45. Độc Lưu Thử Kinh (獨 留 此 經 - Riêng
lưu lại kinh này)
Phẩm này chỉ rơ trong tương lai các kinh diệt
hết, Phật v́ ḷng từ bi “đặc
lưu thử kinh, chỉ trụ bách tuế” (riêng
lưu lại kinh này tồn tại một trăm năm).
Trong phần Tự, nơi phẩm Đại Giáo Duyên Khởi,
đức Thế Tôn đă phóng đại quang minh, ánh sáng,
tướng lành đều thù thắng nhiệm mầu,
toàn là những điều xưa nay chưa từng
được thấy. A
Điều này càng chứng tỏ diệu pháp thù thắng
“phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm” của
kinh này thật sự là thuốc A Già Đà để cứu vớt
khắp các chúng sanh. Khi pháp diệt tận, chúng sanh nghiệp
chướng càng sâu, chỉ c̣n biết cậy vào pháp này
để thoát sanh tử, càng tỏ rơ pháp này là
phương tiện rốt ráo chẳng thể nghĩ bàn.
Chánh kinh:
吾 今 為 諸 眾 生 說 此 經 法,令 見 無 量 壽 佛,及 其 國 土 一 切 所 有。所 當 為 者,皆 可 求 之。無 得 以 我 滅 度 之 後,復 生 疑 惑。
Ngô kim vị chư chúng sanh thuyết thử kinh
pháp, linh kiến Vô Lượng Thọ Phật, cập kỳ
quốc độ nhất thiết sở hữu. Sở
đương vi giả, giai khả cầu
chi. Vô đắc dĩ ngă diệt độ chi hậu, phục
sanh nghi hoặc.
Ta nay v́ các chúng sanh nói kinh pháp này ḥng khiến họ thấy
được Vô Lượng Phật và hết thảy các
thứ trong cơi nước Ngài, việc đáng nên làm sẽ
đều có thể cầu được. Chẳng nên sau khi ta diệt độ rồi
lại sanh nghi hoặc.
Giải:
Câu “linh kiến
Vô Lượng Thọ Phật, cập kỳ quốc độ
nhất thiết sở hữu” (khiến cho họ thấy
được Vô Lượng Thọ Phật và hết thảy
các thứ trong cơi nước Ngài) hàm ư: Do oai lực của
Phật, hết thảy tất cả y báo, chánh báo của
cơi Cực Lạc như đă nói trong phẩm Lễ Phật
Hiện Quang đều hiện rơ ràng như đối
trước mắt, ai nấy đều thấy. Do duyên
thù thắng ấy nên hội chúng đều sanh khởi
ḷng tin chân thật; lại do oai đức của Phật
Di Đà gia tŕ nên thiện căn của hội chúng thảy
đều tăng thượng. V́ thế bảo là “sở đương vi giả,
giai khả cầu chi” (việc
đáng nên làm hăy đều có thể cầu được). Sách Hội Sớ bảo: “Sở đương vi giả
(việc đáng nên làm) là hăy nên thực hiện nguyện hạnh
văng sanh; ‘giai khả cầu chi’ là nếu thuận theo kinh Phật
th́ đều có thể đạt được [việc đáng nên làm ấy]” Cuối
đoạn kinh trên đây, Phật lại rủ ḷng Từ
răn dạy: Hiện tại quư vị đă đích thân thấy
nghe, v́ thế sau khi Phật đă diệt độ, chớ
“phục sanh nghi hoặc” (lại
sanh nghi hoặc) đối với y báo, chánh báo cơi Cực Lạc
và pháp môn Tịnh Độ.
Chánh kinh:
當 來 之 世 經 道 滅 盡,我 以 慈 悲 哀 愍,特 留 此 經 止 住 百 歲。其 有 眾 生,值 斯 經 者,隨 意 所 願,皆 可 得 度。
Đương lai chi thế, kinh đạo
diệt tận, ngă dĩ từ bi ai mẫn, đặc
lưu thử kinh chỉ trụ bách tuế. Kỳ hữu
chúng sanh, trị tư kinh giả, tùy ư sở nguyện, giai
khả đắc độ.
Đời tương lai, kinh đạo diệt sạch,
ta v́ ḷng từ bi, thương xót, riêng lưu lại kinh này
tồn tại một trăm năm. Nếu có chúng sanh nào gặp được
kinh này, tùy ḷng mong mỏi đều được độ
thoát.
Giải:
Ngài Thiện Đạo nói về việc tương lai
kinh pháp sẽ diệt hết như sau: “Vạn năm Tam Bảo diệt, kinh này trụ
trăm năm”. Các vị Tịnh Ảnh, Đạo Xước,
Từ Ân, Nghĩa Tịch, Pháp Trụ, Vọng Tây cũng bảo
như vậy.
Tịnh Ảnh Sớ ghi: “Câu
‘đương lai chi thế, kinh đạo diệt tận’
(đời tương lai, kinh đạo diệt sạch)
nghĩa là trong đời vị lai, pháp diệt sạch..
Chánh Pháp của đức Thích Ca tồn tại năm
trăm năm, Tượng Pháp một ngàn năm, Mạt
Pháp một vạn năm. Khi hết thảy [các thời
gian] ấy đă qua hết th́
gọi là diệt tận”.
Nhưng ngài Cảnh Hưng lại dựa vào sách Pháp Trụ
Kư mà cho rằng pháp diệt nhằm giai đoạn kiếp
tăng, vào lúc con người thọ được bảy
vạn tuổi. Sách Pháp Trụ Kư chép:
“Khi tuổi thọ con
người cao nhất chỉ là mười năm th́ kiếp
đao binh khởi, [con người] tàn sát lẫn nhau. Khi
đó, Phật pháp tạm diệt. Sau khi tuổi thọ
tăng tới một trăm tuổi th́ mười sáu vị
đại A La Hán và các quyến thuộc lại xuất hiện
nơi đây, xứng tướng hiển thuyết vô
thượng chánh pháp, độ vô lượng chúng. Cho
đến lúc con người ở châu này thọ sáu vạn
tuổi th́ vô thượng chánh pháp lưu hành trong thế
gian phồn thịnh chẳng ngớt. Đến khi con người thọ bảy vạn
tuổi th́ mười sáu vị A La Hán (như ngài Tân Đầu
Lô chẳng hạn) và các quyến
thuộc cùng lúc nhập Vô Dư Niết Bàn”.
Ngài Cảnh Hưng nói: “Ngay
lúc con người thọ được bảy vạn
năm th́ vô thượng chánh pháp mới vĩnh viễn diệt
mất nên bảo là kinh đạo diệt tận”.
Cả hai thuyết trên đều có lư riêng. Ngài Vọng
Tây phán định: “Ngài Thiện
Đạo là đức Di Đà hóa thân, ngài Từ Ân là Quán Âm hóa hiện
nên lời giải thích của hai Ngài chẳng thể xem
thường. Phải nên dựa theo đó”. Theo ư ngài Vọng
Tây, để giải thích đoạn kinh này ắt phải
tuân theo lời giải thích của tổ Thiện Đạo;
thuyết ấy rất đúng.
Tịnh Ảnh Sớ giảng câu “đặc lưu thử kinh” (riêng lưu lại
kinh này) như sau: “Đức Phật v́ từ bi, thương xót chúng
sanh nên sau khi pháp diệt, riêng lưu lại kinh này cả
trăm năm để cứu vớt. V́ kinh này khai thị
pháp Tịnh Độ khiến người ta cầu văng sanh nên Phật riêng
lưu lại kinh này. Kinh Đại Niết Bàn hiển thị
Phật tánh nhưng v́ thánh nhân ẩn mất trước
nên kinh ấy bị ẩn mất trước hết. Kinh
này dạy người chán
khổ, cầu vui, là pháp trọng yếu để cứu
vớt phàm phu nên bị diệt mất sau”.
Ư nói: Kinh này dạy người niệm Phật cầu
sanh Tây phương nên riêng lưu lại trong một
trăm năm cuối cùng để cứu độ chúng
sanh. C̣n như kinh Đại Bát Niết Bàn (và kinh Thủ
Lăng Nghiêm) hiển thị chân lư ai ai cũng sẵn có Phật
tánh là pháp rất sâu xa trong thánh giáo; nhưng chúng sanh đời
mạt căn tánh kém cỏi, không ai lănh hội nổi nên sẽ
bị diệt mất trước hết. Kinh Vô Lượng
Thọ đây dạy người nhàm chán Sa Bà, yêu thích, hâm mộ
Cực Lạc; chính là pháp yếu để cứu độ
phàm phu cho nên sẽ diệt sau rốt.
Đoạn kinh từ câu “kỳ
hữu chúng sanh” (nếu có chúng sanh) cho đến “giai khả đắc độ”
(đều được độ thoát) được
ngài Tịnh Ảnh giảng như sau:
“Gặp được kinh
này th́ đều thỏa sở nguyện, đó là nói về
lợi ích của lưu lại pháp. Sau khi pháp diệt, trong
ṿng một trăm năm được
nghe c̣n hưởng lợi ích văng sanh Tịnh Độ, huống
hồ nay đă được nghe, lẽ đâu chẳng
sanh?”
Ư Ngài nói: Gặp gỡ kinh này đều được
măn nguyện, quả thật đă hiển thị lợi
ích của việc riêng lưu lại kinh này. C̣n như sau
khi pháp đă diệt, người được nghe kinh
này c̣n đạt được lợi ích văng sanh Tây
phương, huống hồ là người hiện tại
được nghe kinh này mà tin nhận th́ lẽ đâu lại
chẳng được văng sanh Tây Phương? Bởi thế,
trong Tịnh Ảnh Sớ, ngài Huệ Viễn viết tiếp:
“Quyết định văng sanh,
chớ tự ngờ lo”.
“Đắc độ” là vượt
qua được biển sanh tử để chứng Niết
Bàn. Chữ “hải” (biển)
để ví sanh tử, “bỉ
ngạn” (bờ kia) ví với Niết Bàn, thoát khỏi
trôi nổi trong ḍng sanh tử vượt lên bờ kia Niết
Bàn nên bảo là “đắc
độ”.
Chánh kinh:
如 來 興 世,難 值 難 見。諸 佛 經 道,難 得 難 聞。遇 善 知 識,聞 法 能 行,此 亦 為 難。若 聞 斯 經,信 樂 受 持,難 中 之 難,無 過 此 難。
Như
Lai hưng thế, nan trị, nan kiến. Chư Phật
kinh đạo, nan đắc, nan văn. Ngộ thiện
tri thức, văn pháp năng hành, thử diệc vi nan.
Nhược văn tư kinh, tín nhạo, thọ tŕ, nan
trung chi nan, vô quá thử nan.
Đức Như
Lai xuất hiện trong đời khó gặp, khó thấy;
kinh đạo của chư Phật khó được, khó
nghe. Gặp thiện tri thức, nghe pháp xong có thể tu
hành, điều ấy cũng là khó. Nếu như nghe kinh
này mà tin ưa, thọ tŕ th́ là việc khó nhất trong những
việc khó, không c̣n ǵ khó hơn được nổi.
Giải:
Trong đoạn này, Phật than thở: Nghe kinh này mà có
thể tin nhận, thọ tŕ th́ chính là điều khó nhất
trong các điều khó để con người biết rằng
kinh này khó được nghe mà sanh ḷng kính trọng, hy hữu.
“Hưng thế” (興 世) là xuất hiện trong thế
gian. Sách Tư Tŕ Kư nói: “Phật
thân tràn ngập, tùy theo [từng loại] chúng sanh mà hiện
thân. Thị hiện sanh diệt để tiếp độ
các phẩm. Nếu xét theo cái thấy của cơi Sa Bà th́ Ngài
đản sanh trong cung vua, bỏ tục đi tu hành, hàng
ma, thành Phật nên bảo là hưng thế”. Ư nói: Thân Phật
đầy khắp cả pháp giới, chẳng có qua lại,
ba đời giống hệt như nhau, vốn chẳng
sanh diệt. Chỉ v́ ứng cơ hóa độ nên thị
hiện sanh trong vương cung, xuất gia tu đạo,
hàng ma thành Phật; do đó mà gọi là “hưng thế”.
Tịnh Ảnh Sớ giảng câu “nan trị, nan kiến” (khó gặp, khó thấy)
như sau: “Ư nói gặp Phật
khó. Lúc Phật đang c̣n trong đời th́ gọi là “trị”
(值:
gặp gỡ), mắt
trông thấy Phật gọi là “kiến” (見: thấy). Cả hai điều này
đều là khó. ‘
“Ngộ thiện tri thức,
văn pháp năng hành, thử diệc vi nan” (Gặp thiện
tri thức, nghe pháp xong có thể tu hành, điều ấy
cũng là khó): Trong từ “thiện
tri thức”, Thiện (善) nghĩa là có
ích cho ta, dẫn dắt ta theo đường lành; Tri (知) là biết cái
tâm; Thức (識) là rành cái h́nh như sách Pháp Hoa
Văn Cú, quyển bốn giảng: “Nghe danh là Tri, thấy h́nh là Thức. Người ấy
có lợi cho đạo Bồ Đề của ta nên gọi là
thiện tri thức”. Như vậy, hai chữ “tri thức” nghĩa là biết
cái tâm, thấu hiểu cái h́nh. Do đó, thiện tri thức
được gọi là thiện hữu (bạn lành).
Người tương tri, tương thức của
ḿnh, dẫn dắt ḿnh đi trên đường lành th́ gọi
là thiện hữu hay là thiện tri thức.
Viên Giác Kinh Đại Sớ, quyển mười lăm có
câu: “Khéo hiểu chân, biết vọng,
biết bệnh rành thuốc th́ gọi là thiện tri thức”.
Ư nói: Người phân biệt rành chân, vọng, thông đạt
Chân Tế, biết căn tánh của chúng sanh, tùy bệnh
cho thuốc th́ gọi là thiện tri thức.
Trong tác phẩm An Lạc Tập, ngài Đạo Xước
lại dựa theo kinh Pháp Cú mà viết:
“Phật dạy thiện tri
thức có thể thuyết pháp sâu, nghĩa là: không, vô tướng,
vô nguyện, các pháp b́nh đẳng, vô nghiệp, vô báo, vô
nhân, vô quả, cứu cánh như như, trụ trong Thật
Tế; nhưng trong Tất Cánh Không lại rộn ràng lập ra hết thảy pháp
th́ gọi là thiện tri thức.
Thiện tri thức là cha mẹ
v́ dưỡng dục thân Bồ Đề của các ông. Thiện
tri thức là tṛng mắt của các ông v́ thấy hết thảy
đường thiện ác. Thiện
tri thức là thuyền lớn của các ông v́ chuyên chở
các ông vượt khỏi biển sanh tử. Thiện tri thức
là dây giàm của các ông v́ lôi kéo các ông ra khỏi sanh tử”.
Sách c̣n viết: “Hết thảy
chúng sanh muốn đắc Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác th́ nên thân cận thiện tri thức, thưa hỏi
pháp yếu”. Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương trong
kinh Pháp Hoa có câu: “Thiện tri thức
giả, thị đại nhân duyên, sở dĩ hóa đạo
linh đắc kiến Phật, phát A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề tâm” (Thiện tri thức là đại
nhân duyên v́ giáo hóa, dẫn dắt khiến được thấy
Phật, phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).
Muốn chứng Bồ Đề th́ nên cầu bạn lành.
Nên dùng cách để cầu được bạn lành
như kinh Viên Giác đă dạy:
“Mạt thế chúng sanh,
tương phát đại tâm, cầu thiện tri thức,
dục tu hành giả, đương cầu nhất thiết
chánh tri kiến nhân, tâm bất trụ tướng, bất
trước Thanh Văn, Duyên Giác cảnh giới, tuy hiện
trần lao, tâm hằng thanh tịnh, thị hữu chư
quá, tán thán phạm hạnh, bất linh chúng sanh nhập bất
luật nghi. Cầu như thị nhân, tức đắc
thành tựu A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”
(Chúng
sanh đời Mạt toan phát đại tâm, cầu thiện
tri thức ḥng tu hành th́ nên cầu người có chánh tri kiến
đối với hết thảy, tâm chẳng trụ
tướng, chẳng đắm trong cảnh giới Thanh
Văn, Duyên Giác. Tuy hiện trong trần lao nhưng tâm hằng
thanh tịnh; thị hiện có các lầm lỗi, nhưng
khen ngợi phạm hạnh, chẳng khiến cho chúng sanh
làm điều chẳng đúng với luật nghi. Cầu
người như thế sẽ liền đắc Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).
Kinh Viên Giác dạy rằng muốn cầu thiện tri
thức th́ trước hết phải t́m người có
chánh tri kiến đối với hết thảy. Thế
nào là chánh tri kiến? Viên Giác Đại Sớ ghi: “Khéo thông đạt giác tánh, chẳng
do tu mà sanh, quyết trạch chẳng nghi th́ gọi là chánh
tri kiến”.
Giác tánh là tánh giác diệu minh. Khéo thông đạt
được tánh giác sẵn có nên bảo là “khéo thông đạt
giác tánh”. Giác tánh sẵn có ấy chẳng từ bên ngoài
đến, chẳng phải do tu mà có nên bảo là “chẳng do tu mà sanh”, v́ nó chính
là chỗ chẳng thể tu để đạt đến
nổi.
“Quyết trạch” (決擇) là khéo phân biệt các pháp tướng. “Chẳng nghi” là bất động
nơi Đệ Nhất Nghĩa.
Đại Sớ giảng câu “tâm
bất trụ tướng” (tâm chẳng trụ tướng)
như sau:
“Tâm chẳng trụ tướng
là ĺa khỏi cảnh giới phiền năo của phàm phu. Nếu
c̣n bận tâm đến chút pháp
th́ gọi là trụ tướng. Thậm chí với Bồ
Đề, Niết Bàn c̣n chẳng chấp trước, huống
hồ là cảnh giới huyễn mộng của thế
gian. V́ thế, chẳng nên trụ vào Sắc, Thanh, Hương,
Vị, Xúc, Pháp để sanh tâm, hăy nên không trụ vào đâu cả mà sanh tâm. Đă
được vô tâm trụ th́ liền khế hợp với
viên giác”.
“Bất trước Thanh
Văn, Duyên Giác cảnh giới” (Chẳng đắm trong cảnh
giới Thanh Văn, Duyên Giác) là như kinh Xưng Tán Đại
Thừa đă dạy: “Ninh tại
địa ngục kinh bách thiên kiếp, chung bất phát Nhị
Thừa chi tâm” (Thà ở trong địa ngục cả
trăm ngàn kiếp, trọn chẳng phát tâm Nhị Thừa).
Nói chung, tất cả những câu từ “tuy hiện trần lao” cho
đến “nhập bất luật
nghi” (làm những điều chẳng đúng với luật
nghi) là như Đại Sớ đă nói: “Người hoại kiến tuy chẳng hoại hạnh,
chẳng thể làm con mắt đạo cho chúng sanh. Dẫu
hoại hạnh nhưng kiến giải chẳng sai lầm
th́ vẫn là ruộng phước chân thật thù thắng
cho trời người”.
Đại Luận c̣n viết: “Đối
với các bậc sư tôn nên tưởng như Thế
Tôn. Nếu có ai có thể khai hiển, giải thích nghĩa
sâu, cởi mở nghi kết [cho ḿnh] th́ tận tâm cung kính,
chẳng nghĩ đến các điều ác khác [của
người đó]. Ví như dù cái túi bệ rạc th́ chẳng
nên v́ cái túi ấy bệ rạc mà bảo là nó chẳng thể
đựng nổi của báu. Lại như ban đêm
đi trên đường hiểm, có kẻ tệ hại cầm
đuốc th́ chẳng nên v́ kẻ ấy tệ ác mà chẳng
thèm nhờ kẻ ấy soi sáng. Bồ Tát cũng lại
như vậy: Nhờ thầy mà được trí huệ
quang minh th́ chẳng bận tâm đến lỗi ác của
thầy”.
V́ thế, kinh Viên Giác kết luận: “Cầu như thị nhân, tức đắc thành tựu
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” (Cầu
người như thế liền được Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác). Ư nói: Những người [có đủ
các đức tánh] như đă nói trên chính là chân thiện
tri thức. Có thể biết được, cầu
được một vị thiện tri thức như vậy
th́ ắt sẽ chứng Bồ Đề.
Đại Sớ c̣n nói: “Chỉ
nên khéo thờ minh sư, gặp việc minh sư ắt sẽ
chỉ dạy. Cũng giống như Thiện Tài phát Bồ
Đề tâm nơi đức Văn Thù xong, hỏi về Bồ
Tát hạnh. Ngài Văn Thù chẳng dạy đủ mà lại
dạy nên thân cận thiện hữu; Ngài dạy nên gặp
tỳ-kheo Đức Vân, lần lượt đi tham học”.
Sách c̣n viết: “Bởi thế
kinh Pháp Cú dùng hai mươi mốt thí dụ để ví
thiện tri thức, nghĩa là: cha mẹ, tṛng mắt, chân
cẳng, thang, ghế cao, thức ăn, áo báu, cầu,
rường, của báu, mặt trời, mặt trăng,
thân mạng v.v… Cuối cùng kết luận: ‘Thiện tri thức
giả, hữu như thị vô lượng công đức,
thị cố giáo nhữ đẳng thân cận’ (Thiện
tri thức có vô lượng công đức như thế
nên ta dạy các ông thân cận). Đại chúng nghe xong lớn
tiếng than thở, tự nghĩ trong bao kiếp nhờ
thiện tri thức thủ hộ nên ngày nay mới
được gặp đức Như Lai, nhưng
chưa từng báo ân, chưa hề có tâm thân cận. Thốt
lên những lời ấy xong lại vật ḿnh khóc lóc”.
V́ thế trong kinh Viên Giác, trong phẩm Phổ Giác có lời
phổ khuyến như sau: “Mạt
thế chúng sanh dục tu hành giả, ưng đương
tận mạng cúng sự thiện hữu, sự thiện
tri thức” (Chúng sanh đời Mạt muốn tu hành th́
phải nên trọn đời cúng dường, phụng sự
thiện hữu, thờ kính thiện tri thức). Muốn
cung kính thiện tri thức th́ trước hết phải
phụng hành đúng như lời dạy, điều này
cũng rất khó. Bởi thế, kinh mới nói: “Văn pháp năng hành, thử diệc
vi nan” (Nghe pháp xong có thể tu hành, điều này cũng
là khó), nghĩa là: Thiện tri thức đă khó gặp, khó
biết, nay may mắn đă cầu được;
nhưng nếu đối với những điều thiện
tri thức đă dạy mà ta chẳng thể tin nhận, phụng
hành th́ lương y cũng đành bó tay. Như thế th́ dẫu
có gặp cũng như không! Bởi thế, nghe xong lời
dạy của thiện tri thức mà có thể tin tưởng
nổi; tin rồi làm nổi th́ lại càng thật khó.
Trên đây, kinh đă nói những việc như gặp
Phật, nghe kinh, gặp thiện tri thức, nghe pháp xong có
thể thực hành nổi; đó đều là những việc
rất khó được, thật là hy hữu. Nhưng cả
ba điều khó nói trên vẫn chẳng khó hơn nổi việc
“nhược văn tư kinh,
tín nhạo thọ tŕ” (nếu như nghe kinh này mà tin
ưa, thọ tŕ). Đấy mới là điều khó làm nổi
nhất trong những điều khó thể làm nổi nên mới
bảo là “nan trung chi nan” (khó
nhất trong những điều khó). Việc hy hữu khó
được không chi hơn nổi việc này nên bảo “vô quá thử nan” (không có ǵ khó
hơn điều này). V́ cớ
sao?
Tịnh Ảnh Sớ đáp: “Các nghĩa khác, các kinh khác tuyên thuyết khắp
nơi. Khai hiển Tịnh Độ, dạy người văng
sanh th́ chỉ có ḿnh kinh này nên là rất khó”.
Sách Hội Sớ cũng bảo: “Nhược văn tư kinh (nếu như nghe kinh
này’ là cái nghe biết được huân tập. ‘Tín nhạo
thọ tŕ’ (tin ưa thọ tŕ) là chánh nhân văng sanh, nghĩa
là: Tin ưa bổn nguyện, thọ tŕ danh hiệu. V́ pháp
này vượt trỗi, khác biệt với các giáo pháp khác,
v́ được lợi ích vượt trỗi các điều
lành khác, v́ mọi căn cơ đều cùng được vào trong báo
độ (mọi căn tánh đều cùng được
sanh trong cơi Thật Báo Trang Nghiêm); v́ chỉ một đời là thành tựu, ắt phải
là do túc thiện nhiều kiếp
nên bảo là khó nhất trong những điều khó v.v…”
Chuẩn theo ư của hai bộ sớ trên, ta thấy rằng
nếu ai có thể đối với diệu pháp đệ
nhất hy hữu, khó nghe, khó tin, một đời thành tựu
này mà nghe được, tin được, lănh nhận
được, vâng giữ được th́ nên biết
người ấy ắt là đă huân tu trong nhiều kiếp,
đă gieo nhiều căn lành, thật là hy hữu, vượt
trỗi hết thảy. V́ thế mới bảo là “nan trung chi nan, vô quá thử nan” (khó
nhất trong các điều khó, không c̣n ǵ khó hơn điều
này). Nói như vậy không có nghĩa pháp môn này khó tu mà là ngụ
ư: Thật là khó có những người có những thiện
căn phước đức nhân duyên hy hữu như thế!
Chánh kinh:
若 有 眾 生 得 聞 佛 聲,慈 心 清 淨,踊 躍 歡 喜,衣 毛 為 起,或 淚 出 者,皆 由 前 世 曾 作 佛 道,故 非 凡 人。若 聞 佛 號,心 中 狐 疑,於 佛 經 語,都 無 所 信,皆 從 惡 道 中 來。宿 殃 未 盡,未 當 度 脫。故 心 狐 疑,不 信 向 耳。
Nhược hữu chúng sanh đắc
văn Phật thanh, từ tâm thanh tịnh, dũng dược
hoan hỷ, y mao vi khởi, hoặc lệ xuất giả,
giai do tiền thế tằng tác Phật đạo, cố
phi phàm nhân. Nhược văn Phật hiệu, tâm trung hồ
nghi, ư Phật kinh ngữ, đô vô sở tín, giai tùng ác
đạo trung lai, túc ương vị tận, vị
đương độ thoát. Cố tâm hồ nghi, bất
tín hướng nhĩ.
Nếu có chúng sanh
được nghe danh hiệu Phật, từ tâm thanh tịnh,
hớn hở, hoan hỷ, lông tóc dựng cả lên, hoặc
chảy nước mắt, [th́ những người ấy]
đều là do đời trước đă từng hành Phật
đạo, cho nên chẳng phải là phàm nhân. Nếu nghe danh hiệu Phật mà trong ḷng hồ
nghi, đối với những lời kinh Phật đều
chẳng tin th́ đều là mới từ trong ác đạo
thoát ra, túc ương chưa hết, sẽ chưa
được độ thoát nên tâm hồ nghi, chẳng thể
tin tưởng nổi!
Giải:
“Đắc văn Phật
thanh” (Được nghe danh hiệu Phật) là câu trích từ bản
Hán dịch, bản Ngô dịch ghi là “văn A Di Đà Phật thanh” (nghe danh hiệu A Di
Đà Phật), bản Ngụy dịch ghi là “đắc văn bỉ Phật danh” (được
nghe danh hiệu đức Phật ấy), bản Đường
dịch ghi là “văn bỉ Phật
danh” (nghe tên đức Phật ấy), bản Tống dịch
ghi là “đắc văn Vô
Lượng Thọ Phật danh hiệu” (được
nghe danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật). Đối chiếu
các bản dịch, ta thấy rằng “Phật thanh” chính là danh hiệu A Di Đà Phật.
“Văn” (聞) là nghe tên, thọ
tŕ. Bởi danh hiệu Phật có đủ vạn đức
nên người nghe “từ tâm
thanh tịnh”. Từ tâm (慈 心) là phát khởi tâm đại từ.
Thanh tịnh là thuần tịnh vô cấu. “Hoan hỷ” (歡 喜) nội tâm hỷ lạc. “Dũng dược” (踊 躍) là sự hân hoan phấn chấn
thể hiện ra nơi dáng vẻ, lời nói. Câu “y mao vi khởi” (衣 毛 為 起) ư nói các lỗ chân lông khắp
thân ḿnh nở to ra, lông đều dựng cả lên. “Lệ xuất” (淚 出) là nước mắt tuôn ra. Những
người như thế đều từ Phật đạo
mà đến. Vô thượng Bồ Đề mà Phật đă
chứng đắc gọi là “Phật
đạo”. Phẩm Phương Tiện kinh Pháp Hoa có
câu: “Thị chư Thế Tôn
đẳng, giai thuyết Nhất Thừa pháp, hóa vô lượng
chúng sanh, linh nhập ư Phật đạo” (Các đức Thế Tôn ấy
đều nói pháp Nhất Thừa, giáo hóa vô lượng
chúng sanh khiến cho họ nhập Phật đạo). Lại
cũng v́ do hạnh mà gọi là đạo; Phật đạo
chính là vạn hạnh để đạt đến
địa vị Phật.
Câu “tằng hành Phật
đạo, cố phi phàm nhân” (do từng hành Phật
đạo, cho nên chẳng phải là phàm nhân) chính là lời
đức Phật khen ngợi, giống như kinh Kim Cang dạy:
“Nhược đương
lai thế hậu ngũ bách tuế, kỳ hữu chúng sanh
đắc văn thị kinh, tín giải thọ tŕ, thị
nhân tức vi đệ nhất hy hữu. Hà dĩ cố?
Thử nhân vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh
tướng, vô thọ giả tướng” (Trong đời
tương lai năm trăm năm sau, nếu có chúng sanh
được nghe kinh này mà tin hiểu, thọ tŕ th́
người ấy chính là hy hữu bậc nhất. V́ sao vậy?
Người ấy không có ngă tướng, không có nhân tướng,
không có chúng sanh tướng, không có thọ giả tướng).
Trong tác phẩm Phá Không Luận, ngài Linh Phong đă giảng
như sau: “Đây chính là tín tu đại
quả. Nếu như c̣n có chút mảy may chấp tướng
ngă, nhân v.v… th́ quyết chẳng thể tin nổi kinh này. Nếu
như tin hiểu, thọ tŕ kinh này th́ quyết phải
thông đạt ngă tướng,
nhân tướng v.v… đương thể chính là vô tướng”.
Chuẩn theo lời giảng ấy mà luận th́ kinh này
là pháp hết thảy thế gian khó tin. Nếu ai có thể
sanh nổi ḷng tin đối với pháp này th́ nên biết rằng
người ấy chẳng phải là phàm nhân, mà chính là
người hy hữu trong hết thảy thế gian. Nếu
có thể sanh ḷng tin chân thật vào Viên Giáo, hiểu trọn
vẹn, tu trọn vẹn th́ đáng xưng tụng là viên
nhân (người căn cơ viên măn). Viên nhân tu hành một
ngày bằng thường nhân tu hành cả một kiếp.
Trái lại, kẻ hồ nghi chẳng tin th́ là
mới từ ba ác đạo thoát ra, ương họa nghiệp
chướng túc thế chưa đoạn hết, c̣n
chưa đến thời kỳ được đắc
độ nên chẳng thể tin nhận nổi. Đây cũng
chính là điều kinh Kim Cang đă nói: “Ư hậu mạt thế, hữu thọ tŕ độc
tụng thử kinh, sở đắc công đức, ngă
nhược cụ thuyết giả, hoặc hữu nhân
văn, tâm tắc cuồng loạn, hồ nghi bất tín” (Trong
đời Mạt sau này, có kẻ thọ tŕ, đọc tụng
kinh này, nếu ta nói đầy đủ công đức
người ấy đạt được, ắt sẽ
có kẻ nghe rồi tâm liền cuồng loạn, hồ nghi
chẳng tin). V́ vậy, ta thấy
rằng pháp môn càng thù thắng, người đời càng
khó tin. Bởi lẽ đó, đối với pháp viên đốn,
họ hồ nghi chẳng tin.