19. Thọ Dụng Cụ Túc (受
用 具 足: Thọ dụng đầy
đủ)
Phẩm này mang
tên “Thọ Dụng Cụ Túc” v́ tất cả chúng sanh cơi ấy
đều “h́nh mạo đoan
nghiêm, phước đức vô lượng, trí huệ minh
liễu, thần thông tự tại” (h́nh dung diện mạo đoan nghiêm, phước
đức vô lượng, trí huệ sáng suốt, thần
thông tự tại); những thứ thọ dụng
như vậy đều đầy đủ cả. Những
phẩm trước chỉ nói chung chung là thân tâm của
chánh báo, phước đức thù thắng của y báo
đều siêu thắng hy hữu; phẩm này đặc biệt
nói rơ về “phước đức
vô lượng”, y phục, thức ăn, cung điện
thảy đều “ứng niệm hiện tiền, vô bất
cụ túc” (theo ư nghĩ liền xuất hiện trước
mặt, không ǵ là chẳng đầy đủ).
Chánh kinh:
復 次 極 樂 世 界 所 有 眾 生,或 已 生,或 現 生,或 當 生,皆 得 如 是 諸 妙 色 身。形 貌 端 嚴,福 德 無 量。智 慧 明 了,神 通 自 在。受 用 種 種,一 切 豐 足。宮 殿、服 飾、香 花、幡 蓋,莊 嚴 之 具,隨 意 所 須,悉 皆 如 念。
Phục thứ
Cực Lạc thế giới sở hữu chúng sanh, hoặc
dĩ sanh, hoặc hiện sanh, hoặc đương sanh,
giai đắc như thị chư diệu
sắc thân. H́nh mạo
đoan nghiêm, phước đức vô lượng, trí huệ minh liễu, thần thông tự tại.
Thọ dụng chủng chủng nhất thiết phong túc,
cung điện, phục sức, hương, hoa, phan cái,
trang nghiêm chi cụ, tùy ư sở tu tất giai như niệm.
Lại nữa,
trong Cực Lạc thế giới, tất cả chúng sanh,
hoặc là đă sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ
sanh, đều được các sắc thân mầu nhiệm
như thế. H́nh mạo đoan nghiêm, phước đức
vô lượng, trí huệ sáng suốt, thần thông tự tại.
Hết thảy các thứ thọ dụng dư dật, cung
điện, phục sức, hương, hoa, phan, lọng,
vật trang nghiêm, tùy ư cần thứ ǵ đều
được như ḷng mong.
Giải:
Mấy câu đầu trong đoạn kinh này để
tiếp nối ư chúng sanh trong cơi ấy “dung sắc vi diệu” nói trong phẩm trước
nên mới chép là tất cả chúng sanh hoặc là đă văng
sanh trong quá khứ, hoặc đang văng sanh trong hiện tại,
hoặc sẽ văng sanh trong tương lai, đều
được “như thị
chư diệu sắc thân, h́nh mạo đoan nghiêm” (sắc thân nhiệm mầu như thế, h́nh
mạo đoan chánh, trang nghiêm). Chữ “như thị” (như thế) chỉ thân họ
vượt xa thân của Lục Dục thiên vương
đến ngàn vạn ức lần.
Những câu kinh tiếp đó nói rơ về sự thọ
dụng đầy đủ. Kinh Xưng Tán Tịnh Độ
nói: “Do bỉ giới trung
chư hữu t́nh loại, vô hữu nhất thiết thân
tâm ưu khổ, duy hữu vô lượng thanh tịnh hỷ
lạc” (Do các hữu t́nh
trong thế giới ấy chẳng có hết thảy nỗi
khổ nơi thân, nơi tâm, chỉ hưởng vô lượng
hỷ lạc thanh tịnh);
phẩm Quyết Chứng Cực Quả trong kinh này cũng
bảo: “Duy thọ thanh tịnh
tối thượng khoái lạc” (Chỉ hưởng
khoái lạc thanh tịnh tối thượng). Đó là “phước đức vô lượng”.
“Trí huệ minh liễu” (Trí huệ sáng suốt) là kết quả của
nguyện “quang minh, trí huệ,
biện tài”. Phật đă nguyện: “Thành tựu hết thảy trí huệ”; phẩm Bồ
Tát Tu Tŕ trong kinh này cũng nói hết thảy Bồ Tát trong
cơi ấy “chư Phật mật
tạng, cứu cánh minh liễu” (đối với các tạng bí mật của
chư Phật đều hiểu rơ rốt ráo). Những
câu như vậy đều diễn tả ư “trí huệ minh liễu”. Hơn nữa, trong chữ
“minh liễu”, minh (明) là minh bạch
rơ ràng, liễu (了) là rạch ṛi phân minh. Cái gọi
là “như thật tri tự tâm”
(biết tự tâm đúng
như thật) trong Mật giáo chính là trí huệ sáng suốt.
Câu “chiếu kiến Ngũ Uẩn
giai không” (soi thấy
Ngũ Uẩn đều không) cũng diễn tả ư: Trí huệ
sáng suốt.
“Thần thông tự tại” chính là “thần thông biến hóa, nhất
thiết thiên nhân bất khả vi tỷ, bách thiên vạn ức,
bất khả kế bội” (Thần thông biến hóa hết
thảy trời, người chẳng thể sánh nổi,
vượt hơn thần thông trời, người cơi này
đến trăm ngàn vạn ức chẳng thể tính lần).
Trong phẩm Bồ Tát Tu Tŕ, có câu: “Dĩ phương tiện trí, tăng trưởng
liễu tri, tùng bổn dĩ lai, an trụ thần thông” (Dùng
trí phương tiện tăng trưởng sự hiểu
biết rơ ràng; xuất phát từ cái gốc, an trụ trong
thần thông). Do vậy, thấu hiểu được cái
gốc của thần thông th́ mới có thể biến hóa
thần thông tự tại vô ngại. V́ vậy mới nói: “Đản đắc bổn, mạc
sầu mạt” (Đă nắm
được cái gốc, c̣n lo chi cái ngọn).
Căn Bản Trí chính là cái gốc, các thứ thần
thông chỉ là tánh chất phụ thuộc của Thánh Trí.
Do phước đức vô lượng nên cảm
được “thọ dụng
chủng chủng nhất thiết phong túc” (hết thảy các thứ thọ dụng
đều dư dật). Lại do trí huệ thần thông
nên “cung điện, phục sức,
hương, hoa, phan cái, trang nghiêm chi cụ, tùy ư sở tu tất
giai như niệm” (cung điện,
phục sức, hương hoa, phan, lọng, vật trang
nghiêm tùy ư cần dùng thảy đều thỏa ḷng mong). Tiếp đó, kinh lần lượt
diễn tả từng phương diện ăn uống,
y phục, chỗ ở. Trước hết kinh nói về vấn
đề ăn uống.
Chánh kinh:
若 欲 食 時,七 寶 缽 器,自 然 在 前,百 味 飲 食,自 然 盈 滿。雖 有 此 食,實 無 食 者。但 見 色 聞 香,以 意 為 食。色 力 增 長,而 無 便 穢。身 心 柔 軟,無 所 味 著。事 已 化 去,時 至 復 現。
Nhược
dục thực thời, thất bảo bát khí tự nhiên tại
tiền, bách vị ẩm thực, tự nhiên doanh măn. Tuy hữu thử thực, thật vô thực
giả. Đản kiến sắc, văn hương,
dĩ ư vi thực, sắc lực tăng
trưởng, nhi vô tiện uế, thân tâm nhu nhuyễn,
vô sở vị trước. Sự dĩ hóa khứ, thời
chí phục hiện.
Nếu lúc muốn
ăn th́ b́nh bát bằng bảy báu tự nhiên hiện ra
trước mặt, thức ăn trăm vị tự
nhiên đựng đầy ắp trong đó. Tuy có thức
ăn như vậy, nhưng không thật sự có ăn uống.
Chỉ nh́n thấy h́nh sắc, ngửi mùi hương, liền
nghĩ là đă ăn, sắc lực tăng trưởng,
chẳng có đại tiểu tiện dơ dáy, thân tâm nhu
nhuyễn, không tham đắm mùi vị. Ăn xong thức
ăn biến đi, đúng thời lại hiện ra.
Giải:
Chữ Bát (缽)
trong
“bát khí” (缽 器)
là
gọi tắt chữ Phạn Bát Đa La (Patra), Hán dịch là Ứng
Khí, hoặc Ứng Lượng Khí; đó là đồ dụng
đựng thức ăn của người xuất gia. Bản
Hán dịch ghi: “Măn kỳ trung
bách vị ẩm thực tự tứ, nhược tùy ư tắc
chí, diệc vô sở tùng lai, diệc vô hữu cung tác giả,
tự nhiên hóa sanh nhĩ” (Thức ăn trăm vị mặc
ḷng chứa đầy ắp trong bát, tùy ư hiện đến,
cũng chẳng từ đâu đến; cũng chẳng cần
phải cung cấp, nấu nướng, chỉ tự nhiên
hóa sanh mà thôi). Như vậy, các thứ như b́nh bát, thức
ăn… đều là từ bổn nguyện của Phật
Di Đà cảm thành nên chẳng cần phải tạo tác, cứ
tự nhiên xuất hiện.
Trong câu “bách vị ẩm thực”
(thức ăn trăm vị), chữ “bách vị” chỉ trăm thứ mùi vị ngon
lành. Đại Luận viết: “Có
kẻ bảo dùng trăm thứ bánh để cúng dường
nên gọi là trăm vị. Có hơn cả năm trăm loại
bánh nên vị của chúng phải
hơn trăm. Do đó gọi là trăm vị. Có kẻ bảo:
Trăm thứ dược thảo, dược quả, nghiền
làm Hỷ Hoàn cho người ăn uống nên gọi là
trăm vị”. Xét ra, thức ăn có được do
quả báo của Bồ Tát và thức ăn do Bồ Tát dùng
thần thông biến hóa ra đă có đến vô lượng
vị; vậy th́ thức ăn cam lộ vị cơi Cực
Lạc phải có đến chẳng thể nghĩ bàn vị.
Nói “bách vị” chỉ là thuận
theo thói quen của thế gian này mà thôi!
“Thật vô thực giả” (Thật sự chẳng có
ăn uống): Do chúng sanh cơi ấy hóa sanh từ hoa sen, thân
thanh hư, thể vô cực nên chẳng hề có cái khổ
đói, khát. V́ vậy, chẳng cần ăn uống, chỉ
là thích ư mà ăn thôi. Bởi thế, “kiến sắc, văn
hương, dĩ ư vi thực” (thấy h́nh sắc, ngửi mùi
hương, liền nghĩ là đă ăn), chứ thật
sự chẳng ăn uống ǵ. Những thức
ăn ấy lại có công dụng tăng thượng:
Tăng trưởng h́nh sắc, sức mạnh. Ăn xong
chẳng cần phải tiêu tiểu bẩn thỉu. Rơ ràng
là hết thảy mọi thức trong cơi Cực Lạc
đều siêu thế hy hữu!
Hơn nữa, ăn vào “thân
tâm nhu nhuyễn”, cũng chẳng tham đắm mùi vị
kỳ diệu của những thức ăn đó. Phẩm
Bồ Tát Tu Tŕ trong kinh này cũng bảo: “Ư sở thọ dụng, giai vô nhiếp thủ”
(Với tất cả những điều ḿnh thọ dụng
đều không có tâm giữ lấy) và “xả ly nhất thiết chấp trước”
(ĺa bỏ hết thảy chấp trước). V́ thế, “vô sở vị trước” (chẳng tham đắm mùi vị).
Ăn xong, thức ăn lại tự nhiên biến đi,
khi muốn ăn hễ nghĩ tới lại hiện
ra, hết thảy tự tại vô ngại vậy.
Đoạn kinh này hiển thị môn “trang nghiêm thọ dụng công đức thành tựu”
của Văng Sanh Luận. Bài kệ trong Luận như sau: “Ái nhạo Phật pháp vị, Thiền
tam-muội vi thực” (Yêu
thích Phật pháp vị, dùng thiền tam-muội làm thức
ăn). Sách Luận Chú giảng: “V́ thế, Phật hưng khởi đại nguyện,
nguyện trong cơi nước ta dùng Phật pháp, Thiền Định,
tam-muội làm thức ăn; dứt trọn vẹn cái khổ ăn uống
nơi phương khác”.
“Ái nhạo Phật pháp vị” (Yêu thích Phật pháp vị) là như khi Nhật Nguyệt
Đăng Minh Phật nói kinh Pháp Hoa suốt cả sáu
mươi tiểu kiếp, người nghe kinh trong hội
khi ấy cũng ngồi yên một chỗ suốt sáu
mươi tiểu kiếp mà tưởng chỉ lâu chừng
khoảng bữa ăn. Chẳng có một ai dù là thân hay tâm
sanh nhọc mỏi cả.
“Dùng Thiền Định làm thức
ăn” là các đại Bồ Tát thường trụ trong
tam-muội, không c̣n có các thứ ăn uống. Tam-muội
là nếu khi các trời, người cơi ấy cần
ăn th́ thức ăn ngon trăm vị bày la liệt
trước mặt; mắt thấy sắc, mũi ngửi
hương, thân hưởng vui sướng, tự nhiên no
đủ. Ăn xong biến mất đi. Nếu lại cần
nữa th́ tự nhiên hiện ra. Những việc như vậy
có chép trong kinh nên luận mới ghi: “Yêu thích Phật pháp vị; dùng Thiền tam-muội
làm thức ăn”.
Chánh kinh:
復 有 眾 寶 妙 衣、冠 帶、瓔 珞,無 量 光 明,百 千 妙 色,悉 皆 具 足,自 然 在 身。
Phục hữu chúng bảo diệu y, quan, đới, anh lạc, vô lượng quang
minh, bách thiên diệu sắc, tất giai cụ túc, tự
nhiên tại thân.
Lại có các thứ
y báu tốt đẹp, mũ, đai, chuỗi anh lạc vô
lượng quang minh, trăm ngàn sắc nhiệm mầu thảy
đều đầy đủ, tự nhiên khoác trên thân.
Giải:
Đoạn kinh này thuật rơ người cơi Cực Lạc
tự tại thọ dụng y phục, vật trang sức.
“Đới” (帶) là dây thắt lưng (đai). “Anh lạc” (瓔 珞): Đàn ông, đàn bà thuộc giới quư tộc
Ấn Độ thường kết ngọc thành chuỗi
để đeo trên ḿnh, gọi là “anh lạc”. Các thứ y phục, trang sức
như thế đều bằng các thứ báu hợp thành
nên kinh nói: “Chúng bảo diệu
y” (Các thứ áo báu tốt đẹp). V́ chúng do các báu hợp
thành nên có quang sắc vi diệu như Quán kinh tả: “Nhất nhất bảo trung, hữu
ngũ bách sắc quang” (Mỗi
một thứ báu tỏa ra năm trăm sắc quang).
Do đó, y phục, vật trang sức có “vô lượng quang minh”. Quán kinh lại bảo: “Nhất nhất quang minh, bát vạn
tứ thiên sắc” (Mỗi
một quang minh có tám vạn bốn ngàn màu) nên y phục,
vật trang sức có “bách thiên
diệu sắc” (trăm ngàn sắc nhiệm mầu). Nói
“trăm ngàn” cũng chỉ
là cách nói ước lệ để diễn tả một
con số rất lớn.
Trong mỗi sắc lại phóng quang minh như Quán kinh
nói: “Lưu ly sắc trung xuất kim sắc quang, pha ly sắc
trung xuất hồng sắc quang” (Trong sắc lưu ly tỏa
ánh sáng vàng ṛng; trong sắc pha lê tỏa ánh sáng màu hồng…)
Bởi thế, quang sắc trùng trùng vô tận. Các thứ y
phục, vật trang sức trang nghiêm trọn vẹn
như vậy tự nhiên hiện trên thân chẳng cần phải
nhọc công tạo tác.
Chánh kinh:
所 居 舍 宅,稱 其 形 色。寶 網 彌 覆,懸 諸 寶 鈴。奇 妙 珍 異,周 徧 校 飾。光 色 晃 曜,盡 極 嚴 麗。樓 觀 欄 楯,堂 宇 房 閣,廣 狹 方 圓,或 大 或 小,或 在 虛 空,或 在 平 地。清 淨 安 隱,微 妙 快 樂。應 念 現 前,無 不 具 足。
Sở cư xá trạch, xứng kỳ
h́nh sắc. Bảo vơng di phú, huyền chư bảo linh, kỳ
diệu, trân dị, châu biến hiệu sức, quang sắc
hoảng diệu, tận cực nghiêm lệ. Lâu, quán, lan thuẫn,
đường, vũ, pḥng, các, quảng hiệp
phương viên, hoặc đại, hoặc tiểu, hoặc
tại hư không, hoặc tại b́nh địa, thanh tịnh
an ổn, vi diệu khoái lạc, ứng niệm hiện tiền,
vô bất cụ túc.
Nhà cửa họ
ở đều tương xứng với h́nh sắc.
Lưới báu trùm khắp, treo các linh báu kỳ diệu, quư
lạ, trang hoàng trọn khắp, quang sắc chói ḷa, trang
nghiêm đẹp đẽ đến cùng cực. Lầu,
quán, lan can, đường vũ, pḥng, gác: rộng, hẹp,
vuông, tṛn, dù lớn hay nhỏ, hoặc ở trên không hay trên
mặt đất đều thanh tịnh an ổn, vi diệu,
khoái lạc, ứng theo tâm niệm mà hiện ra trước
không thứ ǵ chẳng đầy đủ.
Giải:
Đoạn kinh nói về việc thọ dụng chỗ ở
một cách đầy đủ.
“Xá trạch” (舍 宅: nhà cửa) là nơi để ở, tục
thường gọi là “túc xá,
trú trạch”. Sách Hội Sớ giảng chữ “h́nh sắc” trong câu “xứng kỳ h́nh sắc” (tương
xứng với h́nh sắc)
như sau: “H́nh (形) là
thân lớn hay nhỏ; sắc (色) là xanh, vàng, đỏ, trắng”. Câu này có thể
hiểu theo hai cách:
1. Một là h́nh thể và màu sắc của pḥng ốc
tương xứng, ḥa hợp với nhau.
2. Hai là h́nh dáng, kết cấu, màu sắc, kích thước
v.v… của nhà cửa đều tương xứng với
sắc tướng của người sống trong ấy.
Như vậy, h́nh dạng nhà cửa tương xứng
với thân một cách như ư; màu sắc nh́n vui mắt,
đẹp ḷng người.
“Bảo vơng” (寶 網) là lưới
do các viên bảo châu kết thành. “Di
phú” (彌 覆) là phủ kín. “Bảo linh” (寶 鈴) là các loại
phong linh (windchime) do các thứ trân bảo tạo thành, gió thổi
qua liền phát ra những âm thanh vi diệu. “Kỳ diệu trân dị” là lạ lùng, đặc
sắc, đẹp đẽ, tinh xảo, quư báu, hiếm lạ.
Câu kinh này khen ngợi sự thù thắng của các thứ
báu hợp thành lưới và linh. “Châu biến” (周 徧) nghĩa là khắp tất cả không sót chỗ
nào. Sách Hội Sớ giảng chữ “hiệu sức” (校 飾) như
sau: “Bày xen lẫn nhau để
tô điểm”. “Hoảng diệu”: Hoảng (晃) là sáng, tỏa
rạng, diệu (曜) là chiếu soi. Như trên đă
nói, trong mỗi quang minh có nhiều màu, mỗi màu lại tỏa
nhiều quang minh, chiếu rọi lẫn nhau nên bảo là “quang sắc hoảng diệu” (quang
sắc chói ngời). “Nghiêm lệ”:
Nghiêm (嚴) là trang nghiêm, Lệ (麗) là đẹp
đẽ.
“Đường vũ”: Đường (堂) là ṭa nhà lớn,
thời xưa gọi là “đường”,
từ thời Hán trở đi gọi là “điện” (殿). “Vũ” (宇) là dăy pḥng ở
hai bên điện, hoặc dăy nhà phụ của điện.
“Pḥng” (房) là chỗ ở.
Chỗ ở chánh giữa điện lại gọi là “chánh thất”, những chỗ
ở thuộc các dăy nhà phụ gọi là “pḥng”. “Các” (閣) là lầu. “Phương viên” (方 圓) là h́nh dáng vuông vức hay tṛn trịa.
Hơn nữa, những ǵ xây dựng thành một dăy thẳng
cũng gọi là “phương”,
xây theo đường cong th́ coi là “viên”. Ví dụ như xây theo h́nh cánh quạt th́
được coi là có cả h́nh dáng vuông lẫn tṛn.
Mỗi kiến trúc lớn, nhỏ, cao, thấp “hoặc tại hư không, hoặc
tại b́nh địa” (hoặc ở trên không hay trên mặt
đất) đều vừa
ư người ở, hễ nghĩ đến liền hiện
ra như bản Ngô dịch chép: “Sở
cư thất bảo xá trạch, trung hữu tại hư
không trung giả, hữu tại địa giả. Trung hữu
dục linh xá trạch tối cao giả, xá trạch tức
cao. Trung hữu dục linh xá trạch tối đại giả,
xá trạch tức đại. Trung hữu dục linh xá trạch
tại hư không giả, xá trạch tức tại hư
không trung. Giai tự nhiên tùy ư, tại sở tác vi” (Sống
trong nhà cửa bằng bảy báu; trong những nhà cửa ấy,
có cái ở trên hư không, có cái trên mặt đất. Nếu
người sống trong ấy muốn nhà cửa thật
cao th́ nhà cửa liền cao lên. Kẻ sống trong đó muốn
nhà cửa thật to th́ nhà cửa liền to ra. Kẻ sống
trong ấy muốn nhà ở trên hư không th́ nhà cửa liền
ở trên hư không. Hết thảy đều tự nhiên
biến hiện theo ư muốn). Như vậy, h́nh dáng, màu sắc,
kích thước của nhà cửa nơi cơi ấy, dù ở
trên hư không hay trên mặt đất, mỗi mỗi
đều thuận ư người, ứng hiện theo ư
nghĩ. Bản Đường dịch cũng ghi: “Ư chúng sanh tiền, tự
nhiên xuất hiện. Nhân giai tự vị các xử kỳ
cung” (Tự nhiên xuất hiện trước chúng sanh, ai
nấy tự cho là ḿnh ở trong cung điện ấy). Do chúng sanh vô lượng nên
có vô lượng cung điện, dung nhập lẫn nhau, dù
đây hay kia cũng chẳng hề trở ngại, thật
là đă hiển thị rơ pháp giới sự sự vô ngại.
Sách Hội Sớ giảng câu “thanh tịnh an ổn, vi diệu khoái lạc”
như sau: “Không có Ngũ Trược
nên thanh tịnh; không biến đổi nên an ổn, ngay
đến từng hạt bụi cũng đă là chẳng
thể nghĩ bàn nên vi diệu. Vĩnh viễn xa ĺa nỗi
khổ năo nơi thân tâm nên khoái
lạc”.
Lại theo Văng Sanh Luận, tất cả điều
trên đều từ một thanh tịnh cú biến hiện
nên bảo là “thanh tịnh”.
Các vật thọ dụng chẳng thể nghĩ bàn trên
đây đều ứng theo tâm niệm lập tức hiển
hiện nên bảo là “ứng niệm
hiện tiền” (ứng theo tâm niệm mà hiện ra
trước mặt). Các vật thọ dụng viên minh cụ
đức không thiếu, không dư nên bảo “vô bất cụ túc” (không thứ
ǵ chẳng đầy đủ).