính là Thể của pháp giới. Toàn bộ cái Thể ấy
tạo thành thân và cơi nước của Phật Di Đà, mà toàn
bộ cái Thể ấy cũng tạo thành danh hiệu A Di
Đà. Bởi thế, danh hiệu A Di Đà chính là Bổn Giác lư
tánh của chúng sanh. Tŕ danh là Thỉ Giác hợp với Bổn
Giác. Thỉ Giác, Bổn Giác chẳng hai, chúng sanh và Phật chẳng hai. V́ thế, một
niệm tương ứng với một niệm Phật,
niệm niệm tương ứng với niệm niệm
Phật”.
Mười đại nguyện vương của Phổ
Hiền đại sĩ dẫn dắt về Cực Lạc
nên niệm niệm chính là Di Đà; nhưng mười đại
nguyện vương nghĩa lư sâu rộng, kẻ thường
nhân chẳng thể phát khởi được; c̣n một
pháp Tŕ Danh lại độ khắp ba căn. Ngũ Nghịch,
Thập Ác cũng đều có thể nương theo
đó để thoát khỏi sanh tử. Ví như người
trị được chứng bịnh chẳng thể trị
nổi th́ phải tôn là vua của các thầy thuốc; pháp
độ được cả kẻ cực ác th́ phải
nên xưng tụng là vua của các pháp lành. Bởi thế, mới
bảo pháp Tŕ Danh là “hạnh
siêu Phổ Hiền”. Tín nguyện tŕ danh th́ nhất định
vượt được lên bờ kia nên bảo là “hạnh siêu Phổ Hiền
đăng bỉ ngạn” (hạnh vượt trỗi
Phổ Hiền, lên bờ kia).
Thế Tôn rủ ḷng Từ, khuyên dụ những kẻ
học rộng nghe nhiều, kẻ có trí phải nên tin rằng
mọi lời dạy của Như Lai đều khế hợp
với Thật Tướng lư thể. Những điều
được nói trong kinh đều là đúng lư, đều
là chân thật nên bảo: “Ưng
tín ngă giáo như thật ngôn” (Phải tin lời ta dạy như thật). V́ Niệm Phật là pháp “hạnh siêu Phổ Hiền”
nên gọi là “diệu pháp”.
Diệu pháp khó gặp,
khó nghe, khó tin như thế, ta nay đă may mắn được
nghe th́ phải nên thọ tŕ, phụng hành đúng theo lời
dạy, luôn luôn niệm Phật, sanh ḷng vui mừng sâu xa.
Hơn nữa, người niệm Phật được
từ quang của Phật nhiếp thọ, “cấu diệt
thiện sanh, tâm ư nhu nhuyễn”. Thân được nhẹ
nhàng, an ổn, tâm sanh hoan hỷ như trong Quán kinh đă
nói: Phu nhân Vy Đề Hy do chợt thấy quang minh thanh tịnh
của cơi A Di Đà Phật hiện ra trước mắt liền
đắc ngay Vô Sanh Pháp Nhẫn. Ngài Thiện Đạo bảo
Vô Sanh Pháp Nhẫn mà bà Vy Đề Hy đă chứng đắc
khi đó chính là Hỷ Nhẫn, Ngộ Nhẫn và Tín Nhẫn.
Đại sư bảo Hỷ Nhẫn là “niệm A Di Đà Phật sanh tâm hoan hỷ”. Bởi
thế, kinh nói: “Niệm Phật
sanh hoan hỷ” nghĩa là do niệm Phật nên tự tâm
tự sanh hoan hỷ.
Cuối cùng, Phật khuyên hành nhân chẳng những chỉ
tự ḿnh thọ tŕ pháp này để thoát khỏi sanh tử
mà c̣n phải nên làm lợi cho ḿnh lẫn người bằng
cách hoằng truyền pháp này, khuyên dạy tŕ danh, lần
lượt giúp nhau độ thoát xuất ly sanh tử. Đức
Thế Tôn khen người làm được như vậy
là “chân thiện hữu”, tức
là chân thiện tri thức. Đây chính là lời khen ngợi tột
bực của đức Thế Tôn v́ Ngài coi thiện tri thức
giống như Như Lai.
Bốn câu sau cùng chính là lời kỳ vọng và dạy
răn của đức Thế Tôn đối với hết
thảy chúng sanh trong đời sau được gặp
kinh này, được nghe pháp này. Bởi thế, chúng ta phải
nên tha thiết lănh thọ, khắc cốt tạc dạ, khắng
khít tuân theo di giáo, siêng năng tu hành, ǵn giữ bền chặt,
chẳng phụ bạc từ ân.
Cuối bản kinh này, đức Phật lại khuyên
niệm Phật; bản tâm của mười phương
Như Lai đều dốc trọn cả ra. Những chữ
“phước huệ thỉ
văn” (phước huệ mới được nghe), “vi diệu pháp”, “cứu thế
hạnh” (hạnh cứu thế), “trí huệ hải” (biển
trí huệ), “nan trung nan” (khó
nhất trong các điều khó),
“hạnh siêu Phổ Hiền” (hạnh vượt trỗi
Phổ Hiền)… trong phẩm này đều để chỉ
diệu pháp vô thượng Tín Nguyện Tŕ Danh. Đối với
sự mầu nhiệm của pháp môn Niệm Phật
đây, dẫu cho có vô lượng thân, mỗi một thân
có vô lượng miệng, mỗi một miệng có vô
lượng lưỡi. Mỗi lưỡi phát ra vô lượng
âm đến hết cả kiếp vị lai diễn nói chẳng
ngớt cũng khó bề diễn tả nổi ít phần.
Bởi thế, tôi chẳng dám lạm bàn nhiều, chỉ
xin trích dẫn hai đoạn trong sách Di Đà Yếu Giải của
Linh Phong đại sư để kết lại lời
chú giải phẩm này.
1. Sách Yếu Giải viết:
“Do nghĩa là Vô Lượng
Quang nên chúng sanh sanh về Cực Lạc tức là sanh về
mười phương, thấy A Di Đà Phật là thấy mười phương chư Phật,
tự độ ḿnh chính là độ khắp hết cả.
Do nghĩa là Vô Lượng Thọ nên nhân dân cơi Cực Lạc
chính là Nhất Sanh Bổ Xứ, đều nhất định
ngay trong đời này thành Phật,
chẳng phải sanh lần nữa. Nên biết rằng: Hễ
rời bỏ cái tâm vô lượng quang thọ nhất niệm
hiện tiền th́ chẳng thể t́m đâu ra danh hiệu
A Di Đà Phật; mà hễ đă rời bỏ danh hiệu A Di
Đà Phật th́ c̣n do đâu mà
chứng cùng tột cái tâm nhất niệm vô lượng
quang thọ? Xin hăy suy xét kỹ, xin hăy suy xét kỹ!”.
2. Sách Yếu Giải viết: “Danh hiệu được chấp tŕ là chân thật
chẳng thể nghĩ bàn; cái tâm tánh chấp tŕ danh hiệu
cũng chân thật chẳng thể nghĩ bàn. Tŕ một
câu th́ là một câu chẳng thể nghĩ bàn; tŕ mười,
trăm, ngàn, vạn vô lượng tiếng th́ mỗi mỗi
tiếng đều chẳng thể nghĩ bàn”.