18. Siêu thế hy hữu ( )

Chánh kinh:

國,所 生,容 妙,超 有。咸 類,無 相。但 俗,故 名。

Bỉ Cực Lạc quốc, sở hữu chúng sanh, dung sắc vi diệu, siêu thế hy hữu, hàm đồng nhất loại, vô sai biệt tướng. Đản nhân thuận dư phương tục, cố hữu thiên nhân chi danh.

Trong cơi Cực Lạc ấy, tất cả chúng sanh dung sắc vi diệu siêu thế hy hữu, đều cùng một loại, không có tướng sai biệt; chỉ v́ thuận theo tập tục các phương khác mà có tên gọi là Trời hay Người.

Giải:

Phẩm này nói rơ y báo và chánh báo cơi ấy đều vượt xa thế gian, thật là hy hữu. Trước hết, ta hăy luận về chánh báo.

Trong câusở hữu chúng sanh dung sắc vi diệu” (tất cả chúng sanh dung sắc vi diệu), “dung” () là h́nh dáng, dung mạo, “sắc” () là sắc tướng. “Vi diệu” ( ) là tinh vi, khéo léo đến cùng cực.

Hội Sớ giảng chữ “siêu thế hy hữu” như sau: “Chẳng phải là thân hữu lậu, sanh diệt nên bảo là siêu thế. Bản thể của tấm thân là pháp tánh thanh tịnh nên bảo là hy hữu”. Sách Luận Chú cũng có bài kệ rằng: “Thiên nhân bất động chúng, thanh tịnh trí hải sanh” (Chúng trời, người bất động, sanh từ biển trí huệ thanh tịnh). Như vậy, tất cả chúng sanh đều từ thanh tịnh cú biến hiện, vượt xa thế gian nên kinh bảo “siêu thế hy hữu”.

Hơn nữa, họ đều từ liên hoa hóa sanh, chân thân kim sắc, đủ ba mươi hai tướng nên bảo là “siêu thế hy hữu”. Sắc tướng đều giống hệt như nhau nên bảo là hàm đồng nhất loại, vô sai biệt tướng” (đều cùng một loại, không có tướng sai biệt). Đấy chính là do các nguyện “thân đều sắc vàng”, “thân đủ ba mươi hai tướng”“thân không sai biệt” cảm thành.

Ngoài ra, chúng sanh trong cơi ấy “giai đắc thần thông tự tại”
(đều được thần thông tự tại), “giai tất trụ ư Chánh Định chi tụ” (đều trụ trong Chánh Định Tụ), “đắc Bất Thoái Chuyển” thật sự đều vượt xa trời người, nhưng v́ đa số các phương khác đều có trời, người, nên thuận theo thói đời cũng giả lập những danh từ trời, người. Phẩm “Lễ Phật Hiện Quang” trong kinh này có nói: “Duy thị chúng bảo trang nghiêm, thánh hiền cộng trụ” (Cơi ấy chỉ trang nghiêm bằng các báu, là nơi thánh hiền cùng ở). Đă toàn là bậc thánh hiền th́ lẽ đâu thật có trời, người như trong thế gian?

Theo ngài Nghĩa Tịch, trong số những hạng được gọi là trời hay người nơi cơi ấy th́ người niệm Phật vâng giữ Ngũ Giới (nghiệp sanh cơi người) được văng sanh th́ gọi là “người”, c̣n người niệm Phật kiêm hành Thập Thiện (Thập Thiện là nghiệp sanh cơi trời) được văng sanh th́ gọi là “trời”. Người sống trên mặt đất th́ gọi là “người”, người ở trên hư không th́ gọi là “trời”.

Chánh kinh:

難:譬 人,在 邊,面 狀,甯 乎? 王,則 陋,猶 人,在 也。轉 王,威 一,比 王,又 劣。假 釋,比 六天,雖 也。第 王,若 中,菩 聞,光 色,雖 倍,不 逮。

Phật cáo A Nan: - Thí như thế gian bần khổ khất nhân, tại đế vương biên, diện mạo h́nh trạng, ninh khả loại hồ? Đế vương nhược tỷ Chuyển Luân thánh vương, tắc vi bỉ lậu, do bỉ khất nhân, tại đế vương biên dă. Chuyển Luân thánh vương, oai tướng đệ nhất, tỷ chi Đao Lợi thiên vương, hựu phục xú liệt. Giả linh Đế Thích, tỷ Đệ Lục Thiên, tuy bách thiên bội bất tương loại dă. Đệ Lục thiên vương, nhược tỷ Cực Lạc quốc trung Bồ Tát, Thanh Văn, quang nhan dung sắc, tuy vạn ức bội, bất tương cập đăi.

Phật bảo A Nan:

- Ví như kẻ ăn mày nghèo khổ trong thế gian ở cạnh đế vương th́ diện mạo, h́nh trạng của họ có giống nhau hay không? Nếu đem so với Chuyển Luân thánh vương th́ đế vương lại hóa ra xấu hèn khác nào kẻ ăn mày đặt cạnh đế vương. Chuyển Luân thánh vương oai tướng bậc nhất nhưng đem so với Đao Lợi thiên vương lại càng xấu kém. Nếu đem Đế Thích sánh với Đệ Lục thiên th́ chẳng bằng được một phần trăm ngàn lần. Đệ Lục thiên vương nếu đem so với Bồ Tát, Thanh Văn trong cơi Cực Lạc th́ quang nhan, dung sắc, cũng chẳng bằng nổi một phần vạn ức lần.

Giải:

Đoạn này dùng các thí dụ để hiển thị dung sắc siêu thắng của chúng sanh cơi Cực Lạc. Kinh dùng đến năm tầng thí dụ để so sánh:

1. Đem kẻ ăn mày so với vua. Kẻ ăn mày là người xin cơm để sống, h́nh dung khô kháo. Vua cơi nhân gian ăn món quư, ở chốn sang trọng nhất, h́nh dáng béo tốt, tươi nhuận, vẻ mặt rạng rỡ. Đem kẻ ăn mày sánh với đế vương th́ kẻ ăn mày xấu kém đến hết mức!

2. Đem vua trong nhân gian sánh với Chuyển Luân thánh vương th́ vua cơi nhân gian lại càng thua kém đến bực nào.

3. Đem Chuyển Luân Vương so với Đế Thích.

4. Đem Đế Thích so với Đệ Lục Thiên (tức là Tha Hóa Tự Tại thiên, là tầng trời cao nhất trong sáu tầng trời Dục Giới) lại càng xấu kém đến trăm ngàn lần hơn nữa.

5. Nếu đem vua tầng trời thứ sáu so với Bồ Tát và Thanh Văn cơi Cực Lạc th́ tuy vạn ức bội, bất tương cập đăi(chẳng bằng được đến một phần vạn ức lần).

Đoạn kinh này đă nói rơ đến cùng cực vẻ mặt sáng ngời, dung sắc siêu thế hy hữu của chúng sanh cơi Cực Lạc.

Chánh kinh:

殿,衣 食,猶 王。

Sở xử cung điện, y phục ẩm thực, do như Tha Hóa Tự Tại thiên vương.

Cung điện họ ở, y phục, thức ăn, vật uống giống như vua cơi trời Tha Hóa Tự Tại.

Giải:

Câu này diễn tả y báo siêu việt, thù thắng của cơi Cực Lạc, ba thứ áo mặc, cơm ăn, chỗ ở đều giống hệt như vua cơi trời tầng thứ sáu là tầng cao nhất trong Dục Giới.

Chánh kinh:

德、階 位、神 化,一 人,不 比,百 億,不 倍。阿 知,無 土,如 嚴,不 議。

Chí ư oai đức, giai vị, thần thông biến hóa, nhất thiết thiên nhân, bất khả vi tỷ, bách thiên vạn ức, bất khả kế bội. A Nan ưng tri: Vô Lượng Thọ Phật Cực Lạc quốc độ, như thị công đức trang nghiêm, bất khả tư nghị.

C̣n như oai đức, địa vị, thần thông biến hóa [của họ] th́ hết thảy trời người chẳng thể sánh nổi; [hơn đến] trăm ngàn vạn ức, chẳng thể tính nổi lần. A Nan nên biết: Cơi nước Cực Lạc của Vô Lượng Thọ Phật công đức trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn như thế.

Giải:

Đoạn kinh này chỉ rơ oai đức, phẩm vị của chánh báo đều siêu thế hy hữu.

“Oai đức” là oai thần và công đức. Người cơi Cực Lạc “thần thông đỗng đạt, thế lực tự tại”, “trụ Chánh Định Tụ”, “quyết chứng cực quả” nên kinh bảo là oai đức không ai sánh bằng. “Giai vị” ( ) là thứ bậc và phẩm vị. Họ đắc ba thứ Bất Thoái, địa vị ngang với bậc Bổ Xứ nên địa vị không ai sánh bằng.

“Thần thông biến hóa” là như kinh nói Thanh Văn trong cơi ấy “năng ư chưởng trung tŕ nhất thiết thế giới” (có thể nắm hết thảy thế giới trong ḷng bàn tay). Hết thảy chúng sanh cơi ấy lại c̣n đắc các thần thông thù thắng như Túc Mạng, Thiên Nhăn, Thiên Nhĩ, Tha Tâm, Thần Túc, Lậu Tận như lời nguyện thứ mười có nói: Ư nhất niệm khoảnh, siêu quá ức na-do-tha bách thiên Phật sát, châu biến tuần lịch, cúng dường chư Phật” (Trong khoảng một niệm, vượt qua ức na-do-tha trăm ngàn cơi Phật đi khắp tất cả cúng dường chư Phật).

Thần thông của họ thật đă vượt xa thần thông Nhị Thừa, huống hồ là thần thông của trời, người! V́ vậy, ba thứ oai đức, địa vị, thần thông biến hóa của họ hết thảy trời người chẳng thể sánh được nổi, dẫu chỉ so với một phần của trăm ngàn ức lần, thậm chí chẳng thể tính kể lần th́ vẫn c̣n kém xa lắm.

Do đó, ở cuối đoạn kinh trên Phật đă buông lời khen ngợi chung cơi nước A Di Đà Phật là: “Như thị công đức trang nghiêm bất khả tư nghị” (Công đức trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn như vậy).