32. Thọ lạc vô cực (壽
樂 無
極: Thọ mạng và niềm vui vô cực)
Phẩm này nói đến tuổi thọ và sự vui
sướng nơi cơi Cực Lạc đều vô cực.
Trước hết, kinh nói đến chúng hội thù thắng
nơi cơi ấy, khuyến dụ chúng sanh nên thân cận. Tiếp
đó, kinh miêu tả những điều vi diệu trong cơi
Cực Lạc để khuyến dụ văng sanh.
Chánh kinh:
佛 告 彌 勒 菩 薩、諸 天 人 等:無 量 壽 國,聲 聞 菩 薩,功 德 智 慧,不 可 稱 說。又 其 國 土 微 妙 安 樂,清 淨 若 此。何 不 力 為 善,念 道 之 自 然。
Phật
cáo Di Lặc Bồ Tát, chư thiên nhân
đẳng:
-
Vô Lượng Thọ quốc, Thanh Văn, Bồ Tát, công
đức trí huệ, bất khả xưng thuyết. Hựu
kỳ quốc độ vi diệu an lạc,
thanh tịnh nhược thử. Hà bất lực vi thiện, niệm đạo chi tự
nhiên.
Phật bảo
Di Lặc Bồ Tát [và] các hàng trời người rằng:
- [Trong] nước
Vô Lượng Thọ Phật, công đức trí huệ của
Thanh Văn, Bồ Tát chẳng thể nói kể. Cơi nước
ấy lại vi diệu, an lạc, thanh tịnh như thế.
Sao không ra sức làm lành, niệm đạo tự nhiên?
Giải:
Đoạn kinh này nêu lên cả thánh chúng lẫn cơi nước
để khuyến dụ chúng sanh.
Câu “Phật cáo Di Lặc” (Phật
bảo Di Lặc) ngụ ư: Từ phẩm này trở đi,
ngài Di Lặc là đương cơ chính, A Nan chỉ
đóng vai phụ. Trong phẩm bốn mươi tám, Phật
bảo ngài Di Lặc: “Ngă kim
như lư tuyên thuyết như thị quảng đại vi
diệu pháp môn, nhất thiết chư Phật chi sở
xưng tán, phó chúc nhữ đẳng, tác đại thủ
hộ” (Ta nay đúng như lư tuyên nói pháp môn vi diệu rộng
lớn như thế này, [là pháp] được hết thảy
chư Phật khen ngợi, phó chúc các ông thực hiện sự
thủ hộ lớn lao). Như vậy Di Lặc Bồ Tát
trong tương lai giáng sanh ắt sẽ tuân lời phó chúc
của Phật mà diễn thuyết kinh này.
Sách Hội Sớ giảng câu “vi diệu, an lạc, thanh tịnh” như sau: “Trang nghiêm siêu tuyệt nên bảo
là ‘vi diệu’. Chẳng có khổ năo nên bảo ‘an lạc’.
Tướng vô lậu, tướng vô tướng nên bảo
là thanh tịnh”. Ư nói: Hết thảy sự tướng
cơi Cực Lạc đều là diệu tướng vô lậu.
Hơn nữa, Thật Tướng chẳng phải là vô
tướng, cũng chẳng phải là bất tướng
nên mọi thứ hiện ra đều là Thật Tướng.
Do mọi tướng hiện hữu trong cơi Cực Lạc
đều là tướng vô lậu, tướng Thật
Tướng nên Phật bảo là “thanh tịnh”.
Hai câu cuối của đoạn chánh kinh trên được
Tịnh Ảnh Sớ giảng như sau: “Sao chẳng tận hết sức làm lành để cầu
sanh nên bảo là ‘lực vi thiện’ (gắng sức làm
lành). Niệm đạo th́ tự nhiên văng sanh nên bảo là
tự nhiên”.
Sách Hội Sớ giảng: “Hai
chữ ‘hà bất’ (sao chẳng) là lời khích lệ, dẫn
đến hai nghĩa: Có hai điều lành! Thứ nhất
là xưng danh niệm Phật, đây chính là điều lành
căn bản. Thứ hai là rộng
hành các điều thiện, hồi hướng văng sanh.
Niệm gồm hai nghĩa:
Niệm là năng niệm, đạo là điều
được niệm (sở niệm).
Đạo cũng có hai thứ:
- Thứ nhất là Di Đà bổn
nguyện, đây là tha lực đại đạo; chẳng
cậy vào tự lực để tu thiện, hễ vượt
thoát liền chứng nhập ngay nên gọi là tự nhiên.
- Thứ hai là đạo
được chứng bởi tam thừa vô vi tự nhiên,
tánh chẳng tạo tác nên cũng gọi là tự nhiên.
Tuy có hai nghĩa, nhưng chủ
yếu là nghĩa thứ nhất”.
Tịnh Ảnh Sớ dùng ư “làm
lành cầu được văng sanh” để giảng chữ
“lực vi thiện” (gắng
sức làm lành), coi tự nhiên văng sanh là ư nghĩa chữ “niệm tự nhiên”. Nói
như vậy là nói vắn tắt. Ư Ngài Tịnh Ảnh là
dùng công đức của việc lành để hồi
hướng Tịnh Độ, tận lực cầu văng sanh
th́ gọi là “lực vi thiện”.
Giảng như vậy rất hay.
Tiếp đó, Ngài nói: Tự nhiên văng sanh chính là “niệm đạo chi tự
nhiên”. Giảng như vậy quá vắn tắt, cách giải
thích của Hội Sớ hay hơn, chỉ thẳng ra:
Xưng danh niệm Phật là cội gốc của làm lành
và đó là chánh hạnh. “Rộng
làm các điều thiện, hồi hướng cầu
được văng sanh” cũng là “làm lành” nhưng chỉ là trợ hạnh. Nêu lên cả
chánh hạnh lẫn trợ hạnh, chánh phụ phân minh
chính là ưu điểm của Hội Sớ.
Đến ư “đạo chi tự
nhiên”, sách Hội Sớ càng giảng hay hơn nữa.
Sách nêu ra hai nghĩa: Một là dùng tha lực để
vượt thẳng [khỏi tam giới] cho nên là tự
nhiên; hai là do vô vi vô tác nên là tự nhiên; nhưng nghĩa thứ
nhất là chánh yếu. Thuyết này cực hay, v́ điểm
mầu nhiệm của Tịnh tông thật đúng như
sách Yếu Giải nhận định: “Từ sự tŕ đạt được lư tŕ”
nên chỉ cần thật thà niệm Phật th́ tự nhiên
đạt được những điều như “vô tác, vô vi”…
Cả hai thuyết vừa nêu trên đều là lập
luận dựa trên bản Ngụy dịch (câu kinh trước
câu “niệm đạo chi tự
nhiên” chỉ thấy trong bản Ngụy dịch); trong
hai bản Ngô dịch và Hán dịch, tiếp ngay sau câu “niệm đạo tự nhiên” là
cả một đoạn văn dài thuật chi tiết về
công đức của Bồ Tát cơi Cực Lạc và cơi
nước tự nhiên tối thắng. Hội bản chọn
lấy, ghép thành phẩm này.
Do đó, trong hội bản đây, ngay sau chữ “niệm đạo chi tự
nhiên” ta thấy có đến tám chữ “tự nhiên” như “tự
nhiên nghiêm chỉnh”, “tự nhiên vô vi”, “tự nhiên bảo thủ”,
“tự nhiên trung tự nhiên tướng”, “tự nhiên chi hữu
căn bản”, “tự nhiên quang sắc tham hồi”, “tự
nhiên sở khiên tùy”; đủ thấy hai chữ “tự nhiên” rất trọng yếu.
Ở đây, “tự nhiên”
chẳng có nghĩa là tự nhiên không do nhân ǵ như ngoại
đạo thường nói, mà “tự
nhiên” có nghĩa là pháp vốn như vậy. “Tự” (自) là tự tánh, “nhiên” (然) được hiểu là “thanh
tịnh bổn nhiên” (vốn sẵn thanh tịnh như
vậy) như trong kinh Lăng Nghiêm nói. Như vậy, chữ
“tự nhiên” bao hàm ư nghĩa
tự tánh bổn nhiên; mà tự tánh bổn nhiên chính là Chân
Như, Thật Tướng. Như vậy, “niệm đạo chi tự nhiên” chính là tŕ danh niệm
Phật, cũng chính là niệm Thật Tướng như
sách Di Đà Yếu Giải đă giảng:
“Thật Tướng vô nhị
mà cũng vô bất nhị. V́ thế, toàn thể làm y báo,
chánh báo, làm pháp thân, làm báo
thân, làm tự, làm tha, cho đến người nói, pháp
được nói, kẻ độ, người được
độ, người tin, vị Phật được
tin, người phát nguyện, điều phát nguyện,
người tŕ danh, danh hiệu
được tŕ, người văng sanh, cơi được
văng sanh về, người khen ngợi, vị Phật
được khen ngợi. Không ǵ là chẳng được
chánh ấn Thật Tướng in vào”.
V́ vậy, sách Hội Sớ coi đạo vô vi vô tác là
đạo tự nhiên; lại c̣n xem tha lực pháp môn hễ
vượt thoát (văng sanh) liền chứng nhập ngay là tự
nhiên. Giảng như vậy đều nói lên ư chỉ chánh
yếu của Trung Đạo. So ra, tuy lời văn có khác với
lời giảng của Yếu Giải, nhưng ư chỉ
tương đồng. Nương theo tín nguyện tŕ
danh, nương vào tha lực đại đạo liền
được văng sanh Cực Lạc. Tŕ danh chính là niệm
Thật Tướng, là con đường trang nghiêm để
hễ vượt thoát liền chứng nhập ngay. Con
đường như vậy, pháp tánh của nó vốn sẵn
tự nhiên.
Chánh kinh:
出 入 供 養,觀 經 行 道。喜 樂 久 習,才 猛 智 慧。心 不 中 迴,意 無 懈 時。外 若 遲 緩,內 獨 駛 急。容 容 虛 空,適 得 其 中。中 表 相 應,自 然 嚴 整。檢 斂 端 直,身 心 潔 淨。無 有 愛 貪,志 願 安 定。無 增 缺 減,求 道 和 正。不 誤 傾 邪,隨 經 約 令。不 敢 蹉 跌,若 於 繩 墨。咸 為 道 慕,曠 無 他 念。無 有 憂 思。
Xuất nhập
cúng dường, quán kinh hành đạo, hỷ nhạo cửu
tập, tài mănh trí huệ. Tâm bất trung hồi, ư vô giải
thời. Ngoại
nhược tŕ hoăn, nội độc sử cấp. Dung
dung hư không, thích đắc kỳ trung. Trung biểu
tương ứng, tự nhiên nghiêm chỉnh. Kiểm liễm
đoan trực, thân tâm khiết tịnh. Vô hữu ái tham,
chí nguyện an định. Vô tăng khuyết
giảm, cầu đạo ḥa chánh, bất ngộ khuynh tà,
tùy kinh ước lệnh, bất cảm tha trật,
nhược ư thằng mặc. Hàm vi
đạo mộ, khoáng vô tha niệm, vô hữu ưu
tư.
Từ lâu đă
vui thích tu tập ra vào cúng dường, xem kinh, hành đạo.
Trí huệ, tài năng bén nhạy. Tâm chẳng nửa chừng
sanh hối hận, ư không lúc nào biếng nhác. Bề ngoài
thong thả, bên trong luôn gấp rút. Tâm thênh thang như hư
không, khế hội Trung Đạo. Trong, ngoài tương
ưng, tự nhiên nghiêm chỉnh, kiềm chế, thâu liễm,
đoan nghiêm, chánh trực. Thân tâm khiết tịnh, chẳng
có tham ái. Chí nguyện an định chẳng tăng, chẳng
khuyết giảm. Cầu đạo, ḥa chánh, chẳng lầm
lạc, khuynh tà. Tuân theo những ước thúc, giáo lệnh
trong kinh như giữ thừng mực chẳng dám sai sảy.
Đều v́ mộ đạo, tâm thênh thang, trọn không có niệm
khác, chẳng có lo nghĩ.
Giải:
Đoạn kinh này nói về công đức thù thắng của
đại chúng trong pháp hội cơi Cực Lạc.
Chữ “xuất nhập
cúng dường” trích từ hai bản Hán dịch và Ngô dịch.
Nguyên văn c̣n có đoạn: “Câu
tương tùy phi hành, phiên bối xuất nhập, cúng
dường vô cực” (Đều theo nhau bay đi, lần
lượt ra vào, cúng dường vô cực). Ư nói: Các vị
Bồ Tát, A La Hán từ cơi Cực Lạc bay đến
mười phương, hưng khởi đủ các sự
cúng dường lớn lao. Đấy là tu phước. “Quán kinh, hành đạo” (Xem
kinh, hành đạo) là tu Huệ. Thánh chúng cơi ấy đối
với hai thứ phước huệ trang nghiêm này đều
“hỷ nhạo” (vui thích) nên
“cửu tập” (đă tu tập
từ lâu).
Tiếp đó, chữ “tài
mănh” nên hiểu như trong phẩm Pháp Tạng Nhân Địa
đă ghi: “Tài cao dũng triết,
siêu dị ư thế”. Tài năng dũng mănh là do trí huệ.
V́ vậy, “trí huệ, tài mănh”
(tạm dịch “trí huệ, tài
năng bén nhạy”) nghĩa là huệ căn bén nhạy,
tài năng hơn đời.
“Tâm bất trung hồi”: “Hồi” (迴) là thoái lui. “Trung hồi” là đang giữa
đường tu bỗng thoái chuyển. Sở dĩ thoái
chuyển là do ḷng tin chẳng vững, gặp duyên liền
thoái thất. Thánh chúng cơi Cực Lạc trí huệ bén nhạy,
đoạn nghi, sanh tín kiên cố chẳng lay động
như núi Kim Cang nên “tâm bất
trung hồi” (tâm chẳng lui sụt giữa chừng), thẳng
tiến một lèo.
“Ư vô giải thời” (Ư không lúc nào biếng
nhác): “Giải” (懈) là lười nhác. Biếng nhác là v́ nguyện chẳng
sâu. Nguyện chẳng sâu xa, khẩn thiết th́ không có sức
hành tŕ.
“Tŕ hoăn”: Tŕ (遲) là từ từ,
là an nhàn, Hoăn (緩) là thong thả. V́ thế, “tŕ
hoăn” biểu thị sự an nhàn, trầm ổn, chẳng
khẩn trương, gấp gáp. “Sử cấp”: Sử
(駛) là nhanh chóng, Cấp (急) là gấp rút, cấp
tốc. “Ngoại nhược
tŕ hoăn, nội độc sử cấp” (Bề ngoài
thong thả, bên trong luôn gấp rút) là nói vẻ ngoài thong
dong, nhàn hạ, tựa hồ vô sự, nhưng trong nội
tâm luôn tinh tấn chẳng ngơi, niệm niệm tiếp
nối, tâm tâm chẳng gián đoạn, chẳng để
lỡ một sát-na nào mà chẳng quán chiếu nên kinh mới
nói: “Nội nhược sử
cấp” (Trong luôn gấp rút). “Dung
dung” (容 容) nghĩa là chan ḥa, không lập dị.
Như trong bộ Tả Hùng Truyện đời Hậu Hán
có câu: “Dung dung đa hậu
phước” (Lắm phước dầy chan ḥa). Câu “dung dung hư không” trong kinh này
chỉ tâm thánh chúng chan ḥa như hư không. Do hư không
không có bờ mé nên tự tâm cũng không có bờ mé. Hư
không chẳng có một vật nên tự tâm cũng chẳng
có một vật. Do hư không rỗng không nên sum la vạn
tượng, mười phương cơi nước đều
nương vào hư không mà sanh. Hư không tạo dựng vạn
vật nên tự tâm cũng tạo lập vạn vật.
Do không có một vật nên chẳng rơi vào hữu biên. Do
dung chứa vạn vật nên không bị rơi vào Không biên.
Chẳng có một vật mà lại dung chứa muôn vật
nên chiếu được cả Không lẫn Hữu. Chứa
đựng vạn vật mà không hề có một vật
nào cả nên cả Không lẫn Hữu đều mất,
thung dung Trung Đạo nên mới bảo là “thích đắc kỳ trung” (khế hội Trung Đạo).
Thích (適) là vừa khớp, đắc (得) hàm ư khế hội,
chữ Trung (中) ở đây chỉ Trung Đạo.
Như kinh Kim Cang dạy: “Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Hăy nên không trụ vào đâu mà sanh cái tâm ḿnh). Vô
trụ chính là sanh tâm, sanh tâm chính là vô trụ, đấy
nghĩa là Trung Đạo.
“Trung biểu tương ứng” (trong ngoài
tương ứng); “trung” (中) là nội tâm, “biểu” (表) là những cái
được biểu hiện ra ngoài. Tâm Bồ Tát khế
hợp Trung Đạo, vừa đạt được trong
tâm vừa biểu hiện ra ngoài nên cả trong lẫn ngoài
đều như một, tự nhiên tương ứng, chẳng
cần phải an bài tạo tác nên “tự nhiên nghiêm chỉnh”.
Từ chữ “tự nhiên
nghiêm chỉnh” cho đến chữ “vô hữu ưu tư” (chẳng có lo nghĩ) là cả
một đoạn lớn. Những diệu đức của
Bồ Tát được nêu trong đoạn này toàn là do “thích đắc kỳ trung” (khế hội Trung Đạo)
tạo thành.
“Nghiêm chỉnh” (嚴 整) là nghiêm túc, chỉnh
tề, chữ này diễn tả oai nghi của thánh chúng.
“Kiểm liễm đoan trực”
chính
là nội dung của oai nghi “nghiêm
chỉnh”. “Kiểm” (檢) là kềm giữ
chẳng để phân tán; “liễm”
(斂) là thâu liễm, tức thâu gom lại. Như vậy,
“kiểm liễm” chính là
như kinh đă nói “nhĩ mục
khẩu tỵ giai đương tự đoan” (mắt, tai, miệng, lưỡi
thảy đều tự đoan chánh). Ǵn giữ cái nghe,
kiềm chế cái nh́n để tuyệt các ư ngoại
duyên.
Thêm nữa, “đoan” (端) là đoan chánh, “trực” (直) là chẳng cong
quẹo, là chánh trực. V́ thế, chữ “đoan trực” ngoài chỉ vẻ oai nghi nơi
thân trang nghiêm, trong chỉ tâm ư chánh trực. Đấy là cả
thân lẫn tâm đều đoan nghiêm.
“Thân tâm khiết tịnh, vô
hữu ái tham” (Thân tâm khiết tịnh, chẳng tham ái) là v́
khế hội Trung Đạo nên Sắc chẳng khác Không, Không
nào khác Sắc, soi thấu suốt khách trần, tự nhiên
ly ái, chẳng có tham nhiễm, thân tâm tự nhiên khiết tịnh.
“Chí nguyện an định,
vô tăng khuyết giảm” (Chí nguyện an định, không
tăng lên hay khuyết giảm): Chữ “an” (安) gồm có các nghĩa tịch
tĩnh, định, ngưng lặng, yên ổn, vui vẻ,
tốt lành, không mong cầu. “Định”
(定) là quyết
định, kiên định, chẳng hề lay động,
biến đổi. Các thệ nguyện đă phát của
thánh chúng cơi kia tự nhiên kiên định, chẳng hề
chợt tăng, chợt giảm, chợt bỏ qua, hay chợt
bị khuyết thiếu, đúng như kinh nói: “Túng sử thân chỉ chư khổ
trung, như thị nguyện tâm vĩnh bất thoái” (Ví
dù thân ở trong các khổ, nguyện tâm như vậy măi
măi chẳng thoái thất). Đấy
chính là khuôn phép cho “chí nguyện
an định, vô tăng khuyết giảm”.
“Cầu đạo ḥa chánh,
vô ngộ khuynh tà” (Cầu đạo ḥa chánh, chẳng lầm lạc,
khuynh tà): Chữ “ḥa” (和) bao gồm các nghĩa: điều
ḥa, hài ḥa, ôn ḥa, b́nh ổn, ḥa kính, ḥa hợp, vui vẻ,
tương ứng. “Chánh” (正) là như một, luôn giữ như một.
Chánh gồm đủ các nghĩa: đúng đắn, không
thiên lệch, thường, ngưng dứt, hạnh không lệch
lạc, không tà vạy, thẳng thắn, chẳng khuất
khúc. Thánh chúng cơi Cực Lạc ḥa b́nh, trung chánh, v́ cầu
vô thượng đạo nên chẳng bị những
điều nghiêng lệch, tà vạy gây lầm lẫn. “Khuynh” (傾) là nghiêng lệch,
lật úp; “tà” (邪) là tà ác, tà ngoại.
Thánh chúng cơi ấy chẳng bị những thứ
khuynh tà làm lầm lạc là v́ họ “tùy kinh ước lệnh, bất cảm
tha trật, nhược ư thằng mặc” (Tuân theo những ước thúc, giáo lệnh
trong kinh như giữ thừng mực, chẳng dám sai sảy). “Ước” (約) là ước
thúc, “lệnh”(令) là mệnh lệnh, pháp luật,
giáo lệnh. “Thằng mặc” (繩 墨) là như khi thợ mộc thao
tác, dùng sợi dây (thằng) nhúng mực (mặc) [căng
ra] búng dây đánh dấu, rồi cứ theo dấu ấy mà
làm, chẳng dám sai chạy chút nào nên khỏi bị hư
hao, chẳng bị cong quẹo, lệch lạc.
Trong phẩm Cần Tu Kiên Tŕ (siêng tu giữ vững)
của kinh này, những câu như: “Tùy thuận ngă giáo, đương hiếu ư Phật”
(Tùy thuận lời dạy của ta là hiếu với
Phật), “vô đắc vi vọng,
tăng giảng kinh pháp” (chẳng được làm xằng,
tăng giảm kinh pháp) cũng mang cùng ư nghĩa như vậy.
Đấy chính là “ly kinh nhất tự,
tức đồng ma thuyết” (rời ngoài một chữ
trong kinh th́ giống như lời ma nói). Những hành nhân
trong đời phải nên lấy thánh ngôn làm chỗ y chỉ
vậy.
“Hàm vi mộ đạo,
khoáng vô tha niệm, vô hữu ưu tư” (Đều v́ mộ
đạo, tâm thênh thang, trọn không có niệm khác, chẳng
có lo nghĩ): Câu thứ nhất ư nói những điều
mong cầu trong tâm đều là lẽ đạo tột
cùng. Câu thứ hai ư nói: Tâm mênh mông, chẳng c̣n vọng niệm.
Ư câu ba là tín tâm kiên định, trí huệ rơ suốt không
nghi nơi pháp, nên chẳng c̣n có ư tưởng lo nghĩ.
Nếu hiểu theo quan điểm của Tịnh tông
th́ “khoáng vô tha niệm” (tâm
thênh thang, trọn không c̣n niệm khác) chính là buông bỏ vạn
duyên, “hàm vi mộ đạo” (đều
v́ mộ đạo) là chỉ đề cao nhất niệm,
“vô hữu ưu tư” (không
c̣n lo nghĩ) chính là ngay trong một niệm là Phật. Một
tiếng niệm Phật hiệu muôn mối lo nghĩ đều
tiêu tan, linh quang độc diệu, thoát khỏi căn trần,
chỉ c̣n lại mỗi cái tâm đă hết sạch phiền
năo nên c̣n có ǵ là vui, ǵ là buồn nữa. V́ thế, kinh mới
bảo “vô hữu ưu tư”.
Chánh kinh:
自 然 無 為。虛 空 無 立,淡 安 無 欲。作 得 善 願,盡 心 求 索。含 哀 慈 愍,禮 義 都 合。苞 羅 表 裏,過 度 解 脫。
Tự
nhiên vô vi, hư không vô lập. Đạm an vô dục, tác đắc thiện
nguyện. Tận tâm cầu sách, hàm ai từ mẫn, lễ
nghĩa đô hợp. Bao la biểu lư, quá độ giải
thoát.
Tự nhiên vô
vi, hư không chẳng lập. Đạm bạc, an tịnh, vô
dục tạo thành thiện nguyện. Tận tâm t́m ṭi, gắng
gỏi, xót thương từ mẫn, đều hợp lễ
nghĩa. Sự lư viên dung, vượt khỏi sanh tử, giải
thoát.
Giải:
Hai chữ “tự nhiên”
xuyên suốt toàn đoạn kinh này, ấy là do “thích đắc kỳ Trung” (khế hội Trung Đạo)
nên tự nhiên như thế.
“Tự nhiên vô vi” là chẳng do tạo
tác, tự nhiên an trụ trong pháp vô vi. Đấy là vô vi chân thật.
Nếu là do tạo tác th́ đă trở thành hữu vi mất
rồi. Chữ “hư không” ngụ
ư tâm như hư không, rộng mở vô hạn, ly cấu vô
nhiễm, chẳng nhận chứa mảy trần. “Vô lập” (chẳng lập)
nghĩa là chẳng lập một pháp nào cả.
“Đạm” (淡) là đạm
bạc, “an” (安) là an tịnh.
Chữ “đạm an” c̣n
dùng để mô tả trạng thái nước tuôn chảy
êm đềm, đầy tràn. Bài phú của Tống Ngọc
trong bộ Văn Tuyển có câu: “Hội
đạm an nhi tịnh nhập” (Nước tuôn tràn êm
đềm cùng chảy). Sóng nước liên tục tựa
như luôn tiếp nối nhau nên được dùng để
ví cái tâm ĺa khỏi Đoạn lẫn Thường. Ḍng nước
êm đềm, tràn đầy ví như cái tâm b́nh đẳng,
viên măn.
Sách Đại Thừa Nghĩa Chương giảng chữ
“dục” (欲) trong “vô dục” như sau: “Nhiễm ái trần cảnh gọi
là Dục”. Sách c̣n bảo: “Muốn
nhận lấy duyên th́ gọi là Dục”. Câu Xá Luận lại
bảo: “Dục là mong cầu
làm ra sự nghiệp”.
Theo đó, những điều như “xả chư ái trước” (bỏ các chấp trước ái kiến) và “diệc vô hy cầu, bất hy cầu
tưởng” (cũng chẳng
có ư tưởng mong cầu hay chẳng mong cầu)
được nói trong kinh này đều là “vô dục” cả.
Ba câu vừa giảng trên đều thể hiện ư “về mặt lư chân thật Thật
Tế, chẳng nhận lấy mảy trần”;
nhưng đối với muôn hạnh môn lại “chẳng bỏ một pháp nào”
nên kinh mới dạy tiếp: “Tác
đắc thiện nguyện, tận tâm cầu sách” (Tạo
thành thiện nguyện, tận tâm t́m ṭi, gắng gỏi),
hiển thị rơ ràng diệu nghĩa sự lư vô ngại,
viên dung tự tại.
Trong phẩm Đức Tuân Phổ Hiền đă nói: Các
đại Bồ Tát trong hội “nhập
không, vô tướng, vô nguyện pháp môn”, nhưng các vị
“hàm cộng tuân tu Phổ Hiền
đại sĩ chi hạnh, cụ túc vô lượng hạnh
nguyện” (đều cùng
tuân tu đức hạnh của Phổ Hiền đại
sĩ, đầy đủ vô lượng hạnh nguyện).
Điều ấy thật tương đồng với
sự kiện các Bồ Tát lại do vô vi, vô nguyện, vô lập,
vô dục mà “tác đắc thiện
nguyện, tận tâm cầu sách” (tạo thành thiện nguyện, tận tâm t́m ṭi, gắng
gỏi) được nói ở đây.
Hơn nữa, trong phẩm Chí Tâm Tinh Tấn có câu: “Kết
đắc đại nguyện, tinh cần cầu sách”
(Kết thành đại nguyện, siêng gắng cầu t́m,
thực hiện) Ta thấy rơ, thánh chúng cơi Cực Lạc
đều tôn thờ học theo Phật Di Đà, tu tập
chuyên gắng, trụ Chân Thật Huệ để cầu
thành tựu.
Tiếp đó, chữ “hàm
ai” (含 哀: xót thương) chỉ tâm đại bi. “Từ mẫn” (慈 愍) là tâm đại từ. Do đại từ
bi nên dẫu biết rơ thật sự không có chúng sanh để
độ, nhưng hạnh nguyện độ sanh vẫn
chẳng cùng tận. Bởi thế “tâm thường đế trụ độ thế
chi đạo” (tâm thường
trụ chắc nơi đạo độ thế), “dục chửng quần manh, huệ
dĩ chân thật chi lợi” (muốn cứu vớt quần manh, ban cho cái lợi
chân thật). Cái đại nguyện được kết
thành ấy tự nhiên khế lư khế cơ, chiếu Chân,
đạt Tục; do khế lư chiếu Chân nên đại
nguyện ấy lấy Thật Tướng làm Thể, liễu
nghĩa rốt ráo, lực dụng vô lượng. Do khế
cơ và thấu hiểu thế gian nên khéo phù hợp cơ
nghi.
“Lễ nghĩa đô hợp”
(Đều
hợp lễ nghĩa): Lễ nghĩa chính là nhân, lễ,
nghĩa, trí, tín, tức là đạo đức thế
gian. Hai chữ này chẳng những để chỉ đạo
đức của xă hội đương thời hay thời
cổ Ấn Độ mà c̣n chỉ chung tất cả các chuẩn
mực, quy luật đạo đức của xă hội
trong các thời đại mai sau. Đại nguyện đă phát
phải phù hợp với đạo đức xă hội
th́ mới được xă hội đương thời
chấp nhận; có như vậy mới có thể hoằng
dương giáo nghĩa, lợi khắp các chúng sanh
được.
“Bao la biểu lư” (tạm dịch:
Sự lư viên dung): “Bao” (包) là chứa
đựng; ngài Gia Tường giảng: “La (羅) là thâu tóm”. Như vậy, “bao la” nghĩa là bao dung, hàm chứa. “Biểu” (表: bên ngoài) chỉ
sự tướng; “lư” (裏: bên trong) chỉ
lư thể. Do đó, “bao la biểu
lư” chính là Sự lẫn Lư cùng viên măn, Chân lẫn Tục
cùng chiếu, trọn thâu các điểm nhiệm mầu,
nhiếp khắp muôn loại, thượng trí hạ ngu
đều được độ thoát. Thế gian, xuất
thế gian đều dung thông vô ngại.
“Quá độ” (過 度): Bản Ngô dịch
ghi tựa đề kinh này là “Quá
Độ Nhân Đạo Kinh”; quá độ nghĩa là tự
ḿnh thoát khỏi sanh tử lại c̣n khiến cho người
khác cũng thoát sanh tử.
“Giải thoát” (解 脫) là cởi bỏ những trói buộc của Hoặc
nghiệp, thoát khỏi cái khổ tam nghiệp. Sách Duy Thức
Thuật Kư nói: “Giải là rời
khỏi triền phược, Thoát là tự tại”.
Sách c̣n bảo: “Nói giải
thoát đó th́ Thể của nó là viên tịch. Các hữu t́nh
do bị phiền năo chướng ngại, trói trăn, nên
luôn ở trong sanh tử. Chứng
được viên tịch rồi th́ xa ĺa được
những trói trăn đó nên gọi là giải thoát”.
Ư nói: Đại nguyện của thánh chúng là không những
chỉ nhằm khiến cho tự thân thoát khỏi sanh tử
mà c̣n làm cho hết thảy hữu t́nh cùng thoát khỏi sanh tử,
vĩnh viễn được giải thoát nên mới bảo
là “quá độ giải thoát”.
Chánh kinh:
自 然 保 守,真 真 潔 白。志 願 無 上,淨 定 安 樂。一 旦 開 達 明 徹,自 然 中 自 然 相,自 然 之 有 根 本,自 然 光 色 參 迴,轉 變 最 勝。鬱 單 成 七 寶,橫 攬 成 萬 物。光 精 明 俱 出,善 好 殊 無 比。著 於 無 上 下,洞 達 無 邊 際。
Tự
nhiên bảo thủ, chân chân khiết bạch. Chí nguyện vô thượng, tịnh
định an lạc. Nhất đán khai đạt minh triệt,
tự nhiên trung tự nhiên tướng, tự nhiên chi hữu
căn bản, tự nhiên quang sắc tham hồi, chuyển
biến tối thắng. Uất Đan thành thất bảo,
hoành lăm thành vạn vật. Quang tinh minh câu xuất, thiện
hảo thù vô tỷ, trước ư vô thượng hạ,
đỗng đạt vô biên tế.
Tự nhiên chẳng thay
đổi, chân thật tuyệt đối, khiết bạch,
chí nguyện vô thượng, tịnh định an lạc.
Một mai khai ngộ, hiểu rơ, minh bạch, thấu triệt
tướng tự nhiên của tự nhiên, tự nhiên tự
có căn bản, tự nhiên quang sắc nhập lẫn vào
nhau, chuyển biến tối thắng. Uất Đan thành thất
bảo. Tự nhiên từ hư không hiện ra vạn vật,
quang minh tinh diệu sáng sạch cùng xuất hiện, tốt
lành thật khôn sánh, soi tỏ nơi không trên dưới,
thông suốt không bờ mé.
Giải:
“Tự nhiên bảo thủ” (tạm dịch
là “tự nhiên chẳng thay
đổi”) chính là như nhà Thiền thường nói là
“bảo nhậm”. Nhậm (任) là nhậm vận
(任 運: tùy ư), cần đi th́ đi, muốn ngồi
cứ ngồi. Bảo (保: giữ vững)
là niệm niệm chẳng sai khác. “Tự nhiên” nghĩa là tùy ư. V́ thế, “tùy ư giữ
ǵn chẳng thay đổi” chính là “bảo nhậm” vậy.
“Chân” (真) là Nhất Chân pháp giới, là thể
tánh Chân Như, là chân tâm diệu minh, ư nghĩa giống
như chữ “chân” trong “Chân Thật Tế” được
nói trong kinh này. Ở đây kinh ghi là “chân chân” (tạm dịch là “chân thật tuyệt đối”) hàm ư: Đây chẳng phải là chân do so với vọng
mà nói, mà là lẽ chân thật đă dứt bặt mọi
đối đăi, là lẽ chân thật trong Chân Đế.
“Khiết” (潔) là vô cấu, “bạch” (白) là vô nhiễm,
tức là như Lục Tổ bảo: “Nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh”,
cũng tức là như tổ Bách Trượng dạy: “Tâm tánh vô nhiễm vốn tự
viên thành”. Cái được ta tùy ư ǵn giữ chính là cái
chân tâm vô nhiễm vốn sẵn thanh tịnh dứt tuyệt
mọi đối đăi này.
“Vô thượng” là như Văng
Sanh Luận Chú giảng: “Vô
thượng là đạo này cùng tột lư, cùng tận tánh,
không c̣n có ǵ hơn được nổi”, như sách Bảo Kính Tam Muội
của nhà Thiền đă nói: “Ngầm hành thầm dùng, như ngu, như ngốc, chỉ
cốt sao giữ được liên tục th́ gọi
đó là chủ của những điều chủ yếu”. Đây chính là như [nhà Thiền
thường nói]: “chẳng
đọa vào Pháp Thân số, đi trên đảnh Tỳ
Lô”, là chuyện cùng tột
trong nhà Thiền, là Thượng Thượng Phẩm
nơi cơi Tịch Quang trong Tịnh tông vậy. Lấy
đó làm chí nguyện nên bảo là “chí nguyện vô thượng”.
“Tịnh định” là tâm thanh tịnh,
vắng lặng, bất động.
“An lạc” là an nhiên tự
tại, tùy ư thường vui sướng.
“Nhất đán” (Một ngày nào đó) nghĩa là chỉ trong một
sát-na nào đó. Ấy là v́ “vô
thượng” chính là chỗ đi chẳng đến
được nên không thể tính được hành tŕnh,
chẳng thể nói nổi kỳ hạn, chỉ trong vô tâm
tam-muội (như lời dạy của Cao Phong thiền
sư) đột nhiên sờ phải, va nhằm, ṃ đúng
cái chốt hướng thượng, trong sát-na tương
ứng, thấu suốt nguồn tâm, khế nhập lư nhất
tâm, nên mới bảo là “nhất
đán khai đạt minh triệt” (một mai khai ngộ,
hiểu rơ, minh bạch, thấu triệt).
“Khai” (開) là tâm khai ngộ,
“đạt” (達) là hiểu rơ, “minh” (明) là minh bạch
như Tín Tâm Minh nói: “Minh bạch
thấu suốt”.
“Triệt” (徹) là thấu triệt,
cũng có nghĩa là triệt ngộ.
Ngộ được ǵ? Chỉ là ngộ được
“tự nhiên trung tự nhiên
tướng” (tướng tự nhiên của tự
nhiên). Như kẻ cuồng trong kinh Lăng Nghiêm mê mờ
tưởng đầu ḿnh bị mất, chạy cuồng
đi t́m là chẳng tự nhiên. Một khi hết cuồng
th́ hết cuồng chính là Bồ Đề, đầu ḿnh vẫn
y đó, chẳng phải là “tự
nhiên” hay sao? Lại như cổ đức lúc chứng
ngộ đă bảo: “Sư cô
vốn là đàn bà”, lại cũng như câu nói: “Sớm biết đèn là lửa,
cơm đă chín mấy dạo”. Tỳ-kheo ni là đàn
bà, đèn tức là lửa, đều là những “tướng tự nhiên của tự
nhiên”.
Lại như lúc chưa ngộ, bảo “núi là núi, sông là sông”. Người ngộ bảo “núi chẳng phải là núi, sông chẳng
phải là sông”; bậc triệt ngộ bảo “núi vẫn là núi, sông vẫn là
sông”. Cao Phong thiền sư bảo: “Đi, về vẫn là người khi xưa, chỗ
đi về năm xưa vẫn chẳng thay đổi!”.
Chỉ vẫn là như cũ nên chẳng phải là tự
nhiên hay sao?
Thêm nữa, “tướng tự
nhiên” chính là Thật Tướng vốn sẵn của tự
tánh. V́ vậy, núi, sông, nam, nữ, thời nay, thời
xưa… không thứ nào chẳng được chánh ấn
Thật Tướng in vào, ngay nơi tướng chính là Đạo,
ngay nơi sự chính là chân, thứ nào cũng đều vốn
sẵn thanh tịnh, thứ nào cũng là “tướng tự nhiên của tự nhiên”.
“Căn bản” chính là bản
thể, là tự thể căn bản của hết thảy
các pháp. Kinh Đại Nhật nói: “Nhất
thân dữ nhị thân, năi chí vô lượng thân, đồng
nhập bản thể” (Một
thân, hai thân cho đến vô lượng thân đều thuộc
trong bản thể). Câu kinh này đă giảng rơ ư
nghĩa chữ “căn bản”.
Bản c̣n là bản tâm, tức là nguồn cội tự
tâm. Bản c̣n có nghĩa là bản tánh, tức là tánh đức
cố hữu.
Chữ “hữu” (có) trong
câu “tự hữu căn bản”
rất thiết yếu. “Hữu”
là như kẻ cuồng sẵn có cái đầu, quyết
định là có, chẳng từ bên ngoài mà có. Trong Tâm
Vương Minh, Phó Đại Sĩ đă viết: “Thủy trung diêm vị, sắc
lư liêu thanh, quyết định thị hữu, bất kiến
kỳ h́nh. Tâm vương diệc nhĩ, thân nội cư
đ́nh. Diện môn xuất nhập, ứng vật tùy t́nh.
Tự tại vô ngại, sở tác giai thành” (Nước có vị mặn, sắc
vẫn trong veo, quyết định là có, nhưng chẳng
thấy h́nh. Tâm vương cũng vậy, ngụ trong thân
thể, ứng dụng ra ngoài, tùy theo t́nh huống thích ứng,
tự tại vô ngại, hoàn thành các việc). Bốn
chữ “quyết định thị
hữu” (quyết định
là có) đă mở toang mật tạng của chư Phật,
nghĩa là tâm vương của con người quyết
định là có, giống như vị mặn trong nước.
Vị mặn ấy chắc chắn là có, nhưng chẳng
thấy được h́nh dáng của vị mặn đó.
Ngài Tào Sơn (tổ sư tông Tào Động) cũng nói: “Chỉ cần biết có là
được, chẳng luận là c̣n đang ở trong phiền
năo, vô minh”. Như vậy, muôn phần chẳng thể
coi thường cái chữ “hữu”
này được.
Câu “tự nhiên chi hữu
căn bản” (tự nhiên có căn bản) có hai ư
nghĩa:
1. Thể tánh của vạn tượng sum la là không
hai. Ngàn con sóng đều là nước, muôn thứ vật
dụng chỉ là vàng. Trong tự nhiên tự có bản thể.
Cái bản thể ấy chính là căn bản.
2. Hai là chẳng do tạo tác, nhất niệm đốn
ngộ nên bảo là tự nhiên. Hiểu rơ vạn pháp đều
nằm gọn trong tự tâm, thấy ngay được
Chân Như tự tánh. Tự tánh của tự tâm chính là
căn bản nên bảo là “tự
nhiên chi hữu căn bản”.
Kinh Tịnh Danh nói: “Tức
thời hoát nhiên, hoàn đắc bản tâm” (Ngay lập tức rỗng rang, lại
đạt được bản tâm)”. “Hoát nhiên” (豁 然) chính là “nhất đán khai đạt
minh triệt” (một mai khai ngộ, hiểu rơ, minh bạch,
thấu triệt). Cái bản tâm t́m lại được ấy
chính là “tự nhiên trung hữu
tự nhiên tướng, tự nhiên chi hữu căn bản”
(tướng tự nhiên trong tự nhiên, tự nhiên tự
có căn bản).
Kinh Bồ Tát Giới c̣n bảo: “Ngă bổn nguyên tự tánh thanh tịnh, nhược
thức tự tâm kiến tánh, giai thành Phật đạo” (Tự tánh của ta vốn thanh
tịnh. Nếu hiểu biết tự tâm, thấy
được tánh th́ đều thành Phật đạo), đủ chứng tỏ câu
nói của tổ Tào Sơn: “Chỉ
yếu tri hữu tiện thị” (Chỉ cần biết Có là được) chính là
tâm ấn mà chư Phật đă truyền cho nhau. Trạm
Ngu lăo nhân nói: “Tào Sơn tự
tỷ Lục Tổ, chỉ thị đắc thử bá
bính” (So với Lục Tổ,
Tào Sơn chỉ nắm được cái chuôi này).
“Tự nhiên quang sắc tham
hồi, chuyển biến tối thắng” (tạm dịch:
“Tự nhiên quang sắc xoay chuyển
nhập lẫn vào nhau, chuyển biến tối thắng”):
Tham (參) là nhập vào, các ánh sáng chập vào nhau. Hồi
(廻) là xoay chuyển, chuyển vần trọn khắp
không ngừng, biến hóa không trở ngại vậy. Thể
của Thật Tướng là chẳng tịch, chẳng
chiếu, nhưng lại thường tịch, thường
chiếu. Tịch nhưng thường chiếu, chiếu
nhưng thường tịch nên từ Pháp Thân lưu xuất
Báo Thân, Hóa Thân; từ Lư Thể sanh ra vô lượng tướng
dụng vi diệu. Do đó, từ căn bản của tự
nhiên ấy tự nhiên sanh ra vô lượng quang minh, sắc
tướng nhập lẫn vào nhau, xoay vần biến hóa,
vượt xa mười phương nên kinh bảo là “tối thắng”.
Trong kinh thường hay dùng bảo châu để ví cái
tâm. Quán kinh nói: “Nhất nhất
bảo châu hữu bát vạn tứ thiên quang. Nhất nhất
quang tác bát vạn tứ thiên dị chủng kim sắc. Nhất
nhất kim sắc, biến kỳ bảo độ, các tác
dị tướng. Hoặc vi kim cang đài, hoặc tác chân
châu vơng, hoặc tác tạp sắc vân, ư thập
phương diện, tùy ư biến hiện, thi tác Phật sự”
(Mỗi một bảo
châu có tám vạn bốn ngàn ánh sáng. Mỗi một ánh sáng có
tám vạn bốn ngàn kim sắc khác nhau. Mỗi một kim sắc
chiếu khắp cơi báu biến thành các tướng khác nhau:
Hoặc biến thành đài kim cang, hoặc biến thành
lưới chân châu, hoặc biến thành mây nhiều màu. Khắp
mười phương tùy ư biến hiện thực hành Phật
sự).
Kinh c̣n nói: “Vô Lượng
Thọ Phật hữu bát vạn tứ thiên tướng,
nhất nhất tướng trung các hữu bát vạn tứ
thiên tùy h́nh hảo. Nhất nhất hảo trung phục hữu
bát vạn tứ thiên quang minh. Nhất nhất quang minh biến
chiếu thập phương thế giới niệm Phật
chúng sanh, nhiếp thủ bất xả. Kỳ quang tướng
hảo cập dữ hóa Phật, bất khả cụ thuyết”
(Vô Lượng Thọ Phật
có tám vạn bốn ngàn tướng, trong mỗi tướng
có tám vạn bốn ngàn tùy h́nh hảo. Trong mỗi tùy h́nh hảo
lại có tám vạn bốn ngàn quang minh. Mỗi một quang
minh chiếu khắp chúng sanh niệm Phật trong mười
phương thế giới, nhiếp thủ chẳng bỏ.
Quang minh, tướng hảo ấy và các hóa Phật [hiện
ra trong các quang minh ấy] chẳng thể nói trọn).
Những đoạn kinh trên đă tả thật rơ quang
minh, sắc tướng vi diệu khó nghĩ lường,
tùy ư biến hiện. Trong quang minh có màu sắc, trong màu sắc
lại hiện tướng. Các tướng đẹp mầu
nhiệm như lưới châu v.v… đều chỉ là từ
một sắc biến hiện. Lại như Phật có
đủ các tướng hảo, trong mỗi một tướng
hảo lại phóng quang. Trong quang minh lại có Phật hiện.
Đấy đều là những điều đă thể hiện
cùng tột ư “tham hồi” (xoay chuyển, nhập lẫn vào
nhau) trong đoạn kinh này; c̣n “thi tác Phật sự” (thực hiện Phật sự) và nhiếp thủ
chúng sanh niệm Phật trong mười phương thế
giới chẳng bỏ; đấy chính là những sự “tối thắng”.
Tham chiếu những đoạn kinh văn vừa
được trích dẫn trên đây, ta thấy các thứ
y báo, chánh báo trang nghiêm của cơi Cực Lạc đều
là từ căn bản của tự nhiên biến hiện
ra. Đó chính là như Văng Sanh Luận nói: Ba thứ trang nghiêm
đều nhập trong một pháp cú. Một pháp cú là thanh tịnh
cú, tức là chân thật trí huệ vô vi pháp thân. V́ vậy, “căn bản của tự
nhiên” chính là một thanh tịnh cú như Văng Sanh Luận
đă bảo.
“Uất Đan thành thất bảo”: Uất Đan (Uttarakuru) nói đủ là
Uất Đan La Cứu Lưu, hoặc c̣n phiên là Uất Đan Việt,
Câu Lô v.v… ở đây, chỉ gọi tắt là Uất Đan.
Đó chính là tên của một trong bốn đại châu ở
phương Bắc, dịch nghĩa là Cao Thượng Tác,
Thắng Thượng Sanh, Cao Thắng.
Sách Huyền Ứng Âm Nghĩa nói: “Hán dịch là Cao Thượng Tác, nghĩa là cao trỗi
hơn các phương khác, cũng có nghĩa là thù thắng
hơn cả”. Sách viết thêm: “Câu Lô châu, Hán dịch là Thượng Thắng, hoặc
dịch là Thắng Sanh”. Kinh Khởi Thế Nhân Bổn bảo
châu này “ở dưới trời
Tứ Thiên (tức là trong thế gian này). So với ba châu kia, châu này tối thượng tối
thắng, tối diệu”.
Bản Ngô dịch ghi ư “Uất
Đan thành thất bảo” như sau: “Uất Đan chi tự nhiên, tự nhiên thành thất
bảo” (Tự nhiên như trong cơi Uất Đan, tự nhiên
thành thất bảo).
Theo như Hoa Nghiêm Sớ Sao, quyển mười ba th́:
“Uất Đan Việt, Hán dịch
là Thắng Sanh v́ [người sống ở đó] quyết
định thọ đến một ngàn tuổi, cơm áo
tự nhiên vậy”. Nhân dân sống nơi châu ấy không
cần phải cày bừa, dệt vải, làm lụng mà
cơm áo tự nhiên dư dật. Câu Uất Đan chi tự nhiên” (tự nhiên như trong cơi Uất Đan) trong bản
Ngô dịch có ư nói đến sự tự nhiên này.
Bản hội tập trích theo bản Hán dịch nên ghi
là “Uất Đan thành thất bảo”,
chính là gộp cả hai ư của câu văn trong bản Ngô dịch,
hàm ư: [Cơi Cực Lạc] giống như châu Uất Đan tự
nhiên sanh ra đầy đủ, tràn ngập các thứ
cơm áo, vật dụng; lại c̣n tự nhiên sanh ra bảy
báu thắng thượng.
“Hoành lăm thành vạn vật”: Chữ “hoành” (橫) chỉ không gian, “lăm” (攬) là nắm giữ,
rút lấy, dẫn dắt, “vạn
vật” là hết thảy các vật. Do vậy, “hoành lăm thành vạn vật” có
nghĩa là tự nhiên từ mười phương hư
không hiện ra vạn vật. Hết thảy vạn sự,
vạn vật đều sanh từ căn bản tự
nhiên, mà “căn bản tự
nhiên” chính là như kinh Thủ Lăng Nghiêm dạy: “Nguyên thị Bồ Đề diệu
tịnh minh thể” (Vốn
là cái thể mầu nhiệm, sáng sạch của Bồ Đề).
Tức là: Vạn vật đều từ trong Đại
Quang Minh Tạng xuất hiện.
Trong cơi Cực Lạc cũng giống như thế: Tất
cả đều do đại nguyện của đức
Di Đà tạo thành, tất cả đều là cái sẵn có
trong cái tâm thanh tịnh của chúng sanh. V́ thế kinh chép: “Quốc trung vạn vật, nghiêm
tịnh quang lệ, h́nh sắc thù đặc, cùng vi cực
diệu, vô năng xưng lượng” (Vạn vật
trong nước nghiêm tịnh sáng đẹp, h́nh sắc
đẹp đẽ lạ lùng, cùng vi cực diệu không
thể tính kể nổi).
“Quang tinh minh câu xuất”: “Quang” (光) là quang minh, “tinh” (精) là tinh diệu,
“minh” (明) là minh tịnh
(sáng sạch), “xuất” (出) là xuất hiện.
Tự tâm vốn đủ cả vạn đức, đă
sạch bụi vô minh th́ nó trở thành thanh tịnh trang
nghiêm, quang minh vi diệu, đẹp đẽ, khiết tịnh,
hết thảy diệu tướng cùng hiện ra cả
nên kinh bảo: “Quang tinh câu xuất
hiện, thiện hảo thù vô tỷ” (Quang minh tinh diệu
sáng sạch cùng xuất hiện, tốt đẹp thật
khôn sánh).
Phần trên, kinh đă nói: “Quang
sắc hoảng diệu, tận cực nghiêm lệ”
(Quang sắc chói ngời, trang nghiêm, đẹp đẽ
đến cùng cực) và “thanh
tịnh trang nghiêm, siêu du thập phương” (thanh tịnh
trang nghiêm, vượt trỗi [hết thảy các thế giới
trong] mười phương).
Do vậy, mười phương thế giới thật
chẳng thể sánh nổi những điều đẹp
đẽ tốt lành nơi cơi Cực Lạc.
Sách Hội Sớ giảng câu “trước ư vô thượng hạ, đỗng
đạt vô biên tế” (soi tỏ nơi không trên dưới,
thông suốt không bờ mé) như sau: “Cái Lư được chứng nhập ấy là pháp
b́nh đẳng, chẳng có cao, thấp nên gọi là ‘vô
thượng hạ’ (không trên dưới). Theo bề dọc
th́ sâu xa, theo bề ngang th́ rộng răi, chẳng có ranh giới
nên gọi là ‘vô biên tế’ (không bờ mé). Ấy tức là
những điều được quán chiếu bởi Phật
trí. ‘Trước’ (著) có
nghĩa là sáng tỏ, ‘đỗng đạt’ nghĩa là chứng
nhập”.
Theo đó, câu đầu (tức câu “trước ư vô thượng hạ”) là nói
đến Lư thể được Bồ Tát chứng nhập,
Lư thể ấy là Như Như. Câu thứ hai (tức câu “đỗng đạt vô biên tế”)
nói đến Phật trí luôn soi chiếu, Phật trí ấy
chính là Như Như trí. Nghĩa là: Lư thể được
nói ở đây chính là “căn bản
tự nhiên”. Phật trí thông suốt v́ từ căn bản
ấy phát sanh cái tướng trí huệ tự nhiên. Bản
thể và công dụng giống hệt nhau: Lư và Trí chẳng
hai, Năng lẫn Sở cùng mất, dứt bặt đối
đăi một cách viên dung; ngôn ngữ lẫn tư duy đều
chẳng thể diễn tả nổi. “Vô thượng hạ” là bản thể của
cái Lư được chứng nhập ấy vốn sẵn
b́nh đẳng. Những câu kinh như :“Thị pháp b́nh đẳng, vô hữu cao hạ” (Pháp này b́nh đẳng chẳng
có cao, thấp) và “Tâm Phật
chúng sanh, tam vô sai biệt” (Tâm,
Phật và chúng sanh, cả ba thứ không sai biệt) đều
nói lên ư nghĩa b́nh đẳng. Do b́nh đẳng nên
không có cao, thấp.
“Trước” (著) là “hiển trước” (làm sáng
tỏ), “chiếu trước”
(chiếu soi), đều có nghĩa là hiển lộ; cho
nên sách Hội Sớ mới giảng: “Trước giả, minh dă” (Trước là sáng tỏ). Sách Hội Sớ thật khéo dùng chữ “minh” (sáng tỏ) để giải
thích chữ “trước” v́
chữ “minh” ấy chính là “minh tâm kiến tánh” vậy. Điều
được ta thấu tỏ chính là cái Lư thể b́nh
đẳng không trên dưới tức là cái tâm này của
ta.
Về chữ “đỗng
đạt” th́ “đỗng” (洞) là rơ ràng, minh bạch, “đạt” (達) là hiểu thấu
cái tâm, rơ thấu đến tận nguồn cội. Hiểu
rơ cùng tận nguồn tâm nên bảo là “đỗng đạt”. Do vậy, Hội Sớ
dùng chữ “chứng nhập”
để giải thích chữ “đỗng
đạt”.
“Vô biên tế” (Không bờ mé)
là [như không gian] xét theo chiều dọc th́ tột cùng cả
trên lẫn dưới; theo chiều ngang thời cả tám
phương đều chẳng hề có bờ mé, chẳng
thể cùng tận. Khả năng chiếu soi của Phật
trí cũng giống như thế nên sách Hội Sớ mới
giảng: “Ấy tức là những
điều được quán chiếu bởi Phật
Trí”.
Ngài Gia Tường giảng: “Chứng
quả chẳng có h́nh sắc tốt xấu sai khác. ‘Đỗng
đạt’ là trí, ‘vô biên tế’ là cảnh Chân Đế”. Ư
nói: Quả Giác được chứng ấy không có những
h́nh tướng sai khác, đó là “vô
thượng hạ”. Trí khế hợp với cảnh
Chân Đế nên “vô biên tế”.
Như vậy, ngài Gia Tường đồng quan điểm
với sách Hội Sớ.
C̣n ngài Tịnh Ảnh lại giải thích theo cách khác,
Ngài viết: “Chỉ nghĩ nhớ
đến đạo, hạnh đức tỏ rơ, chẳng
phân biệt là thượng căn hay hạ căn đều
cùng được văng sanh nên bảo là ‘trước ư
vô thượng hạ’. Như đă được văng sanh cơi ấy rồi th́ thấu
suốt cùng tột các thần thông không giới hạn nên bảo
là ‘đỗng đạt vô biên tế”. Ư Ngài nói: Ba bậc
thượng, trung, hạ đều được văng
sanh nên bảo là “vô thượng
hạ”. Do nhân dân cơi Cực Lạc đều có thần
thông vô hạn nên bảo là “vô
biên tế” (không bờ
mé). Ta nên vận dụng cả ba thuyết này.
Chánh kinh:
宜 各 勤 精 進,努 力自 求 之。必 得 超 絕 去,往 生 無 量 清 淨 阿 彌 陀 佛 國。橫 截 於 五 趣,惡 道 自 閉 塞。無 極 之 勝 道,易 往 而 無 人。其 國 不 逆 違,自 然 所 牽 隨。捐 志 若 虛 空,勤 行 求 道 德。可 得 極 長 生,壽 樂 無 有 極。何 為 著 世 事,譊 譊 憂 無 常。
Nghi các cần
tinh tấn, nỗ lực tự cầu chi, tất đắc
siêu tuyệt khứ, văng sanh vô lượng thanh tịnh A Di
Đà Phật quốc, hoành tiệt ư ngũ thú, ác đạo
tự bế tắc. Vô
cực chi thắng đạo, dị văng nhi
vô nhân. Kỳ quốc bất nghịch vi,
tự nhiên sở khiên tùy. Quyên chí nhược hư không, cần
hành cầu đạo đức, khả đắc cực
trường sanh, thọ lạc vô hữu cực. Hà vi trước thế sự, nao nao ưu vô
thường?
Ai nấy đều nên siêng
tinh tấn, nỗ lực tự cầu lấy th́ ắt
được siêu tuyệt, văng sanh cơi A Di Đà Phật thanh tịnh
vô lượng, chặt ngang năm đường, ác đạo
tự đóng lấp. Đạo thù thắng vô cực dễ
đi mà chẳng có người theo! Cơi ấy chẳng trái
nghịch, tự nhiên lôi kéo theo. Lắng ḷng dường
hư không, siêng hành cầu đạo đức, ngơ hầu
được trường sanh cùng cực, thọ lạc
chẳng có cùng cực. Sao lại mê đắm sự đời,
nhao nhác lo chuyện vô thường?
Giải:
Những đoạn kinh trước đoạn kinh này
đều nói về công đức trí huệ của thánh
chúng cơi Cực Lạc; c̣n trong đoạn này là lời
đức Thế Tôn nhắc nhở đại chúng trong
pháp hội phải siêng năng tu tập cầu sanh Cực
Lạc.
Trước đó, Ngài đă khai thị: Chân tâm thường
trụ ai ai cũng có, ai cũng có thể thành Phật. Tâm vốn
tự thanh tịnh sanh ra muôn pháp. Ngộ th́ khế hợp
ngay với bổn Phật, mê th́ ch́m mất trong sanh tử.
Ngay khi ấy, đức Thế Tôn xót thương,
buông lời khuyên dụ từ bi: Đại chúng đă biết
“tâm này là Phật” th́ phải
tinh tấn để “tâm này làm
Phật”. V́ thế, Phật mới nói: “Nghi các cần tinh tấn” (Ai nấy đều
nên siêng tinh tấn). Chữ “các” (各: ai nấy)
không những chỉ để chỉ những người
trong pháp hội thuở ấy mà c̣n kiêm chỉ hết thảy
những ai trong đời sau nghe được pháp này: Ai
nấy đều phải tuân theo lời dạy từ bi của
đức Phật, tin nhận, phụng hành, niệm Phật
văng sanh nhằm thể hiện phương tiện rốt
ráo “tâm này làm Phật”.
“Nghi các cần tinh tấn, nỗ
lực tự cầu chi” (Ai nấy đều
nên siêng tinh tấn, nỗ lực tự cầu lấy) là lời
đức Phật khuyên đại chúng ai nấy đều
phải nên tinh tấn siêng tu, nỗ lực tự thực
hành cầu sanh Tịnh Độ, chứng triệt để
nguồn tâm, viên măn Phật trí.
Luận Câu Xá giảng chữ “cần” (勤: siêng năng) như sau: “Cần (siêng) khiến cho tâm
dũng mănh trở thành tánh”. “Cần”
cũng có nghĩa là tinh tấn. “Cầu”
(求) là cầu đạo, mà cũng chính là cầu
sanh Tịnh Độ. Phẩm Chí Tâm Tinh Tấn trong kinh này có
câu: “Nhân hữu chí tâm cầu
đạo, tinh tấn bất chỉ, hội
đương khắc quả” (Người chí tâm cầu
đạo tinh tấn chẳng ngơi, ắt sẽ đắc
quả). V́ thế, tiếp theo ngay câu “nghi các cần tinh tấn” (ai nấy nên siêng tinh tấn), kinh nói tiếp: “Tất đắc siêu tuyệt
khứ” (Ắt đạt đến chỗ siêu tuyệt).
Chữ “tự” trong câu “tự cầu” rất quan trọng.
Những chữ “tự”
trong các câu như “nhữ tự
đương tri” (ông nên
tự biết), “nhữ
ưng tự nhiếp” (ông
nên tự nhiếp) được ghi trong kinh này
cũng đóng vai tṛ quan trọng như vậy. Sách Hội
Sớ nói: “Vui cầu nơi
chính ḿnh, mà cái ‘chính ḿnh’ đó chính là tự tâm. V́ thế nói
là Tự Cầu”. Ư nói: Tịnh tông tuy là tha lực pháp
môn, nhưng tự tâm hành nhân nếu chẳng tinh tấn,
đoạn trừ nghi hoặc, sanh ḷng chánh tín sâu xa, khẩn
thiết nguyện cầu được văng sanh th́ trọn
chẳng được văng sanh. Bởi thế, Phật
căn dặn “nỗ lực tự
cầu chi” (nỗ lực
tự cầu lấy).
“Tâm này là Phật” là tánh đức;
“tâm này làm Phật” là tu đức.
Có công tu đức th́ tánh đức mới được
hiển hiện. V́ thế, nỗ lực tự cầu th́ “tất đắc siêu tuyệt
khứ” (ắt đạt đến chỗ siêu tuyệt). “Siêu” (超) là siêu thoát, “tuyệt” (絕) là diệt sạch,
trừ dứt. Do đó, “siêu
tuyệt” là vượt thoát luân hồi, đoạn trừ
sanh tử.
Sách Hội Sớ viết: “Ngay
trong một lúc nhanh chóng vượt khỏi tam giới,
đoạn tuyệt các nghiệp buộc ràng trong bao kiếp
nên bảo là ‘siêu tuyệt’, mà cũng là do đă đoạn
tuyệt [nghiệp chướng] nên được siêu
thoát vậy”. Thánh, phàm, trí, ngu, chín phẩm muôn loài ai nấy
đều được “siêu
tuyệt” toàn là nhờ vào Di Đà Nhất Thừa nguyện
hải, sáu chữ hồng danh, từ quả khởi tu, chỉ
trong một đời được thành tựu nên đều
được sanh về “cơi
Phật A Di Đà thanh tịnh vô lượng”.
Hễ được văng sanh th́ do nương vào sức
gia hộ của Di Đà bổn nguyện sẽ chẳng bị
đọa vào ba ác đạo nữa nên kinh mới nói: “Ác đạo tự bế tắc”
(Ác đạo tự đóng lấp). Ai nấy đều
đạt Bất Thoái cho măi đến khi thành Phật nên
kinh mới bảo: “Hoành tiệt
ư ngũ thú” (Chặt ngang năm đường).
Năm đường (ngũ thú) là ba ác đạo và hai nẻo
nhân, thiên. Do A Tu La được tính gộp vào thiên thú nên “ngũ thú” cũng chính là “lục đạo” (sáu nẻo). Nhân thú, thiên thú
vốn được gọi là “thiện
thú” (đường lành) nhưng vẫn bị coi là “ác thú” là do so sánh với Cực
Lạc mà nói.
Tịnh Ảnh Sớ viết: “Ba ác đạo gọi là ‘ác thú’, hai đường
nhân, thiên gọi là ‘thiện thú’. Nay đem sánh với cơi
thanh tịnh của Phật Di Đà th́ cả năm đường
trong cơi Sa Bà đều được gọi là ‘ác thú’. Địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh
đều là chỗ kẻ thuần ác hướng đến
nên gọi là ‘ác thú’. Cơi trời, cơi người của Sa Bà
là chỗ kẻ tạp ác hướng đến nên
cũng gọi là ‘ác thú’.
Nếu theo như
phương này th́ phải tu tập đoạn trừ,
trước hết đoạn Kiến Hoặc, ĺa khỏi
cái nhân tạo ra tam đồ, diệt
cái quả tam đồ. Sau đấy, đoạn Tư Hoặc,
ĺa khỏi cái nhân sanh trong nhân, thiên, tuyệt quả nhân
thiên. Do có đoạn trừ dần dần nên chẳng gọi
là ‘hoành tiệt’ (chặt ngang). C̣n nếu được
văng sanh về Tịnh Độ
của Phật Di Đà th́ bỏ ngay một lúc cả năm
đường trong Sa Bà nên gọi là hoành tiệt”. Sách
Hội Sớ cũng bảo: “Ắt
được siêu tuyệt, chẳng phải đoạn
trừ theo thứ tự nên bảo là hoành tiệt”.
Do đó, “hoành tiệt” có
nghĩa là hoành xuất, hoành siêu (vượt khỏi tam giới
theo chiều ngang); các pháp môn khác phải theo thứ tự
đoạn trừ dần từng lớp phiền năo để
thoát khỏi sanh tử nên gọi là vượt khỏi tam
giới theo chiều dọc (thụ siêu, thụ xuất)).
Sách Gia Tường Sớ lại bảo: “Tu nhân Bồ Đề, dứt ngang sự chuyển vần
trong năm đường nên ‘ác đạo tự bế tắc”.
Chữ “tự” ở đây
là “tự nhiên”.
Sách Hội Sớ giảng chữ “vô cực” trong câu “vô
cực chi thắng đạo” (đạo vô cực thù
thắng) như sau: “Phàm phu sanh
về đó liền mau chóng tiến lên quả địa
nên bảo là vô cực”. Bản Ngụy dịch ghi là “vô cùng cực”. Tịnh Ảnh
Sớ giảng: “Câu ‘thăng
đạo vô cực’ diễn tả cái sở đắc. Đắc
đạo sâu rộng nên bảo là vô cùng cực”.
Như vậy, sách Hội Sớ cho rằng
phương tiện khiến cho phàm phu nhanh chóng chứng
được quả vị là phương tiện tột
cùng, chẳng thể thấu hiểu đến cùng cực
được nên phương tiện đó được
xưng tụng là “vô cực”;
c̣n Tịnh Ảnh Sớ lại coi tánh đức sâu rộng
khó nghĩ lường của quả vị là “vô cực”. C̣n theo Gia Tường
Sớ th́: “Người sanh về
nhiều nên bảo là vô cực”, tức là ngài Gia Tường
hiểu do đạo ấy khiến vô lượng người
được văng sanh nên đạo ấy được
gọi là “vô cực”.
Thế th́: Người văng sanh nhiều vô cực, đắc
quả nhanh chóng là phương tiện vô cực. Tánh đức
thù thắng của quả đức rộng sâu vô cực
khiến ta thấy được rằng: Ân đức của
Phật Di Đà là rốt ráo vô cực nên kinh mới chép là “vô cực chi thắng đạo”
(đạo vô cực thù thắng) .
Câu “dị văng nhi vô nhân” (dễ
đi mà chẳng có người theo) được Tịnh
Ảnh Sớ giảng như sau: “Tu nhân liền được sanh về nên gọi là
‘dị văng’ (dễ đi). Không có kẻ tu nhân, ít người
văng sanh nên bảo là ‘vô nhân’ (chẳng có người)”. Ngài
Gia Tường bảo: “Chỉ
tu mười niệm thành tựu liền được
văng sanh, mà ít người thực hành nên mới bảo là dễ
đi mà chẳng có người theo”.
Ở trên, ngài Gia Tường vừa bảo nhiều
người được văng sanh, ở đây lại nói
ít kẻ văng sanh, tựa hồ mâu thuẫn, nhưng thật
sự hai lời nói trên chẳng hề trái nghịch nhau. V́
nếu xét theo số người được văng sanh
trong mười phương mà nói th́ đúng là rất nhiều;
c̣n nếu chỉ luận theo uế độ này th́ người
tín nguyện văng sanh rất là hiếm hoi. V́ thế, Phật
bảo là “vô nhân” (chẳng
có người).
“Kỳ quốc bất nghịch
vi, tự nhiên sở khiên tùy” (Cơi ấy chẳng trái nghịch, tự nhiên lôi
kéo theo): Câu đầu ư nói cơi ấy chẳng nghịch, chẳng
trái đối với những người được
văng sanh; c̣n câu kế đó được cổ đức
giải thích theo hai cách:
1. Ngài Tịnh Ảnh cho rằng: “Cơi ấy chẳng trái nghịch thể hiện ư ‘dị
văng’ (dễ đi). ‘Tự nhiên lôi kéo’ thể hiện ư ‘chẳng
có người’. Chúng sanh cơi
Sa Bà mang triền cái từ lâu nên tự nhiên bị lôi kéo,
trói buộc, chẳng thoát được nên chẳng có
người”. Ư nói: Cơi Cực Lạc đối với
những người văng sanh chẳng hề trái nghịch mảy
may, nên trước hết bảo là “dễ đi”. Hiềm v́ người cơi Sa Bà vốn
từ lâu đă bị buộc ràng che lấp bởi phiền
năo nên tự nhiên bị chúng lôi kéo, chẳng sanh ḷng nhàm chán
th́ làm sao văng sanh nổi nên kinh mới bảo là “chẳng có người”.
2. Ngài Pháp Trụ bảo: “Tự
nhiên sở khiên tùy (tự nhiên lôi kéo) là nhân viên măn, quả
chín muồi, chẳng nhọc dụng công mà tự nhiên chiêu
cảm”. Ngài Gia Tường nói: “Tu nhân ắt sẽ chiêu cảm quả nên bị quả
ấy lôi kéo”. Quan điểm của hai vị Pháp Trụ
và Gia Tường giống nhau, cùng cho rằng tu nhân đắc
quả, tự nhiên do quả ấy sẽ được
văng sanh.
Những thuyết trên tuy khác nhau, nhưng đều phù
hợp ư kinh.
Trong câu “quyên chí nhược
hư không, cần hành cầu đạo đức” (lắng
ḷng dường hư không, siêng hành cầu đạo đức),
“quyên” (捐) là dứt bỏ,
tâm chán ĺa tột bực, không mong cầu chuyện đời,
tấm ḷng rỗng không, tịch tĩnh, thanh tịnh, không
cấu nhiễm, khác nào hư không nên kinh mới bảo là “quyên chí nhược hư không”. Câu
này cũng có nghĩa là buông bỏ muôn duyên.
“Đạo đức”: Chánh pháp gọi
là “đạo”; đắc
đạo chẳng để mất là “đức”. “Cần
hành cầu đạo đức” (siêng hành cầu đạo
đức) chính là chỉ giữ lấy một niệm.
“Khả đắc cực
trường sanh, thọ lạc vô hữu cực” (Ngơ hầu được trường sanh cùng
cực, thọ lạc chẳng có cùng cực): Thế gian
chẳng có pháp trường sanh chân thật, chỉ có văng
sanh th́ mới được trường sanh. Kinh dạy:
“Quốc trung Thanh Văn, thiên
nhân vô số, thọ mạng diệc giai vô lượng” (Trong cơi nước Thanh Văn,
trời, người vô số, thọ mạng cũng đều
vô lượng). Trong cơi ấy chẳng có các nỗi khổ,
chỉ hưởng các niềm vui thấy Phật, nghe pháp,
tùy ư tu tập thẳng đến khi thành Phật nên kinh bảo
là “thọ lạc vô cùng cực”.
Cơi ấy có tên là Cực Lạc, An Lạc, An Dưỡng,
đức Phật cơi ấy hiệu là Vô Lượng Thọ,
Vô Lượng Quang, thù thắng nhiệm mầu như vậy
rất đáng ưa thích, mong cầu; uế độ Sa Bà
thật đáng nhàm chán. Cớ sao vẫn cứ tham đắm
chuyện thế tục, nhao nhác lo chuyện vô thường?
“Nao nao” (譊 譊) là huyên náo, tranh đua. Ở
đây, chữ “nao nao” diễn
tả trạng thái giành giật, ồn ào. Người
đời tham đắm những thứ ḿnh có, muốn
luôn giữ măi, nhưng những thứ ấy thật sự
là vô thường nên đâm ra lo lắng. Nhưng dẫu lo
cũng chẳng làm ǵ được! Bởi thế mới
có phẩm Khuyến Dụ Sách Tấn tiếp ngay theo phẩm
này.
Phẩm này nêu rơ diệu đức của cơi Tịnh Độ,
khuyên lơn, dẫn dụ chúng sanh; phẩm sau sẽ chỉ
ra những thứ ác khổ của uế độ để
chúng sanh biết mà nhàm ĺa.