13. Thọ chúng vô lượng (壽 眾 無 量: Thọ mạng
và hội chúng vô lượng)
Phẩm này tỏ rơ ba thứ vô lượng: Một
là Phật thọ vô lượng, hai là hội chúng (đại
chúng trong pháp hội) nhiều vô lượng, ba là thọ mạng
của đại chúng trong pháp hội cũng vô lượng.
Điều thứ nhất là Pháp Thân đức, điều thứ
hai là đại nguyện trọn khắp, điều thứ
ba là chủ bạn giống hệt nhau, chân thật chẳng
thể nghĩ bàn.
Chánh kinh:
佛 語 阿 難:無 量 壽 佛,壽 命 長 久,不 可 稱 計。又 有 無 數 聲 聞 之 眾,神 智 洞 達,威 力自 在,能 於 掌 中 持 一 切 世 界。
Phật
ngữ A
Phật bảo
A
Giải:
Phật bảo A Nan: A Di Đà Phật thọ mạng vô
lượng, thọ mạng Ngài trường cửu đến
nỗi chẳng có cách nào diễn tả nổi, không cách chi
tính toán nổi. Đây chính là do điều nguyện thứ
mười lăm “thọ mạng
vô lượng” kết thành. Câu “hựu hữu vô số Thanh Văn chi chúng” (lại
có vô số Thanh Văn chúng) chính
là điều nguyện mười sáu “Thanh Văn vô số” được thành tựu.
Câu “thọ mạng trường
cửu, bất khả xưng kế” (thọ mạng trường cửu chẳng
tính kể nổi) biểu thị Pháp Thân rốt ráo của
A Di Đà Phật; do tam thế cùng như một nên thọ mạng
vô lượng. Lại do đại nguyện thù thắng
độc nhất, vượt xa chư Phật nên thọ
mạng của Báo Thân và Hóa Thân cũng đều vô lượng.
Phật thọ vô lượng nên thường giác ngộ
chúng sanh. Phật nguyện vô cực nên phải có chúng hội
rộng lớn. Do đó, chúng Thanh Văn trong cơi Ngài đều
vô số vô lượng. Câu “thần,
trí đỗng đạt” mô tả đại chúng trong
cơi ấy đều hiểu rành thông suốt thần thông,
có trí huệ. Sách Văng Sanh Luận nói: “Chúng trời người bất động (chỉ
hội chúng cơi Cực Lạc) từ
biển trí thanh tịnh sanh ra”. Sách Luận Chú giảng: “Đều từ biển trí huệ thanh tịnh của
Như Lai sanh ra”. V́ vậy, họ đều “thần, trí đỗng đạt, oai lực tự
tại”.
Nói về “thần trí”
th́ “thần” (神) là thần thông, “trí” (智) là trí huệ;
nói “thần trí” là nói gọn.
Nếu ghép Thần và Trí lại thành một từ th́ thần
trí nghĩa là trí huệ thấy tột cùng sự lư một
cách tự tại. “Thần”
là sáng suốt; nghĩa là trí huệ ấy sáng suốt thần
diệu vô cực. “Đạt”
(達) là thông đạt vô ngại. “Đỗng” (洞) là thấu triệt rốt ráo. “Oai lực tự tại” là sức
oai thần tự tại vô ngại.
Câu “năng ư chưởng
trung tŕ nhất thiết thế giới” (có thể cầm hết thảy thế giới
trong ḷng bàn tay) hiển thị sâu sắc cảnh giới
“quảng hiệp tự tại, nhất đa tương
tức” (xin xem lại phần giải thích về môn này
trong cuốn một) sự sự vô ngại chẳng thể
nghĩ bàn của Hoa Nghiêm. Kinh Duy Ma cũng nói về công
đức chẳng thể nghĩ bàn: Cầm một thế
giới trong ḷng bàn tay. Kinh chép: “Trụ
bất khả tư nghị giải thoát Bồ Tát, đoạn
thủ tam thiên đại thiên thế giới, như
đào gia luân, trước hữu chưởng trung, trịch
quá hằng sa thế giới chi ngoại. Kỳ trung chúng
sanh bất giác bất tri kỷ chi sở văng. Hựu phục
hoàn trí bổn xứ, đô bất sử nhân hữu văng lai
tưởng; nhi thử thế giới bổn tướng
như cố” (Trụ
trong giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, Bồ Tát bứt
lấy một tam thiên đại thiên thế giới
như [véo lấy một miếng đất sét] trên bàn xoay
của thợ gốm, đặt trong bàn tay phải rồi
ném khỏi hằng sa thế giới, nhưng chúng sanh trong
thế giới ấy chẳng biết, chẳng hay nơi
ḿnh đang trụ. Lại đem đặt trả về
chỗ cũ, khiến cho chúng sanh đều chẳng có ư
tưởng là [thế giới] bị đem đi hay trả
lại, mà bổn tướng của thế giới này vẫn
như cũ)
Và: “Bồ Tát dĩ nhất
Phật độ chúng sanh, trí tại hữu chưởng,
phi đáo thập phương, biến thị nhất thiết,
nhi bất động bổn xứ” (Bồ Tát đem chúng sanh trong một cơi Phật đặt
trong bàn tay phải, bay đến mười phương,
hiện bày khắp hết thảy, nhưng chẳng lay
động bổn xứ). Đại chúng cơi Cực Lạc
đều có đủ những công đức oai thần
chẳng thể nghĩ bàn như vậy; rơ ràng là thánh chúng
trang nghiêm, công đức của chủ lẫn bạn
đều chẳng thể nghĩ bàn.
Chánh kinh:
我 弟 子 中 大 目 犍 連,神 通 第 一,三 千 大 千 世 界 所 有 一 切 星 宿 眾 生,於 一 晝 夜,悉 知 其 數。
Ngă
đệ tử trung, Đại Mục Kiền Liên, thần
thông đệ nhất. Tam thiên đại thiên thế giới,
sở hữu nhất thiết tinh tú, chúng sanh, ư nhất
trú dạ, tất tri kỳ số.
Trong các đệ
tử của ta, Đại Mục Kiền Liên thần thông
đệ nhất: Đối với tất cả hết
thảy tinh tú và chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế
giới, ông ta có thể trong một ngày một đêm biết
trọn số đó.
Giải:
Trong đoạn văn trên chỉ nói đến công
đức của ḿnh ngài Mục Kiền Liên để làm
thí dụ. Việc biết được số lượng
tinh tú chỉ thấy ghi trong hai bản Hán dịch và Ngô dịch;
bản Hán dịch ghi là: “Ma Ha Mục
Kiền Liên phi hành tứ thiên hạ. Nhất nhật, nhất
dạ, biến số tinh, tri hữu kỷ mai dă” (Ma Ha Mục
Kiền Liên bay trong tứ thiên hạ, trong một ngày một
đêm đếm hết số ngôi sao, biết là có bao nhiêu
ngôi).
Chánh kinh:
假 使 十 方 眾 生,悉 成 緣 覺,一 一 緣 覺,壽 萬 億 歲,神 通 皆 如 大 目 犍 連。盡 其 壽 命,竭 其 智 力,悉 共 推 算,彼 佛 會 中 聲 聞 之 數,千 萬 分 中 不 及 一 分。
Giả sử thập phương chúng
sanh, tất thành Duyên Giác. Nhất nhất Duyên Giác, thọ
vạn ức tuế, thần thông giai như Đại Mục
Kiền Liên, tận kỳ thọ mạng, kiệt kỳ
trí lực, tất cộng thôi toán, bỉ Phật hội
trung Thanh Văn chi số, thiên vạn phần trung bất cập
nhất phần.
Giả sử
chúng sanh trong mười phương đều thành Duyên
Giác. Mỗi vị Duyên Giác thọ vạn ức năm, thần
thông đều như Đại Mục Kiền Liên, suốt cả
cuộc đời vắt kiệt trí lực, cùng nhau tính
toán chẳng thể tính nổi một phần ngàn vạn số
lượng Thanh Văn trong hội đức Phật ấy.
Giải:
Đoạn văn này kể rơ Thanh Văn nhiều vô số.
Ngài Mục Liên là bậc thần thông đệ nhất. Dẫu
cho mười phương chúng sanh đều đắc
thần thông giống hệt như ngài Mục Liên, dùng trọn
cả cuộc đời ḿnh dốc cạn trí lực, hợp
nhau tính toán số lượng thánh chúng trong cơi Cực Lạc
th́ những điều họ biết được chẳng
thể bằng nổi một phần ngàn vạn số
lượng thánh chúng trong cơi ấy.
Chánh kinh:
譬 如 大 海,深 廣 無 邊,設 取 一 毛,析 為 百 分,碎 如 微 塵。以 一 毛 塵,沾 海 一 滴,此 毛 塵 水,比 海 孰 多?阿 難,彼 目 犍 連 等 所 知 數 者,如 毛 塵 水,所 未 知 者,如 大 海 水。
Thí như
đại hải, thâm quảng vô biên, thiết thủ nhất
mao, tích vi bách phần, toái như vi trần.
Dĩ nhất mao
trần, triêm hải nhất trích, thử mao trần thủy,
tỷ hải thục đa?
A
Ví như đại
hải sâu rộng vô biên. Nếu lấy một sợi lông
chẻ thành trăm phần, nghiền nát như vi trần.
Đem mảnh bụi lông ấy chấm lấy một giọt
nước biển th́ nước dính vào mảnh lông ấy
so với biển cả, cái nào là nhiều?
Này A Nan! Con số
mà những người như Mục Kiền Liên biết được th́ như nước
dính nơi mảnh lông, số họ chưa biết như
nước biển cả.
Giải:
“Nhất mao” (một sợi lông) đă rất nhỏ bé, lại c̣n tách ra thành
trăm phần th́ lại càng nhỏ tí hơn nữa; “như vi trần” lại càng
cực nhỏ. Đem lượng nước dính vào mảnh bụi
lông ấy để ví cho con số đă biết; dùng con số
chẳng biết như nước biển cả để
ví thánh chúng cơi kia, con số ấy thật là vô lượng.
Chánh kinh:
彼 佛 壽 量,及 諸 菩 薩、聲 聞、天 人 壽 量 亦 爾,非 以 算 計 譬 喻 之 所 能 知。
Bỉ Phật thọ lượng,
cập chư Bồ Tát, Thanh Văn, thiên nhân
thọ lượng diệc nhĩ, phi dĩ toán kế
thí dụ chi sở năng tri.
Thọ lượng
của đức Phật ấy và thọ lượng của
các Bồ Tát, Thanh Văn, trời, người cũng giống
như thế, chẳng thể dùng toán số, thí dụ
để biết được nổi.
Giải:
Đoạn này kết hợp cả chủ lẫn bạn:
Giáo chủ thọ mạng vô lượng, hết thảy
đại chúng trong nước cũng đều thọ mạng
vô lượng giống như Phật. Di Đà đại ân
đức vi diệu khó nghĩ nổi. Kẻ ôm nghiệp
đi văng sanh (đới nghiệp văng sanh) một phen
đă sanh về cơi kia th́ chẳng bị thoái chuyển nữa,
thọ mạng cũng lại vô lượng. Do vậy,
trong cơi ấy ai cũng có thể trong một đời sẽ
kế vị thành Phật chứng cực quả. Cơi Sa Bà
này đă lắm duyên thoái chuyển, thọ mạng bất
quá trăm năm nên trong đời Mạt pháp, ức vạn
người tu hành mấy kẻ đắc đạo!
Sách Văng Sanh Luận có bài kệ như sau: “Chánh giác A Di Đà, pháp vương
khéo trụ tŕ”. Phật thọ vô lượng nên giáo hóa
đại chúng vô lượng. Những người
được Ngài giáo hóa đều là Bổ Xứ Bồ
Tát nên bảo là “khéo trụ tŕ”.
Sách c̣n ghi bài kệ sau: “Như
Lai tịnh hoa chúng, chánh giác hoa hóa sanh”, nghĩa là: Chúng hội
ấy đều hóa sanh trong hoa sen thanh tịnh của cơi A
Di Đà Phật “đều từ
biển trí huệ thanh tịnh của Như Lai sanh ra”, cũng đều
sanh ra từ tự tâm của A Di Đà Phật. V́ vậy, nhân
dân cơi nước ấy b́nh đẳng với Phật, thọ
mạng cũng đều vô lượng, Nhất Sanh Bổ
Xứ; đủ thấy cơi Cực Lạc chủ lẫn
bạn đều trang nghiêm, công đức thành tựu.