8. Tích Công Lũy Đức ( )

Trong phẩm này, Pháp Tạng Bồ Tát phát nguyện xong, từ Nguyện khởi Hạnh: Trong vô lượng kiếp trụ chân thật huệ, gieo các cội đức, giáo hóa vô lượng chúng sanh trụ nơi đạo vô thượng, [khiến cho họ] đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chẳng thể nói hết nổi công đức như thế nên phẩm này được đặt tên là “Tích Công Lũy Đức”.

Chánh kinh:

難,法 前,及 中,發 已,住 慧,勇 進,一 土。所 國,開 大,超 妙,建 然,無 變。

A Nan! Pháp Tạng tỳ-kheo ư Thế Tự Tại Vương Như Lai tiền, cập chư thiên nhân đại chúng chi trung, phát tư hoằng thệ nguyện dĩ, trụ Chân Thật Huệ, dũng mănh tinh tấn, nhất hướng chuyên chí trang nghiêm diệu độ. Sở tu Phật quốc, khai khuếch quảng đại, siêu thắng độc diệu, kiến lập thường nhiên, vô suy vô biến.

A Nan! Pháp Tạng tỳ-kheo ở trước đức Thế Tự Tại Vương Như Lai và giữa đại chúng trời, người phát hoằng thệ nguyện ấy xong, trụ Chân Thật Huệ, dũng mănh tinh tấn, một dạ chuyên chí trang nghiêm cơi mầu nhiệm. Ngài tu cơi Phật bao la, rộng lớn, siêu thắng, độc diệu, kiến lập thường nhiên, chẳng suy, chẳng biến.

Giải:

Pháp Tạng Bồ Tát ở trước đức Phật và đại chúng tuyên nói “hoằng thệ nguyện” như phần trên đă thuật.

“Hoằng” () là sâu rộng. Sách Pháp Giới Thứ Đệ giảng như sau: “Duyên rộng khắp th́ gọi là Hoằng. Tự chế ngự tâm ḿnh gọi là Thệ.    (). Chí mong lời thề được trọn vẹn là Nguyện (). Chữ “hoằng thệ nguyện” thường dùng để chỉ chung tất cả những lời thệ nguyện rộng lớn của chư Phật, Bồ Tát. Ở đây, kinh dùng chữ “tư hoằng thệ nguyện” (hoằng thệ nguyện ấy) nhằm chỉ riêng bốn mươi tám nguyện của Pháp Tạng Bồ Tát. Phát khởi lên nguyện ấy xong, từ lời nguyện phát khởi vô biên diệu hạnh thù thắng.

Ngay trong câu đầu của phẩm này đă nói ngay: “Trụ Chân Thật Huệ”. Một câu ngắn gọn này chính là căn bản to lớn của hết thảy diệu hạnh, mở mang chánh nhăn cho vô lượng thiên nhân. Phẩm Đức Tuân Phổ Hiền của kinh này từng nói: “Khai hóa, hiển thị Chân Thật Tế”, phẩm Đại Giáo Duyên Khởi cũng nói: “Dục chửng quần manh, huệ dĩ chân thật chi lợi” (Muốn cứu vớt quần manh, ban cho cái lợi chân thật), phẩm này lại nói: “Trụ Chân Thật Huệ”. Ba câu ấy tuy sai khác nhưng thật ra ư nghĩa chẳng khác.

Chân là Chân Như. Thật là Thật Tướng. Kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Phật địa quả đức, Chân Như Thật Tướng, Đệ Nhất Nghĩa Không”. Cội rễ cùng cực của Chân Như Thật Tướng gọi là Chân Thật Tế. Hết thảy hàm linh trong đời tương lai đều do Nhất Thừa nguyện hải của Phật Di Đà, sáu chữ hồng danh mà được độ thoát, đó là cái lợi chân thật. Hiển thị được Chân Thật Tế ấy, ban cho cái lợi chân thật ấy th́ chính là Chân Thật Huệ.

Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển hai giảng chữ Huệ () như sau: “Xét theo hành phương tiện th́ quán sát thông suốt là Huệ, c̣n nếu luận theo Thật Đế th́ Thể của chân tâm sáng tỏ, tự tánh không tăm tối th́ gọi là Huệ”. Như vậy, hiểu rơ bản tâm, thấy rơ bản tánh mới gọi là Huệ. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển hai lại giảng chữ “chân thật” như sau: “Pháp tuyệt các vọng chấp là chân thật”. Như vậy, “chân thật” là cái chân thật ĺa khỏi vọng niệm sẵn có, tức là tự tánh thanh tịnh tâm.

Sách Đại Thừa Chỉ Quán nói: “Tâm này chính là tự tánh thanh tịnh tâm, c̣n gọi là Chân Như, hay gọi là Phật Tánh, hoặc gọi là Pháp Thân, hoặc gọi là Như Lai Tạng, hoặc gọi là Pháp Giới, hoặc gọi là Pháp Tánh”.

Sách Giáo Hạnh Tín Chứng cũng bảo: “Vô vi Pháp Thân chính là Thật Tướng. Thật Tướng chính là Pháp Tánh. Pháp Tánh chính là Chân Như. Chân Như chính là Nhất Như, mà Nhất Như lại sanh từ đức Di Đà Như Lai, thị hiện các thân Báo, Ứng, Hóa”. Như vậy, “Chân Thật Huệ” chính là Chân Như, Thật Tướng, tự tánh, Phật tánh, tự tánh thanh tịnh tâm v.v... là công dụng chiếu soi của cái sở thuyên lư thể[1].

Nói vắn tắt, “minh tâm kiến tánh” là hiểu rơ được bản thể. Thấu triệt được điều ấy th́ an trụ Như Như, từ Thể khởi Dụng, đấy chính là “trụ Chân Thật Huệ”. Hơn nữa, Chân Thật Tế là Pháp Thân đức; Chân Thật Lợi là Giải Thoát đức; Chân Thật Huệ là Bát Nhă đức. Ba điều chân thật này cũng chính là ba đức của Niết Bàn, như ba chấm trong chữ Y, chẳng gộp lại, chẳng tách rời, chẳng ngang, chẳng dọc, một tức là ba, ba tức là một.

Ngay trước phần nói về diệu hạnh, buông ngay một câu “trụ Chân Thật Huệ” thật là một câu nói giống hệt giọt mực điểm nhăn khi vẽ rồng. Trụ Chân Thật Huệ là nhập một pháp cú, một pháp cú là “chân thật trí huệ vô vi Pháp Thân”.

Tiếp đến, kinh nói: “Dũng mănh tinh tấn, nhất hướng chuyên chí trang nghiêm diệu độ” (Dũng mănh tinh tấn, một dạ dốc chí trang nghiêm cơi nước nhiệm mầu). “Dũng mănh tinh tấn” là không gián đoạn, không tạp loạn. “Nhất hướng chuyên chí” (Một dạ dốc chí) là tâm chí chuyên nhất. “Diệu độ” (Cơi mầu nhiệm) là cơi nước tinh mỹ tuyệt luân chẳng thể nghĩ bàn. “Trang” () là cung kính, là chánh, là trang hoàng rực rỡ. “Nghiêm” () là tôn quư, nghiêm túc, trang trọng. Như vậy hai chữ “trang nghiêm” có thể hiểu một cách thông tục là trang hoàng bằng các thứ tốt đẹp một cách tôn trọng, cung kính, đúng đắn, nghiêm túc nhất. Dùng diệu đức của Đại Sĩ để trang nghiêm; cơi mầu nhiệm là cái được trang nghiêm bằng những diệu đức của đại sĩ. Đem vạn đức dung hợp thành cơi mầu nhiệm nên bảo là “trang nghiêm diệu độ” (trang nghiêm cơi nhiệm mầu).

Câu “trụ Chân Thật Huệ… trang nghiêm diệu độ” (trụ Chân Thật Huệ... trang nghiêm cơi nhiệm mầu) nói đến căn cội to lớn của cơi tịnh Cực Lạc cũng như mấu chốt của diệu hạnh Phổ Hiền. Trong phẩm Lễ Cúng Thính Pháp của kinh Vô Lượng Thọ đây, A Di Đà Phật bảo các vị Chánh Sĩ từ mười phương đến dự pháp hội rằng: Thông đạt chư pháp tánh, nhất thiết không, vô ngă, chuyên cầu tịnh Phật độ, tất thành như thị sát” (Thông đạt các pháp tánh, hết thảy không, vô ngă, chuyên cầu tịnh Phật độ, ắt thành tựu được cơi nước như cơi này). Lời dạy ấy đă lột trần chánh nhân Tịnh Độ, thật chẳng khác chút nào với câu “trụ Chân Thật Huệ” trong đoạn này v́: “Nhất thiết không, vô ngă, chuyên cầu Tịnh Độ” (Hết thảy không, vô ngă, chuyên cầu Tịnh Độ) chính là Chân Thật Huệ; chuyên cầu Tịnh Độ, an trụ trong “hết thảy không” chính là chân thật trang nghiêm cơi nước. Không thấy có chúng sanh nào để độ mới là độ sanh. Trang nghiêm cơi Phật, cơi Phật ly tướng, kiến lập đạo tràng “bóng trăng trong nước”, làm Phật sự trong mộng, xa ĺa nhị biên, khéo khế hợp Trung Đạo, viên tu, viên chứng, trong khoảng khảy ngón tay liền được thành tựu trọn vẹn. V́ thế, bảo rằng: “Trụ Chân Thật Huệ... trang nghiêm diệu độ” là cội gốc của Di Đà đại nguyện, là mấu chốt của Phổ Hiền đại hạnh.

Có thấu hiểu được Chân Thật Thể rồi th́ mới có thể khởi lên Chân Thật Huệ. Do trụ Chân Thật Huệ nên có thể khai hóa, hiển thị Chân Thật Tế, như ánh sáng tỏa từ viên ngọc lại chiếu ngược lại hiển hiện toàn thể viên ngọc. V́ vậy, trong cơi Cực Lạc, nước, chim, cây cối, mỗi sắc, mỗi hương đều viên minh cụ đức, mỗi thứ đều là viên viên quả hải, đều là Chân Thật Tế cả.

Hơn nữa, do mỗi thứ đều từ chân tâm Đại Giác, Quả Giác diệu đức của Phật Di Đà hiển hiện, mỗi thứ cũng đều từ Như Lai trí huệ đức tướng sẵn có trong tự tâm của mỗi người chúng ta lưu xuất, nên cái được đức Di Đà hiển thị thật ra chính là bản tâm của chúng ta, là của báu trong nhà của chúng ta, chẳng phải từ bên ngoài mà có.

Phát tâm niệm Phật giống hệt như ánh sáng của viên ngọc lại chiếu rơ thể tướng viên ngọc, thân thiết, tự nhiên, chẳng tốn công sức. Do đó, có khả năng rộng ban cái lợi chân thật. Đại ư của phẩm này là: Pháp Tạng Đại Sĩ do tu cái nhân mầu nhiệm như thế, nên chứng được cái quả mầu nhiệm là pháp môn Tịnh Độ.

Ba câu đầu diễn tả ư chính của phẩm này, bốn câu từ chữ sở tu Phật quốc” (cơi nước Phật được tu) trở đi nói đến cơi Phật được ngài Pháp Tạng nghiêm tịnh. “Khai” () là mở ra, “khuếch” () là trống trải, to lớn, rỗng rang. Do vậy, khai khuếch” diễn tả sự rộng lớn, mênh mông. Văng Sanh Luận bảo: “Rốt ráo như hư không, rộng lớn không ngằn mé”. Đấy chính là ư nghĩa của chữ khai  khuếch quảng đại” (bao la, rộng lớn). Ngài Tịnh Ảnh bảo: “Chữ ‘khai khuếch quảng đại’ diễn tả cơi nước to lớn”. Ngài Gia Tường bảo: “Chữ ‘khuếch’ mô tả khả năng dung chứa đại chúng, nghĩa là cơi Tịnh Độ có khả năng chứa đựng được rất nhiều chúng sanh văng sanh về đó, rộng lớn đến vô hạn cực”, Ngài Cảnh Hưng giải thích: “[Cơi Tịnh Độ] do vô lượng đức mà thành”.

Tổng hợp cả ba thuyết trên, ta thấy rằng cơi nước Cực Lạc bao la rộng lớn v́ nó do vô lượng diệu đức của Đại Sĩ Pháp Tạng hợp thành. Cơi nước ấy mênh mông không có giới hạn, dung chứa được vô tận chúng sanh văng sanh về đấy một cách vô hạn lượng.

“Siêu thắng độc diệu”: Diệu () là như sách Pháp Hoa Du Ư giảng: “Diệu là chữ để khen ngợi điều ǵ tinh vi, thâm viễn”. Đại Nhật Kinh Sớ, quyển một lại bảo: “Diệu là không ǵ so sánh bằng được nổi, không có ǵ hơn được nổi”. Như vậy, “diệu” là vô thượng, không ǵ sánh bằng.

Sách Tịnh Ảnh Sớ ghi: “Siêu thắng độc diệu là ư nói cơi nước thù thắng”. Sách Hội Sớ bảo: “Siêu thắng độc diệu là ư nói: Không chỉ to lớn mà những sự trang nghiêm ấy như thân, cơi, chánh báo, y báo đều là bậc nhất, không chi sánh bằng, vượt xa các cơi Phật khác, tinh vi hơn hết, nên bảo là ‘siêu thắng’. Chỉ ḿnh cơi Phật này là bất khả tư nghị bậc nhất nên bảo là độc diệu”.

Tiếp đó, sách lại nêu ra bảy điều để chứng minh sự độc diệu của cơi Cực Lạc. Sách viết:

1. “Pháp, Báo, Ứng xuất hiện trong bổn quốc”. Chữ “bổn quốc” chỉ Cực Lạc. Ư của câu này là cơi Cực Lạc là cơi của tam thân quả Phật: Pháp Thân Phật, Báo Thân Phật, Ứng Hóa Thân Phật, nên hơn hẳn các cơi hóa độ của những ứng hóa thân Phật.

2. “V́ thân Phật: thọ lượng, quang minh vượt xa chư Phật”. Do đức Di Đà là bậc tôn quư nhất trong chư Phật, quang minh của Ngài là vua trong các quang minh, thọ mạng của Ngài vô lượng.

3. “Danh hiệu lợi ích, độc xuất nan tư”: Thánh hiệu Di Đà vang danh mười phương. Nếu ai nghe được chí tâm tin ưa, mười niệm ắt sẽ văng sanh, nghe tên Ngài mà tin nhận th́ mau chứng Bồ Đề. Chư Phật cùng tuyên thuyết, mười phương cùng khen ngợi, nên bảo là “độc xuất”. Lại c̣n do nghe danh phát tâm, nghe danh được phước, nghe danh đắc nhẫn, do nghe danh được trụ tam-ma-địa, chứng Bất Thoái Chuyển, công đức vô lượng nên bảo là “nan tư” (khó nghĩ tưởng được).

4. “Khiến cho Ngũ Thừa cùng nhập báo độ”: Ngũ Thừa là nhân, thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Như Lai. Báo độ là chỗ Pháp Thân Đại Sĩ ở. Nay Phật khiến cho phàm phu, Nhị Thừa, Địa Tiền Bồ Tát đều chứng được báo độ một cách trọn vẹn nên bảo là “độc diệu”.

5. “Những hạng Nhị Thừa, căn khuyết, nữ nhân nhanh chóng chuyển thành Nhất Thừa”: Một phen sanh lên cơi ấy, ai nấy đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đồng ngồi xe trâu trắng lớn “Như Lai Nhất Thừa” nên bảo là nhanh chóng chuyển thành Nhất Thừa.

6. “Chánh nhân văng sanh dễ tu, dễ đắc”: Phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm là chánh nhân để văng sanh; chẳng luận nam, nữ, già trẻ, trí, ngu, bận, rảnh, ai ai cũng tu được. Thậm chí Ngũ Nghịch tội nặng, tướng địa ngục hiện ra, lúc lâm chung bị sự khổ bức bách, quán tưởng khó thành, vẫn có thể xưng danh mà được văng sanh nên bảo là “dễ tu”. Tín nguyện tŕ danh, mười niệm ắt văng sanh nên bảo là “dễ đắc”.

7. “Văng sanh rồi đắc quả thật nhanh chóng, thật cao”: Ngũ Nghịch, Thập Ác lâm chung mười niệm liền được văng sanh, chứng ngay Bất Thoái nên bảo là “thật nhanh chóng”. Phàm phu đem theo Hoặc nghiệp, sanh ngang sang cơi ấy liền thành A Bệ Bạt Trí, địa vị ngang với bậc Bổ Xứ nên bảo là “thật cao”.

Quả thật, những điều như vậy khắp cả mười phương không nơi nào khác có được nên bảo là “độc diệu” như sách Lễ Tán nói: “[Do] bốn mươi tám nguyện trang nghiêm khởi lên, siêu việt các cơi Phật, thật là tinh xảo nhất”.

Kiến lập thường nhiên, vô suy, vô biến”: “Kiến” () là mới khởi đầu xây dựng. “Lập” () đă tạo thành xong, “thường” () là luôn luôn, thường hằng, “nhiên” () là như thế, “suy” () là hư hao, yếu đi, “biến” () là thay đổi. Do vậy, “kiến lập thường nhiên, vô suy, vô biến”có nghĩa là một phen đă được kiến lập rồi th́ luôn luôn giống như thế, chẳng có các tướng trạng bị sút kém, giảm bớt, biến hoại...

Sách Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Kiến lập thường nhiên chẳng suy chẳng biến ư nói cơi nước thường hằng”. Ngài Gia Tường lại bảo: “Kiến lập thường nhiên nghĩa là cơi này (Sa Bà) có kiếp hoại, nhưng cơi kia (Cực Lạc) chẳng thay đổi, măi măi giống như vậy”. Ngài Cảnh Hưng bảo: “Kiến lập thường nhiên là nhân được viên măn, quả được thành lập, nên chẳng đổi khác. Chẳng suy, chẳng biến là chẳng bị tam tai phá hoại” (Tam tai là thủy, hỏa, phong).

Trong cuốn Vô Lượng Thọ Kinh Sao, ngài Vọng Tây lại dựa theo lời dạy của Thiện Đạo đại sư mà phát huy ư nghĩa đoạn kinh này đến mức sâu xa tột bậc. Ư Ngài như sau: Theo Phật Địa Luận, có ba thứ “thường”: Bản tánh thường, bất đoạn thường và tương tục thường. Theo sách Tam Tạng Pháp Số, quyển tám th́:

1. Bản tánh thường tức là Pháp Thân, nghĩa là Pháp Thân bản tánh thường trụ, không sanh, không diệt.

2. Bất đoạn thường là Báo Thân v́ Báo Thân luôn nương theo Pháp Thân chẳng gián đoạn.

3. Tương tục thường là Ứng Thân v́ Ứng Thân thường ở trong thập phương pháp giới đă mất đi lại hiện ra, hóa hiện vô cùng tận.

Ngoài ra, câu “tự tánh luôn thường trụ bất động” của sách Hoa Nghiêm Diễn Nghĩa Sao, quyển ba mươi bốn là nói về Pháp Thân. Trong sách Sự Tán, ngài Thiện Đạo bảo: “Cực Lạc vô vi Niết Bàn giới” và: “Chẳng suy, chẳng biến, luôn thường hằng chẳng lay động”. Như vậy, ta thấy rằng chữ “thường nhiên” trong đoạn kinh trên chính là nói đến bản tánh thường, thường hằng chẳng lay động, tức là Pháp Thân hay tự tánh vậy. Do thường hằng nên chẳng suy, chẳng biến.

Ngài Vọng Tây lại đặt ra câu hỏi như sau: “Đă là cơi do tu nhân mà cảm được quả th́ cơi ấy ắt phải có lúc khởi đầu, sao lại bảo là chẳng phải là nhân, chẳng phải là quả, lặng lẽ thường hằng?” rồi Ngài tự đáp: “Tu nhân cảm quả là Thỉ Giác Trí. Vô vi lặng lẽ, không biến đổi chính là Bổn Giác Lư. Xét đến rốt ráo,Thỉ Giác nào khác Bổn Giác, như sách Thích Đại Diễn Luận viết: ‘Nếu đắc Thỉ Giác th́ [Thỉ Giác] lại chính là Bổn Giác’. Nếu bàn về lúc chứng đắc th́ dường như có khởi đầu, nhưng nếu xét về cái được chứng th́ Thỉ Giác và Bổn Giác bất nhị, vốn sẵn thường trụ”.

Nên chú ư tới những câu cuối trong lời luận trên của ngài Vọng Tây: Lúc bàn đến thời điểm chứng đắc th́ dường như có cái khởi đầu, nhưng khi đă chứng đắc rồi th́ ngôn ngữ dứt bặt, hết thảy bất nhị, vốn sẵn thường trụ. Trên đây tôi đều dẫn những thuyết của ngài Vọng Tây.

Xét trong Mật bộ, kinh Đại Thừa Mật Nghiêm có nói: Phật dĩ siêu quá bỉ, nhi y Mật Nghiêm trụ, Cực Lạc trang nghiêm quốc, Thế Tôn Vô Lượng Thọ” (Phật đă siêu việt những điều ấy, nương vào cơi Mật Nghiêm mà trụ. Cơi Cực Lạc trang nghiêm, đức Thế Tôn hiệu là Vô Lượng Thọ). Kinh ấy c̣n nói: “Mật Nghiêm Tịnh Độ siêu chư Phật quốc, như vô vi tánh, bất đồng vi trần. Thử Mật Nghiêm trung, chư Phật, Bồ Tát, tịnh dư quốc độ, lai thử hội giả, giai như Niết Bàn” (Cơi Mật Nghiêm Tịnh Độ vượt xa các cơi Phật khác, [tánh cơi ấy] giống như tánh của vô vi, chẳng giống với vi trần. Trong cơi Mật Nghiêm ấy, chư Phật, Bồ Tát và các cơi nước khác đến trong hội này đều như Niết Bàn).

Sách Mật Nghiêm Kinh Sớ giảng: “Nói ‘như vô vi tánh’ v́ cơi Mật Nghiêm là cơi Tha Thọ Dụng[2] của chư Phật. Chư Phật từ cơi pháp tánh độ, dùng bi nguyện lực kiến lập cơi Mật Nghiêm. Cơi Tịnh Độ này giống như pháp tánh độ, không có khuyết điểm vô thường, nên bảo là giống như tánh của vô vi”. Sách c̣n nói: “Cơi Mật Nghiêm Tạng này chỉ từ Như Lai tạng tâm thanh tịnh hiện ra nên chẳng phải là do vi trần hợp thành”.

Theo lời giảng trên, Cực Lạc chính là từ Như Lai diệu tâm hiển hiện, là cơi mầu nhiệm do pháp tánh biến hiện ra, nên chẳng giống với các thế giới khác: Những thế giới khác chỉ là do vi trần hợp thành. “Vi trần” chẳng phải là những hạt bụi nhỏ, mà là những hạt cực nhỏ hợp thành vật chất. Trước đây, ta cứ tưởng điện tử là hạt nhỏ nhất, nay lại phát hiện rằng c̣n có những hạt nhỏ hơn cả điện tử, tạm gọi là khoa-khắc (quark); nhưng hiện tại các nhà khoa học vừa khám phá rằng khoa-khắc chưa phải là hạt nhỏ nhất, lại có những hạt nhỏ hơn nữa chẳng thể cùng tận (từ năm 1980 trở đi, các nhà khoa học khám phá ra hạt vi trung tử (meson), hạt này lớn bằng một phần một trăm ức của điện tử. Những hạt này đầy dẫy trong không trung, chúng có thể xuyên qua những tấm nhôm hoặc gang dày đến mười ức cây số như xuyên qua một lớp sương mỏng). Những hạt nhỏ thật nhỏ ấy chính là “vi trần”.

Ở đây kinh dạy: Cực Lạc và cơi Mật Nghiêm đều chẳng phải do những hạt li ti ấy hợp thành, toàn thể của chúng là Như Lai diệu tâm, là tự tánh của đương nhân nên chẳng sanh chẳng diệt, chẳng suy, chẳng biến, lặng lẽ thường trụ như “tánh của vô vi”.

Chánh kinh:

劫,積 行。不 想,不 法。但 佛,所 根。行 行,遠 妄。依 門,植 本。不 苦,少 足。專 法,惠 生。志 倦,忍 就。

Ư vô lượng kiếp, tích thực đức hạnh, bất khởi tham sân si dục chư tưởng, bất trước Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, đản nhạo ức niệm quá khứ chư Phật, sở tu thiện căn, hành tịch tĩnh hạnh, viễn ly hư vọng, y Chân Đế môn, thực chúng đức bổn, bất kế chúng khổ, thiểu dục tri túc, chuyên cầu bạch pháp, huệ lợi quần sanh, chí nguyện vô quyện, Nhẫn lực thành tựu.

Trong vô lượng kiếp, tích chứa, vun bồi đức hạnh, chẳng khởi các ư tưởng tham, sân, si, dục, chẳng chấp trước Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, chỉ thích nghĩ nhớ các thiện căn mà chư Phật quá khứ đă tu, hành tịch tĩnh hạnh, xa ĺa hư vọng, nương vào Chân Đế môn, trồng các cội đức, chẳng nề hà các khổ, ít ham muốn, biết đủ, chuyên cầu bạch pháp, ban bố cái lợi cho quần sanh, chí nguyện không mỏi nhọc, thành tựu Nhẫn lực.

 Giải:

Đoạn đầu của phẩm này đă nói về việc trang nghiêm Tịnh Độ, ba đoạn kế tiếp nói đến việc trang nghiêm tự tâm v́ tâm và cơi nước chẳng hai: “Tâm tịnh th́ cơi nước tịnh”.

Câu “ư vô lượng kiếp, tích thực đức hạnh” (trong vô lượng kiếp tích chứa, vun bồi đức hạnh) là câu dẫn giải đại ư của cả ba đoạn sau.

Kiếp là thời gian cực dài khó ḷng thí dụ được nổi. “Vô lượng kiếp” nghĩa là số kiếp vô lượng, là thời gian dài lâu cực vô lượng, chẳng thể dùng cách nào để diễn tả thời gian ấy, chẳng thể tính toán nổi. Kinh dùng chữ “vô lượng kiếp” để diễn tả sự tu hành lâu xa vậy. Hạnh () là những điều do thân, khẩu, ư tạo tác.

“Đức hạnh”: Tạo thành điều thiện là Đức (), phương cách tạo ra đức là Hạnh. Như vậy, “đức hạnh” gồm cả công đức và hạnh nghiệp. Đức hạnh c̣n chỉ những hạnh nhằm được đầy đủ công đức, tức là ba thứ vô lậu học Giới, Định, Huệ và Lục Độ. Sách Hội Sớ lại giảng như sau: “Hạnh là hạnh nghiệp, là những điều do ba nghiệp tạo ra; Đức là phước đức, tức là cái được chiêu cảm bởi hạnh”“chẳng phải có thể đạt được trong một sớm, một chiều nên bảo là tích chứa, vun bồi”. “Tích” () là tích lũy như từng giọt từng giọt nước đọng lại. “Thực”    () là bồi đắp, vun vén như trồng cây non thành rừng. Trải qua một thời gian lâu chẳng thể tính kể nên bảo là “vô lượng kiếp”.

“Bất khởi tham sân si dục chư tưởng” (Chẳng khởi các ư tưởng: tham, sân, si dục): Đối với duyên sanh tâm gọi là “tưởng” (), như đối với các trần cảnh bèn chấp lấy các tướng sai khác như nam, nữ… th́ gọi là “tưởng” v́ chấp vào cảnh giới sai biệt. Tham tưởng, sân tưởng, si dục tưởng là ba ác tưởng, như kinh Uất Ca La Việt Vấn nói lúc Bồ Tát hành bố thí, dùng Ly Dục Tưởng, Tu Từ Tưởng, Vô Si Tưởng để đối trị ba ác tưởng. Khi Bồ Tát bỏ ra vật để thí th́ sanh Ly Dục Tưởng. Do nhân duyên đă ban niềm vui cho người cầu xin, tâm sân hận bớt dần, nên gọi là Tu Từ Tưởng. Đem công đức bố thí ấy hồi hướng về Vô Thượng Đạo nên tâm Si mỏng lần, đấy gọi là Bất Si Tưởng. Nay Pháp Tạng Đại Sĩ chẳng khởi ba ác tưởng nên Ngài thoát khỏi các phiền năo.

“Bất trước Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp” (Chẳng chấp trước Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp): Chẳng chấp trước là chẳng tham đắm; “Sắc, Thanh…” là Lục Trần:

1. Sắc Trần là hết thảy h́nh sắc như xanh, vàng, đỏ, trắng và các h́nh tượng.

2. Thanh Trần là hết thảy âm thanh: tiếng vui, tiếng khổ v.v…

3. Hương Trần là những thứ được mũi nhận biết: thơm tho hay hôi thối...

4. Vị Trần là những thứ nhận biết bởi lưỡi, tức là các vị ngon lành hay dở tệ của thức ăn...

5. Xúc Trần là những thứ được thân nhận biết như mềm mại, thô tháp, nóng, lạnh, ôn ḥa...

6. Pháp Trần là Ư Căn đối với năm thứ Trần nói trên phân biệt là tốt, xấu rồi khởi ra các pháp thiện, ác.

Trong Lục Trần, vẻ đẹp của nam nữ, tiếng nhạc đàn sáo, ca vịnh, mùi hương Chiên-đàn, hay mùi của nam nữ, các vị ngon lành của thức ăn trân quư, cảm xúc do y phục thượng diệu hay thân thể mềm mại, mịn màng của nam nữ đều là những sự khiến chúng sanh tham đắm chẳng thể xuất ly nổi. Nay Pháp Tạng Bồ Tát, trong tâm không ác tưởng nên ĺa khỏi cái nhân gây ra Hoặc Chướng, chẳng vướng vào Lục Trần nên ĺa khỏi Hoặc duyên (duyên tạo nên Hoặc Chướng).

Ngài Cảnh Hưng bảo: “Nội nhân đă ĺa, ngoại duyên đă dứt, nên bảo là chẳng chấp trước”; do không có ba ác tưởng nên không c̣n cái nhân gây ra Hoặc nghiệp. Sáu Trần là duyên, chẳng vướng vào sáu Trần nên chẳng c̣n cái duyên phát khởi Hoặc nghiệp. Ngài Cảnh Hưng bàn về nhân quả: Bên trong đă ĺa được cái nhân tạo ra Hoặc nghiệp nên dứt bỏ được cái duyên của Hoặc nghiệp. V́ vậy, trong ngoài đều ĺa được cả.

“Đản nhạo ức niệm quá khứ chư Phật sở tu thiện căn” (chỉ thích nghĩ nhớ thiện căn của chư Phật quá khứ đă tu - câu này trích từ bản Tống dịch): “Đản” () là chỉ, duy nhất. Câu này và hai câu trước nên đọc một mạch. Hai câu trên là “vạn duyên phóng hạ” (buông xuống vạn duyên), câu này là “nhất niệm đơn đề” (khăng khăng một niệm), đấy chính là cốt lơi của Tịnh nghiệp.

Kinh Hoa Nghiêm nói trong Thập Địa Bồ Tát, Địa nào cũng chẳng bỏ niệm Phật. Phẩm Đại Giáo Duyên Khởi kinh này cũng bảo: “Khứ lai, hiện tại, Phật Phật tương niệm” (Quá khứ, vị lai, hiện tại, chư Phật đều nghĩ đến nhau).

Kinh Quán Phật Tam Muội cũng chép: Nhĩ thời, hội trung tức hữu thập phương chư đại Bồ Tát, kỳ số vô lượng, các thuyết bổn duyên, giai y niệm Phật đắc” (Khi ấy, trong hội liền có mười phương các đại Bồ Tát số đến vô lượng, mỗi vị tự thuật duyên của chính ḿnh, ai ai cũng đều do Niệm Phật mà chứng đắc) và: Phật cáo A Nan: - Nhữ kim thiện tŕ, thận vật vong thất. Quá khứ, vị lai, hiện tại tam thế chư Phật, giai thuyết như thị Niệm Phật tam-muội. Ngă dữ thập phương chư Phật cập Hiền Kiếp thiên Phật, tùng sơ phát tâm, giai nhân Niệm Phật tam-muội lực cố, đắc Nhất Thiết Chủng Trí”

(Phật bảo A Nan: - Ông nay khéo tŕ cẩn thận chớ để quên mất. Quá khứ, hiện tại, vị lai tam thế chư Phật đều nói Niệm Phật tam-muội như vậy. Ta và thập phương chư Phật và ngàn đức Phật trong Hiền kiếp từ lúc mới phát tâm đều do sức của Niệm Phật tam-muội mà đắc Nhất Thiết Chủng Trí). V́ vậy, Phật Di Đà cũng như đức Thích Ca và mười phương Như Lai từ khi mới phát tâm đều do Niệm Phật tam-muội mà chứng Vô Thượng Bồ Đề, cho nên “đản nhạo ức niệm chư Phật” (chỉ thích ức niệm chư Phật).

“Sở tu thiện căn” (Căn lành đă tu) là công đức của chư Phật đă tu. Nghĩ nhớ Phật đức, cảm ân liền mưu toan báo đáp, mong được như các Ngài v.v... đấy gọi là “ức Phật” (nhớ Phật). Trong các thiện căn của Phật, Niệm Phật là tối thắng, nay muốn được như các Ngài th́ cũng phải nên tŕ danh niệm Phật. Danh hiệu Phật có đủ vạn đức, bao trùm hết thảy thiện căn nên nếu niệm Phật nhuần nhuyễn th́ thật là khéo phù hợp với việc “ức niệm Phật công đức” (nhớ nghĩ công đức của Phật).

Sách An Lạc Tập cũng viết: “Hoặc là có tam-muội chỉ có thể trừ được Tham chẳng trừ được Si và Sân, hoặc là có tam-muội chỉ trừ được Sân, chẳng trừ được Si và Tham; hoặc là có tam-muội chỉ trừ được Si, chẳng thể trừ nổi Tham và Sân; hoặc là có tam-muội chỉ trừ được chướng hiện tại, chẳng trừ được hết thảy các chướng quá khứ, vị lai. Nếu như thường tu Niệm Phật tam-muội th́ chẳng luận hết thảy các chướng trong hiện tại, quá khứ, hay vị lai đều trừ được hết”. V́ vậy, trong các hạnh tịnh tâm của Pháp Tạng Bồ Tát, kinh đặt hạnh “đản nhạo ức niệm chư Phật” (chỉ thích ức niệm chư Phật) lên hàng đầu.

“Hành tịch tĩnh hạnh”: Sách Thám Huyền Kư nói: “Vô Dư Niết Bàn là tịch tĩnh, tu điều ấy gọi là Hành”. Sách Tư Tŕ Kư cũng bảo: “Tịch tĩnh chính là lư Niết Bàn”.

Ngoài ra, trong danh xưng của Thích Ca Mâu Ni Phật, chữ Mâu Ni (Muni) dịch ra là Tịch Tĩnh hoặc Tịch Mặc. Sách Lư Thú Thích, quyển Hạ ghi: “Mâu Ni nghĩa là Tịch Tĩnh. Thân, khẩu, ư tịch tĩnh nên xưng là Mâu Ni”. Đại Nhật Kinh Sớ cũng nói: “Mâu Ni nghĩa là Tịch Mặc. Cơi thường tịch vi diệu tịch tuyệt, sâu thẳm huyền viễn chẳng thể nói bàn nổi. Pháp giới đại diệt độ pháp như vậy chỉ ḿnh đức Phật thanh tịnh có thể trọn vẹn được nổi nên Phật hiệu là Mâu Ni”.

Ở đây, kinh nói Bồ Tát hành tịch tĩnh hạnh là nói Đại Bồ Tát nhập vào hạnh Vô Dư Niết Bàn, tức là pháp giới đại diệt độ pháp, chứ chẳng phải là hạnh tịch tĩnh của hàng Nhị Thừa.

“Viễn ly hư vọng” (xa ĺa hư vọng): Chẳng thật là “hư” (), trái nghịch với cái chân thật là “vọng” (). Hư giả chẳng thật nên bảo là “hư vọng”. Kinh Viên Giác dạy: Hư vọng phù tâm, đa chư xảo kiến, bất năng thành tựu Viên Giác phương tiện” (Tâm hư vọng hời hợt, lắm xảo kiến, chẳng thể thành tựu được phương tiện Viên Giác). Kinh Niết Bàn quyển ba mươi tám cũng nói: Nhất thiết ác sự, hư vọng vi bổn” (Hư vọng là gốc của hết thảy sự ác). V́ vậy, trước hết phải xa ĺa hư vọng để ngăn dứt cái ác từ ngay cội rễ. Pháp Tạng Bồ Tát trụ vào Chân Thật Huệ, hành hạnh thanh tịnh, nên xa ĺa được hết thảy hư vọng.

“Y Chân Đế môn, thực chúng đức bổn” (nương vào Chân Đế môn, trồng các cội đức): Đế () nghĩa là chân thật, chẳng dối. Đạo lư thế gian hay xuất thế gian quyết định chẳng hư vọng th́ gọi là Đế. Sách Nhị Đế Nghĩa, quyển Thượng có nói: “Đế nghĩa là Chân. Hữu là sự thật trong thế gian, Không là sự thật của thánh đạo. Cả hai thứ ấy đều là thật”, nghĩa là: Phàm trần cho Hữu là thật, thánh trí cho Không là thật. Do vậy, Hữu và Không đều là thật, nên lập ra Nhị Đế (Chân Đế và Tục Đế). Thuận theo pháp của hữu t́nh mê muội phàm tục là Tục Đế hoặc Thế Đế. Lư chân thật tịch tĩnh Niết Bàn được thấy bởi thánh trí th́ gọi là Chân Đế hoặc Thắng Nghĩa Đế, Đệ Nhất Nghĩa Đế.

Trí Độ Luận, quyển ba mươi tám có nói: “Trong Phật pháp có hai đế: Một là Thế Đế, hai là Đệ Nhất Nghĩa Đế. Do Thế Đế nên nói có chúng sanh; do Đệ Nhất Nghĩa Đế nên nói chúng sanh vô sở hữu”. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển một cũng giảng: “Tục () là thế tục; cái thấy biết của thế tục th́ gọi là Thế Đế. Chân () là tiếng để gọi [trạng thái] dứt hết hư vọng”.

“Môn” () là các pháp khác biệt có thể dẫn dắt người ta chứng nhập Niết Bàn nên gọi là Môn.

“Y Chân Đế môn” (Nương vào Chân Đế môn) chính là lấy Đệ Nhất Nghĩa Đế làm “môn”. Nương vào thắng nghĩa của Chân Đế để gieo trồng cội rễ của các đức nên bảo là “y Chân Đế môn, thực chúng đức bổn” (nương vào Chân Đế môn, trồng các cội đức).

Kinh Kim Cang nói: “Dĩ vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả, tu nhất thiết pháp” (Dùng vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả để tu hết thảy thiện pháp). “Y Chân Đế môn” chính là không c̣n có bốn tướng: ngă, nhân... như vừa mới nói.

“Thực chúng đức bổn” (Trồng các cội đức) là tu hết thảy thiện pháp. “Thực” () là gieo trồng, vun bồi, “đức” () là thiện. “Bổn” () là cội rễ. Công đức vạn thiện hạnh chính là căn bản của Phật quả đại giác nên gọi là “đức bổn” (cội đức).

Hơn nữa, căn bản của muôn đức th́ gọi là “đức bổn”. Do nghĩa này, danh hiệu của Phật Di Đà sẵn đủ vạn đức, danh hiệu ấy chiêu cảm vạn đức nên được gọi là “đức bổn”. Sách Giáo Hạnh Tín Chứng, quyển sáu có nói: “Đức bổn là đức hiệu của Như Lai. Xưng niệm đức hiệu này một tiếng th́ thành tựu được chí đức (đức cao vời cùng tột) một cách viên măn, chuyển được các họa. [Danh hiệu ấy] là gốc của mười phương đức hiệu nên gọi là đức bổn”.

Trong đoạn kinh Quán Phật Tam Muội vừa được trích dẫn trong phần trên, đức Thích Tôn nói: Ngă dữ thập phương chư Phật cập Hiền Kiếp thiên Phật, tùng sơ phát tâm, giai nhân Niệm Phật tam-muội lực cố, đắc Nhất Thiết Chủng Trí” (Ta và mười phương chư Phật và ngàn đức Phật trong Hiền kiếp từ lúc sơ phát tâm đều do sức của Niệm Phật tam-muội mà đắc Nhất Thiết Chủng Trí). Lời Phật dạy và câu nhận định của sách Giáo Hạnh Tín Chứng đều cùng nói lên một ư chỉ: Tŕ danh niệm Phật chính là cái gốc của mười phương đức hiệu. Do đó, có hai cách giải thích câu “thực chúng đức bổn”:

1. Bồ Tát trong lúc tu nhân, vạn đức viên măn, từ nhân đắc quả nên bảo là “thực chúng đức bổn” (trồng các cội đức).

2. Gốc của các đức chính là niệm danh hiệu Phật.

Thật ra, hai thuyết này chẳng hề mâu thuẫn nhau; v́ Bồ Tát lúc tu nhân chẳng rời niệm Phật nên trong thuyết thứ nhất có thuyết thứ hai. Hơn nữa, Niệm Phật trọn đủ vạn đức nên thuyết thứ hai bao hàm thuyết thứ nhất. Như vậy, hai thuyết chẳng hề mâu thuẫn nhau.

“Bất kế chúng khổ, thiểu dục tri túc” (Chẳng nề hà các sự khổ, thiểu dục tri túc): Kế () là so đo, tính toán, “khổ” () là như kinh Phật Địa, quyển năm nói: “Bức năo thân tâm danh khổ” (Bức năo thân tâm gọi là khổ). “Chúng khổ” (Các sự khổ) là Nhị Khổ (nội khổ, ngoại khổ), Tam Khổ (khổ khổ, hoại khổ, hành khổ), Tứ Khổ (sanh, lăo, bịnh, tử), Bát Khổ v.v... chia ra nhiều loại khác nhau; nói chung là có nhiều loại khổ. Bồ Tát hiểu rơ hết thảy các khổ đều là hư vọng, rốt ráo chẳng có, nên có thể chịu đựng được các khổ, trụ vào b́nh đẳng. V́ vậy, kinh chép: “Bất kế chúng khổ” (Chẳng nề hà các khổ).

“Thiểu dục” là ít mong cầu, “tri túc” là dẫu đạt được ít ỏi vẫn không buồn phiền như kinh Niết Bàn nói: “Thiểu dục giả, bất cầu, bất thủ. Tri túc giả, đắc thiểu bất hối hận” (Thiểu dục là chẳng cầu, chẳng lấy. Tri túc là dẫu được ít vẫn chẳng buồn phiền). Kinh Di Giáo cũng dạy:

Thiểu dục chi nhân, tắc vô siểm khúc dĩ cầu nhân ư, diệc phục bất vị chư căn sở khiên. Hành thiểu dục giả, tâm tắc thản nhiên, vô sở ưu úy, xúc sự hữu dư, thường vô bất túc. Hữu thiểu dục giả, tắc hữu Niết Bàn. Thị danh thiểu dục. Nhữ đẳng tỳ-kheo, nhược dục thoát chư khổ năo, đương quán tri túc. Tri túc chi pháp, tức thị phú lạc an ổn chi xứ. Tri túc chi nhân, tuy ngọa địa thượng, do vi an lạc. Bất tri túc giả, tuy xử thiên đường, diệc bất xứng ư. Bất tri túc giả, tuy phú nhi bần, tri túc chi nhân, tuy bần nhi phú” (Người thiểu dục th́ chẳng dùng thói dua vạy để lấy ḷng người khác, cũng chẳng bị các căn lôi kéo. Kẻ hành thiểu dục th́ tâm thản nhiên, không sợ hăi, lo âu, gặp chuyện luôn cảm thấy dư dật, không lúc nào chẳng đầy đủ. Có thiểu dục ắt có Niết Bàn. Đấy gọi là Thiểu Dục. Tỳ-kheo các ông nếu muốn thoát khỏi các khổ năo th́ phải nên quán tri túc. Pháp tri túc chính là pháp để đạt giàu vui, an ổn. Người tri túc tuy nằm dưới đất vẫn an vui; kẻ chẳng tri túc dẫu ở thiên đường vẫn chẳng thỏa ư. Chẳng tri túc th́ tuy giầu vẫn nghèo, người tri túc dẫu nghèo lại giầu).

Phẩm Khuyến Phát của kinh Pháp Hoa cũng có nói: “Thị nhân thiểu dục tri túc, năng tu Phổ Hiền chi hạnh” (Người ấy thiểu dục tri túc, có thể tu hạnh Phổ Hiền). Ngài Nghĩa Tịch c̣n dẫn kinh Bát Nhă như sau: “Vân hà Bồ Tát thiểu dục? Năi chí A Nậu Bồ Đề thượng bất dục, hà huống dư dục. Thị danh thiểu dục. Vân hà Bồ Tát tri túc? Đắc Nhất Thiết Chủng Trí, thị danh tri túc (Thế nào là Bồ Tát thiểu dục? Thậm chí Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác Ngài c̣n chẳng mong muốn, huống hồ là các thứ khác. Đấy gọi là ‘thiểu dục’. Thế nào là Bồ Tát tri túc? Đắc Nhất Thiết Chủng Trí th́ gọi là ‘tri túc’). Như vậy: Chẳng cầu cảnh khác là thiểu dục, an trụ nơi tự pháp là tri túc. Cảnh khác chính là ngũ dục: Sắc, Thanh, Hương v.v... tự pháp là Hiện Lượng Trí”.

Ư của ngài Nghĩa Tịch là: Chẳng chấp lấy pháp ngoài tâm, chẳng vương vấn một pháp nào th́ gọi là “thiểu dục”, Thể hiển lộ chân thường tịch diệt là vui, như như bất động là “tri túc”. Một câu “thiểu dục tri túc” bao gồm những ư vi diệu thế ấy, chứng tỏ kinh Phật chứa đầy ư nghĩa thật sâu xa.

“Chuyên cầu bạch pháp, huệ lợi quần sanh” (Chuyên cầu bạch pháp, ban bố cái lợi cho quần sanh): “Bạch pháp” là bạch tịnh pháp (pháp trắng sạch), chỉ hết thảy pháp lành. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển bảy nói: “Thiện pháp tươi sạch nên gọi là Bạch”. Bản Ngụy dịch ghi là “pháp thanh bạch”. Sách Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Ư nói pháp ấy xa ĺa tà kiến, phỉ báng, nên bảo là thanh bạch”. Gia Tường Sớ lại giảng: “Là vô lậu minh nên gọi là thanh bạch”. Sách Hội Sớ giảng: “Pháp Đại Thừa là pháp thanh bạch”. “Huệ” () là thí cho, “lợi” () là làm lợi. Như vậy, câu kinh này có nghĩa là: Chuyên cầu pháp vô lậu Đại Thừa thanh tịnh để thí cho khắp các hữu t́nh, nhằm lợi lạc quần sanh.

“Chí nguyện vô quyện” (Chí nguyện không mỏi nhọc): Quyện () là mệt mỏi, chán nản. Mỗi nguyện trong mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Đại Sĩ trong kinh Hoa Nghiêm luôn được kết thúc như sau: Hư không giới hết, chúng sanh giới hết, chúng sanh nghiệp hết, phiền năo của chúng sanh cùng tận, th́ sự lễ kính (cho đến hồi hướng) của tôi mới hết, nhưng cơi hư không cho đến phiền năo chẳng cùng tận nên sự lễ kính (cho đến hồi hướng) của tôi chẳng cùng tận, “niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn, thân ngữ ư nghiệp, vô hữu b́ yếm” (niệm niệm tiếp nối chẳng gián đoạn, thân - ngữ - ư nghiệp chẳng có nhọc mỏi). Đấy chính là ư nghĩa của câu “chí nguyện vô quyện” (chí nguyện không nhọc mỏi).

“Thành tựu nhẫn lực”: “Nhẫn lực” là sức nhẫn nhục. Sư Pháp Trụ giảng: “Nhẫn có ba thứ: Một là An Khổ Nhẫn tức là chịu đựng được những thứ trái ư trong đời; hai là Tha Bất Nhiêu Ích Nhẫn tức là chịu đựng được những điều người khác gây tổn hại cho ḿnh; ba là Pháp Tư Duy Nhẫn tức là chẳng phân biệt các pháp” Thành tựu được ba thứ Nhẫn này nên bảo “thành tựu Nhẫn lực”.

Sách Hội Sớ lại nói đến mười Nhẫn như sau: “Nhẫn có những công đức mà tŕ giới, khổ hạnh chẳng thể sánh bằng nổi. Người có thể nhẫn nhục đáng gọi là bậc đại lực. Nhẫn nhục cốt là để trị sân hận, nhưng nó cũng giúp ta đoạn trừ cả tam độc. Kinh Bảo Vân khi giảng về các pháp Bồ Tát tu tập đă nêu lên mười pháp, trong ấy có Nhẫn pháp. Bồ Tát có mười pháp để an tịnh nơi Nhẫn. Những ǵ là mười? Ấy là Nội Nhẫn, Ngoại Nhẫn, Pháp Nhẫn, Tùy Phật Giáo Nhẫn, Vô Phương Sở Nhẫn, Tu Xứ Xứ Nhẫn, Phi Sở Vị Nhẫn, Bất Bức Năo Nhẫn, Bi Tâm Nhẫn, Thệ Nguyện Nhẫn.

Thế nào là Nội Nhẫn của Bồ Tát? Bồ Tát dẫu bị đói, khát, lạnh, nóng, lo buồn, đau đớn bức bách thân tâm vẫn tự cam chịu, chẳng thấy khổ năo. Đấy là Nội Nhẫn.

Thế nào là Ngoại Nhẫn của Bồ Tát? Bồ Tát nghe người khác dùng lời ác mắng chửi, nhục mạ, chê bai, hoặc nhục mạ đến cha mẹ, vợ con, anh em trai, chị em gái, thân quyến, ḥa thượng, A-xà-lê, bạn bè đồng học, hoặc nghe kẻ khác hủy nhục Phật, Pháp, Tăng; với bao nhiêu lời hủy nhục, chê bai như vậy, Bồ Tát đều nhẫn nhục, chẳng sanh nóng giận th́ gọi là Ngoại Nhẫn.

Thế nào là Pháp Nhẫn của Bồ Tát? Với những nghĩa vi diệu do đức Phật đă nói trong các kinh như chư pháp tịch tĩnh, chư pháp tịch diệt như tướng Niết Bàn... chẳng kinh, chẳng sợ, nghĩ như thế này: ‘Nếu ta chẳng thể hiểu nổi kinh này, chẳng biết được pháp này th́ trọn chẳng đắc Bồ Đề’. V́ vậy Bồ Tát siêng cầu hỏi han, đọc tụng. Đấy gọi là Pháp Nhẫn.

Thế nào là Bồ Tát Tùy Phật Giáo Nhẫn? Lúc Bồ Tát khởi tâm sân năo, ác độc, liền suy nghĩ rằng: Thân này từ đâu mà sanh, từ đâu mà diệt? Nếu từ Ngă sanh th́ Ngă là cái ǵ? Nếu từ cái khác sanh ra th́ cái khác đó là cái ǵ? Pháp tướng cũng vậy, từ nhân duyên nào sanh ra? Lúc Bồ Tát suy nghĩ như vậy chẳng thấy sanh ra từ cái ǵ, cũng chẳng thấy duyên khởi từ cái ǵ, cũng chẳng thấy từ Ngă sanh, cũng chẳng thấy từ cái khác khởi, cũng chẳng thấy từ nhân duyên sanh. Suy nghĩ như vậy nên chẳng sân, cũng chẳng năo, cũng chẳng độc, sức sân nộ liền giảm bớt. Đấy gọi là Tùy Phật Giáo Nhẫn.

Thế nào là Bồ Tát Vô Phương Sở Nhẫn? Hoặc là có lúc đêm nhẫn được, ngày không nhẫn được; hoặc có lúc ngày nhẫn nổi, đêm không nhẫn được; nhẫn được ở chỗ này, không nhẫn nổi ở nơi khác, hoặc nhẫn được bậc tri thức, nhưng chẳng nhẫn được với kẻ chẳng phải là tri thức. Bồ Tát chẳng giống vậy: Trong hết thảy thời, hết thảy chỗ, thường sanh tâm nhẫn, nên gọi là Vô Phương Sở Nhẫn.

Thế nào là Bồ Tát Tu Xứ Xứ Nhẫn? Có người nhẫn chịu được cha mẹ, sư trưởng, thê thiếp, con cái, kẻ lớn, người nhỏ, thân thuộc nội ngoại, nhưng chẳng thể nhẫn được kẻ khác. Ḷng Nhẫn của Bồ Tát chẳng như vậy, nhẫn chịu hạng Chiên-đà-la hệt như nhẫn chịu cha mẹ. Đấy gọi là Tu Xứ Xứ Nhẫn.

Thế nào là Bồ Tát Phi Sở Vị Nhẫn? Chẳng v́ sự mà nhẫn, chẳng v́ lợi mà nhẫn, chẳng v́ sợ mà nhẫn, chẳng v́ chịu ơn người khác mà nhẫn, chẳng v́ bạn bè thân thiết mà nhẫn, chẳng v́ thẹn thùng mà nhẫn, Bồ Tát luôn tu nhẫn. Đấy gọi là Bồ Tát Phi Sở Vị Nhẫn.

Thế nào là Bồ Tát Bất Bức Năo Nhẫn? Nếu đă có nhân duyên gây sân hận nhưng phiền năo chưa khởi th́ chẳng gọi là Nhẫn. Nếu lúc gặp phải nhân duyên gây sân hận như dao vung, gậy đập, tay đấm, chân đá, ngoác miệng chửi bới, chính ngay lúc đó mà tâm chẳng động mới gọi là Nhẫn. Đấy gọi là Bồ Tát Bất Bức Năo Nhẫn.

Thế nào gọi là Bồ Tát Bi Tâm Nhẫn? Lúc ấy, nếu Bồ Tát làm vua hoặc là bậc giống như vua có công nghiệp lớn, v́ chúng sanh khổ nên làm chúa họ. Nếu lúc bọn chúng sanh ấy đến mắng chửi, xúc phạm, Bồ Tát chẳng cậy ḿnh là chúa bọn họ mà sanh sân hận, [tự nhủ] ta phải cứu vớt những chúng sanh như thế, thường bảo vệ chúng, chứ lẽ đâu lại sanh nóng giận? Thế nên, nay tâm ta bi mẫn thương xót chẳng sanh nóng giận. Đấy gọi là Bồ Tát Bi Tâm Nhẫn.

Thế nào gọi là Bồ Tát Thệ Nguyện Nhẫn? Bồ Tát nghĩ như sau: Ta trước đây từng đối trước chư Phật hiện sư tử hống phát thệ nguyện rằng: - Con sẽ thành Phật, ở trong đầm lầy sanh tử để cứu vớt các chúng sanh khổ sở. Ḿnh nay muốn cứu vớt họ th́ chẳng nên nóng giận làm khổ họ. Nếu ḿnh chẳng nhẫn được th́ c̣n chẳng độ nổi chính ḿnh, huống là lợi lạc chúng sanh!”

Pháp Tạng Bồ Tát trọn vẹn các Nhẫn nên bảo là “thành tựu Nhẫn lực”.

Chánh kinh:

情,常 忍。和 語,勸 進。恭 寶,奉 長。無 心。

Ư chư hữu t́nh, thường hoài từ nhẫn, ḥa nhan ái ngữ, khuyến dụ sách tấn, cung kính Tam Bảo, phụng sự sư trưởng, vô hữu hư ngụy siểm khúc chi tâm .

Với các hữu t́nh thường mang ḷng từ nhẫn, vẻ mặt nhu ḥa, lời nói dịu dàng, khuyến dụ, sách tấn, cung kính Tam Bảo, phụng sự sư trưởng, chẳng có tâm siểm khúc, hư ngụy.

Giải:

Đoạn trên đă nói “huệ lợi quần sanh” (ban bố cái lợi cho quần sanh), đó là Từ; rồi bảo “thành tựu Nhẫn lực”, đó là Nhẫn. V́ vậy, đối với các hữu t́nh thường có ḷng “từ nhẫn”.

“Ḥa nhan” ( ) là vẻ mặt nhu ḥa, sách Hội Sớ giảng: “Bên trong ĺa vọng nhiễm nên mặt ngoài thường ôn ḥa. V́ vậy bảo là ‘ḥa nhan’. Kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhă chép: “Bồ Tát hành Bát Nhă Ba La Mật, như thị tùy thuận Phật thanh tịnh giáo, thị chư chúng sanh, diện môn tiên tiếu, tằng vô tần túc, sở dĩ nhiên giả? Tâm ly uế trược, chư căn thanh tịnh, bất nhiễm ly cấu, tâm bất sân khuể, nội vô hận kết” (Bồ Tát hành Bát Nhă Ba La Mật, tùy thuận lời Phật dạy một cách thanh tịnh như thế, trông thấy các chúng sanh, mặt liền tươi cười, chưa từng nhăn nhó, v́ sao vậy? Tâm ĺa uế trược, các căn thanh tịnh, chẳng nhiễm, ly cấu, tâm chẳng nóng giận, trong tâm không kết hận).

Ái Ngữ là một trong bốn nhiếp pháp. Bốn nhiếp pháp là Bố Thí, Ái Ngữ, Lợi Hành, Đồng Sự. Khéo tùy theo căn tánh chúng sanh để vỗ về, dẫn dụ khiến họ sanh tâm thân ái, nương theo ḿnh học lấy giáo pháp th́ gọi là Ái Ngữ Nhiếp. V́ vậy, kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhă bảo: “Hạ thanh tế ngữ nhuyễn mỹ nhi ngôn, thuận bỉ ư ngữ cố” (Dùng lời nhỏ nhẹ, mềm mỏng, hay đẹp để nói lời đẹp ḷng kẻ khác).

“Khuyến dụ” ( ) là khuyên dạy, vỗ về để khai tri kiến Phật cho chúng sanh, chỉ bày tri kiến Phật cho họ. “Sách tấn” ( ) là thúc đẩy họ tiến bộ hơn, ta thường nói là “khích lệ”, ngơ hầu họ giải ngộ tri kiến Phật, chứng nhập tri kiến Phật.

“Cung kính Tam Bảo, phụng sự sư trưởng”: Tự khiêm là “cung”  (), tôn trọng đức hạnh của người khác là “kính” (). Sớ giải kinh Pháp Hoa của ngài Gia Tường, quyển hai có nói: “Khiêm tốn, kiêng nể là Cung, đề cao trí đức của người khác là Kính”.

“Tam Bảo”: Hết thảy Phật Đà là Phật Bảo, giáo pháp do Phật Đà giảng ra là Pháp Bảo, người tuân theo giáo pháp của Phật Đà tu hành là Tăng Bảo. Sau khi Phật diệt độ, Tam Bảo tồn tại trong thế gian được gọi là “trụ tŕ Tam Bảo”. Tượng Phật gỗ, tranh Phật là Phật Bảo, các câu kinh trong Tam Tạng là Pháp Bảo, người cạo tóc, mặc y hoại sắc là Tăng Bảo.

V́ sao gọi là Bảo? Theo Bảo Tánh Luận, do sáu nguyên nhân: Trong đời ít có, ly cấu, thế lực, trang nghiêm thế gian, tối thượng, bất biến. Phật lại có nghĩa là giác tri, Pháp là khuôn phép, Tăng là ḥa hợp. “Cung kính Tam Bảo” là khâm ngưỡng đức hạnh của Tam Bảo.

“Phụng” () là tôn sùng, phụng dưỡng, “sự” () là hầu hạ. “Phụng sự” là cung kính hầu hạ. “Sư” () là người dạy đạo cho ta, “trưởng” () nghĩa là đức hạnh, hoặc vai vế cao hơn ḿnh, hoặc lớn tuổi hơn ḿnh. Trong Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn, ngài Tỉnh Am đă viết: “Nếu chẳng có thế gian sư trưởng làm sao biết được lễ nghĩa. Nếu không có bậc xuất thế sư trưởng, chẳng hiểu nổi Phật pháp. Chẳng biết lễ nghĩa th́ khác ǵ cầm thú, chẳng hiểu Phật pháp, có khác ǵ tục nhân?” Ân sư trưởng sâu nặng nên phải phụng sự. Mật tông c̣n coi cung kính Thượng Sư là căn bản giới, thậm chí: “Trong hết thảy công đức cúng dường, cúng dường Thượng Sư là tối thắng”. Như vậy, “phụng sự sư trưởng” thật sự là một nhiệm vụ quan trọng của việc tu hành.

Sách Hội Sớ lại giảng như sau: “Phụng sự sư trưởng c̣n bao hàm cả ư hiếu dưỡng cha mẹ. Sư là căn bản xuất thế, cha mẹ là ruộng phước trong thế gian, Bồ Tát ắt phải cung kính, phụng tŕ”. Thuyết này thật rất có căn cứ v́ như Quán kinh nói: “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng”.

“Vô hữu hư ngụy, siểm khúc chi tâm” (Chẳng có tâm hư ngụy, siểm khúc): Hư () là hư vọng chẳng thật, “ngụy” () là hiện tướng dối trá, “siểm” () là nịnh nọt, đón ư người ta để nói vuốt theo, ta thường nói là “a dua, bợ đỡ”. “Khúc” () là chẳng thẳng thắn, dối trá, tà vạy. Chẳng hư ngụy, siểm ngụy, siểm khúc nên tâm đoan chánh, chất trực, không lầm lỗi. Tịnh Ảnh Sớ viết: “Chẳng có tâm hư ngụy, siểm khúc, nghĩa là ĺa được các lỗi nơi tâm”. Kinh Duy Ma, phẩm Phật Quốc có nói: “Trực tâm thị Bồ Tát Tịnh Độ” (Trực tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát), ngài Tăng Triệu giảng: “Trực tâm là chất trực, chẳng dua dối, tâm này là gốc của muôn hạnh”. Ngài Tăng Triệu coi tâm chất trực không dua dối là gốc của vạn hạnh. Lời này thật là thiết yếu, chớ nên coi thường.

 Chánh kinh:

行,軌 足。 化,三 寂。善 業,不 過。善 業,不 儀。善 業,清 染。

Trang nghiêm chúng hạnh, quỹ phạm cụ túc, quán pháp như hóa, tam-muội thường tịch, thiện hộ khẩu nghiệp, bất cơ tha quá, thiện hộ thân nghiệp, bất thất luật nghi, thiện hộ ư nghiệp, thanh tịnh vô nhiễm.

Trang nghiêm các hạnh, quỹ phạm đầy đủ, quán pháp như huyễn hóa, tam-muội thường tịch, khéo giữ ǵn khẩu nghiệp, chẳng chê bai lỗi người khác, khéo giữ ǵn thân nghiệp chẳng mất luật nghi, khéo giữ ǵn ư nghiệp, thanh tịnh vô nhiễm.

Giải:

Tịnh Ảnh Sớ giảng chữ “trang nghiêm chúng hạnh” (trang nghiêm các hạnh) như sau: “Ư nói thành tựu các hạnh”. Trang nghiêm là hai thứ trang nghiêm: phước và trí. “Chúng hạnh” là hết thảy các hạnh như: Đàn (bố thí)... Ư nói: Dùng phước và trí để trang nghiêm các độ như bố thí... và vạn hạnh.

Sách Duy Thức Thuật Kư, quyển bảy nói: “Tư lương tốt đẹp là phước trí nhị nghiêm”. Sách Niết Bàn Kư, quyển hai mươi bảy ghi: “Hai thứ trang nghiêm: Một là trí huệ, hai là phước đức. Nếu Bồ Tát đầy đủ hai thứ trang nghiêm ấy th́ biết được Phật tánh”. Sách Thám Huyền Kư, quyển ba cũng bảo: “Trang nghiêm có hai nghĩa: Một là đầy đủ đức, hai là trang hoàng”.

Như vậy, “trang nghiêm chúng hạnh” nghĩa là trong mỗi một hạnh đều từ tánh khởi tu, hoàn toàn tu nơi tự tánh nên Tịnh Ảnh Sớ cho rằng “trang nghiêm chúng hạnh” chính là thành tựu các hạnh.

“Quỹ phạm” là quy tắc và khuôn phép. “Quỹ” () c̣n nghĩa là phép tắc, “phạm” () là pháp, là thường. Do sở hạnh đầy đủ phước trí nên nói ra, dạy điều ǵ cũng trở thành quy tắc; làm ǵ, chỉ bày cái ǵ cũng trở thành mẫu mực cho đại chúng, nên bảo là “quỹ phạm”; đều thành pháp chuẩn mực chẳng thể biến cải được nên bảo là “quỹ phạm cụ túc” (quỹ phạm đầy đủ).

“Quán pháp như hóa” là thấy hết thảy đều như huyễn hóa. “Quán” () là tên khác của Trí, sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển hai nói: “Ư niệm ở mức độ thô là Giác, ư niệm ở mức vi tế là Quán”. Sách Du Tâm Pháp Giới Kư cũng bảo: “Quán là Quán Trí. Pháp này ĺa các ư thức chấp trước so đo nên gọi là Quán”.

Sách Hội Sớ lại bảo: “Chữ Quán ở đây là Tam Quán. Do v́ Tam Đế (Giả Đế, Không Đế, Chân Đế) nên có Tam Quán. Đấy là cốt lơi của vạn hạnh, là gan mật của Bồ Tát” “một chữ Pháp chỉ chung hết thảy hữu t́nh, phi t́nh, các pháp sanh tử, Niết Bàn”.

Sách Hội Sớ giảng chữ “như hóa” như sau: “Chẳng phải là Không, chẳng phải là Giả, nhưng dùng Không và Giả để sánh ví. Nó chính là Trung Đế”. Ư nói: Tuy nói là “như hóa”, nhưng nó chẳng phải tuyệt đối không có, nên bảo “chẳng phải là không”. Nếu cho rằng có th́ nó lại chỉ như huyễn hóa mà thôi, nên chẳng thật có. Gọi là “như hóa” v́ nó giả có; đă là huyễn hóa th́ toàn thể của cái được biến hiện ra ấy chỉ là không. V́ vậy, sách Hội Sớ bảo là “chẳng phải là Không, chẳng phải Giả, mà dùng Không và Giả để sánh ví” nên hiển thị Trung Đạo. “Quán pháp như hóa” là quán hết thảy pháp đều là Trung Đạo.

“Tam-muội thường tịch”: Tam-muội là Chánh Định, “thường tịch”: Tướng chẳng sanh diệt của chân thể gọi là “thường” (), dứt hết tướng phiền năo là “tịch” (). Sách Duy Thức Thuật Kư viết: “Chẳng sanh, chẳng diệt, tuyệt danh tướng, trụ thường tịch”. V́ vậy, Tịnh Ảnh Sớ bảo: “Tam-muội thường tịch là Chỉ hạnh sâu” (“Chỉ hạnh” là tu pháp Chỉ, ngưng tâm lại một chỗ là Chỉ (). Chỉ là tên gọi khác của Thiền Định). Tuyệt danh tướng, ĺa phiền năo, chẳng sanh, chẳng diệt, trụ trong thường tịch, tam-muội đến mức như vậy nên bảo là “sâu”.

Do thường hành Trung Đạo, trụ trong diệu quán “hết thảy như hóa”, tự nhiên nhập được Chánh Định bất sanh bất diệt thường tịch rất sâu. Kinh Di Giáo cũng nói: Thí như tích thủy chi gia, thiện trị đề đường. Hành giả diệc nhĩ, vị trí huệ thủy cố, thiện tu Thiền Định, linh bất lậu thất” (Ví như người tiếc nước phải khéo be bờ, đắp đê; hành giả cũng thế, v́ nước trí huệ nên khéo tu Thiền Định, chẳng để nó rỉ mất). Câu kinh này đă diễn tả nhân hạnh của Đẳng Tŕ (tên khác của tam-muội). Trong phẩm Đại Giáo Duyên Khởi của kinh Vô Lượng Thọ đây cũng có câu: “Như Lai Định Huệ cứu sướng vô cực” (Định Huệ của Như Lai đă thấu suốt đến vô cực), đấy là Quả Đức.

Sáu câu kể từ “thiện hộ khẩu nghiệp” (khéo giữ khẩu nghiệp) trở đi ư nói: Bồ Tát thân, khẩu, ư tam nghiệp thanh tịnh. Trong tam nghiệp, “thiện hộ ư nghiệp” (khéo giữ ǵn ư nghiệp) là quan trọng nhất, đó chính là chánh hạnh “thiện hộ ư nghiệp(khéo giữ ǵn ư niệm chính ḿnh) của Bồ Tát.

Do khế hợp sâu xa với Trung Đạo, Chánh Định thường tịch, hiểu rơ nguồn gốc chân thật, xa ĺa sanh diệt, tự nhiên xa ĺa hết thảy các cấu nhơ phiền năo nên ư nghiệp “thanh tịnh vô nhiễm”. Ư nghiệp đă thanh tịnh, thân nghiệp cũng thanh tịnh theo, nên khẩu nghiệp “bất cơ tha quá” (chẳng chê bai lỗi người khác). “Cơ” () là chê trách, nói xấu, chỉ trích lầm lỗi của người khác. Khẩu nghiệp chẳng chê lỗi người khác là do ư nghiệp chẳng thấy lỗi lầm người khác. “Tha” (: người khác) chỉ hết thảy hữu t́nh; nói rộng hơn là hữu t́nh, phi t́nh, vạn sự, vạn vật, hết thảy pháp. Hết thảy không lầm lỗi, vốn tự vô nhiễm, vốn tự viên thành như Thủ Lăng Nghiêm có nghĩa là “hết thảy sự rốt ráo kiên cố”, cũng như kinh Viên Giác nói: “Chư Giới, Định, Huệ, cập dâm, nộ, si, câu thị Phạm Hạnh” (Các giới, định, huệ và dâm, nộ, si đều là Phạm Hạnh) và “nhất thiết phiền năo, tất cánh giải thoát” (hết thảy phiền năo rốt ráo là giải thoát). V́ hết thảy b́nh đẳng nên c̣n có ǵ để chê trách nữa!

“Thiện hộ thân nghiệp, bất thất luật nghi” (Khéo giữ ǵn thân nghiệp, chẳng mất luật nghi): Luật () là giới luật, Nghi () là nghi tắc. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển mười giảng: “Nói về luật nghi th́ pháp ngăn cấm điều ác là Luật; thực hành theo đúng giới luật nên gọi là Luật Nghi”. Ư sách nói: Trong cái được gọi là Luật Nghi th́ pháp ngừa ác, chấm dứt điều sai trái gọi là Luật; hành vi theo đúng giới luật th́ gọi là Luật Nghi.

Sách Hành Tŕ Sao Tư Tŕ Kư lại bảo: “Ngăn cấm, pḥng ngừa chung th́ gọi là Luật; tạo tác ra h́nh tướng là Nghi”.

Tổng hợp hai thuyết trên th́ y chỉ giới luật, thể hiện ra hành vi th́ gọi là Luật Nghi. Ngoài ra, Luật Nghi Giới là một trong Tam Tụ Tịnh Giới. Tam Tụ Tịnh Giới là:

1. Nhiếp Luật Nghi Giới: Thọ tŕ năm, tám, mười, Cụ Túc Giới... hết thảy giới luật.

2. Nhiếp Thiện Pháp Giới: Tu hết thảy thiện pháp là giới.

3. Nhiếp Chúng Sanh Giới: C̣n gọi là Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới, lấy việc lợi lạc hết thảy hữu t́nh làm giới.

Trên đây là giới tổng quát mà bậc Đại Thừa Bồ Tát phải thọ. Trong Nhiếp Luật Nghi Giới, tại gia Bồ Tát phải thọ năm giới và tám giới, xuất gia Bồ Tát thọ mười giới và Cụ Túc Giới.

Kinh Niết Bàn quyển ba mươi mốt nói: “Giới diệc nhất thiết thiện pháp thê đăng” (Giới cũng là cây thang đưa đến hết thảy thiện pháp). Kinh Anh Lạc Bổn Nghiệp, quyển hạ cũng bảo: “Nhất thiết chúng sanh, sơ nhập Tam Bảo hải, dĩ tín vi bổn. Trụ tại Phật gia, dĩ Giới vi bổn” (Hết thảy chúng sanh lúc mới vào biển Tam Bảo th́ lấy Tín làm gốc; trụ trong nhà Phật lấy Giới làm gốc). Sách Ngũ Đăng Hội Nguyên nói: “Pháp yếu có ba: Giới, Định, Huệ”.

Các kinh luận vừa dẫn trên đây đă giảng rộng về giới đức. Kinh Phổ Siêu Tam Muội, quyển một dạy: “Bị giới đức khải, hóa độ chúng sanh” (Mặc giáp giới đức, hóa độ chúng sanh), đấy chính là ư nghĩa chân thật của câu “thiện hộ thân nghiệp, bất thất luật nghi” (khéo giữ ǵn thân nghiệp, chẳng mất luật nghi). Ở đây, “giới khải” (áo giáp giới luật) có hai nghĩa:

1. Một là hộ tŕ: Lấy giới đức làm giáp trụ như lính cứu hỏa mặc áo giáp bằng chất thạch miên (amiant) xông vào nhà lửa tam giới, xông vào ngọn lửa tam độc hừng hực cứu vớt chúng sanh chẳng hề sợ hăi.

2. Hai là trang nghiêm: Dùng đức tŕ giới để tự trang nghiêm, chẳng mất luật nghi, làm khuôn phép cho trời, người khiến cho chúng sanh khâm ngưỡng, quy hướng, chấp nhận sự giáo hóa của ḿnh, cung kính giới đức của ḿnh, học theo giới hạnh của ḿnh, tấn tu Định Huệ đạt đến bờ kia.

Đem câu kinh Viên Giác vừa dẫn ở trên: “Chư Giới, Định, Huệ cập dâm, nộ, si, câu thị phạm hạnh” (Các Giới, Định, Huệ và dâm, nộ, si đều là phạm hạnh) để đối chiếu câu “bất thất luật nghi” (chẳng mất luật nghi) trong đoạn này ta thấy rơ được diệu hạnh tu chứng trọn vẹn, giải ngộ trọn vẹn Trung Đạo, Lư Sự vô ngại. Biết rơ Giới, Định, Huệ và Dâm, Nộ, Si là b́nh đẳng nên tuy nghiêm tŕ tịnh giới, chẳng đánh mất luật nghi, đầy đủ quỹ phạm, nhưng tự tâm thường tịch, hết thảy b́nh đẳng, chẳng lấy - bỏ cái ǵ, cũng chẳng yêu - ghét, chẳng thấy ḿnh phải, chẳng bảo người sai. Tŕ giới như vậy là tŕ giới một cách chân thật; tu hành như thế là hạnh Phổ Hiền. Tri kiến như thế mới khế hợp Trung Đạo. Kẻ nào mới nghe lơm bơm cái ư b́nh đẳng đă vội chê bai tŕ giới là chấp tướng, phỉ báng giới luật, hoặc vừa mới tŕ giới được một chút đă vội kiêu căng, tự khen ḿnh, chê người, bàn soạn lỗi lầm kẻ khác th́ đều là hạng lầm thuốc thành bệnh cả!

Cả ba đoạn trên đều tường thuật Pháp Tạng Đại Sĩ trang nghiêm đức hạnh nơi tự tâm, đoạn tiếp theo đây sẽ nói về hạnh đức thành tựu chúng sanh của Ngài. 

Chánh kinh:

城、聚 落、眷 屬、珍 寶,都 著。恆 施、持 戒、忍 辱、精 進、禪 定、智 慧,六 行,教 生,住 道。

Sở hữu quốc thành, tụ lạc, quyến thuộc, trân bảo, đô vô sở trước. Hằng dĩ Bố Thí, Tŕ Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Trí Huệ, Lục Độ chi hạnh, giáo hóa an lập chúng sanh, trụ ư vô thượng chân chánh chi đạo.

Với tất cả quốc thành, tụ lạc, quyến thuộc, trân bảo Ngài đều không dính mắc, luôn dùng Bố Thí, Tŕ Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Trí Huệ, hạnh Lục Độ để giáo hóa an lập chúng sanh trụ nơi đạo vô thượng chánh chân.

Giải:

“Tụ lạc” ( ) là thôn xóm, nay chính là chỗ làng mạc, nơi có người sanh sống. “Trước” () là chấp trước. Có chấp trước th́ khó ĺa bỏ được; không chấp trước nên đều bố thí được hết.

Tiếp theo Bố Thí là năm Độ: Tŕ Giới, Nhẫn Nhục... các Độ đều lấy không chấp trước làm gốc. Đấy chính là tông chỉ của kinh Kim Cang: Xa ĺa bốn tướng, tu hết thảy pháp lành, nên chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Lục Độ chính là đại hạnh lợi ích cả ḿnh lẫn người đạt đến bờ kia Niết Bàn một cách rốt ráo của bậc Bồ Tát. Bồ Tát tự hành pháp này và cũng dùng giáo pháp này chỉ dạy, lợi lạc chúng sanh, nên kinh nói tiếp: “Giáo hóa, an lập chúng sanh”. Sách Hội Sớ giảng: “Đem đạo này dạy cho người khác là Giáo, chuyển ác thành thiện là Hóa. Dẫn dắt chúng sanh an trụ chánh đạo, kiến lập đại tâm nên bảo là An Lập”.

Đại sĩ dùng Lục Độ dạy dỗ và tiếp độ chúng sanh khiến cho họ chuyển ác thành thiện, phát khởi đại tâm, an trụ chánh đạo. Đạo này chẳng phải là tiểu đạo nên bảo là vô thượng chân chánh chi đạo”.

“Vô thượng” là không ǵ có thể hơn được nổi. Sách Tịnh Độ Luận Chú nói: “Vô thượng: Đạo này cùng lư tận tánh, không ǵ hơn được nổi”. Sách Hoa Nghiêm Đại Sớ Sao, quyển mười ba nói: “Không có ǵ hơn được nổi nên gọi là vô thượng”.

“Chân” () là chân thật, chẳng mê, chẳng vọng. “Chánh” (): Chẳng sai lầm nơi lư là Chánh; Chánh c̣n có nghĩa là chẳng tà, chẳng cong. Sách Chánh Pháp Nhăn Tàng của nhà Thiền giảng chữ Chánh như sau: “Chánh là đức danh (danh hiệu phô bày đức tánh) của Phật tâm. Tâm này thấy tỏ cùng tột chánh pháp nên bảo là Chánh Pháp Nhăn”.

Chữ Đạo ():

1. Một nghĩa là “dẫn đến” như Câu Xá Luận, quyển hai mươi lăm giảng: “Đạo có nghĩa là ǵ? Là con đường Niết Bàn, đi theo con đường ấy th́ đến được thành Niết Bàn”. Sách Hoa Nghiêm Đại Sớ, quyển mười tám cũng giảng: “Thông đến Phật quả nên gọi là Đạo”.

2. Đạo có nghĩa là cái Thể của Niết Bàn. Bài trừ các chướng một cách vô ngại tự tại th́ gọi là “đạo” như sách Niết Bàn Vô Danh Luận giảng: “Niết Bàn gọi là Đạo, lặng lẽ, rỗng rang, rộng lớn chẳng thể h́nh dung nổi, vi diệu vô tướng, chẳng thể dùng hữu tâm để biết nổi”.

Như vậy, Đạo là con đường dẫn đến Niết Bàn mà nó cũng chính là Niết Bàn. Tổng hợp ư kiến của những kinh luận vừa dẫn trên đây để hiểu câu trụ ư vô thượng chân chánh chi đạo” (trụ nơi đạo vô thượng chánh chân) th́ “chân chánh” là chân thật chẳng sai, “vô thượng” là đạo ấy cùng tánh tận lư, chẳng có ǵ hơn được nổi. Đại Sĩ dạy chúng sanh chứng được bờ kia Niết Bàn, an trụ đạo quả Niết Bàn.

Trong đoạn dưới đây, kinh nói tiếp: Do tu diệu đức thù thắng như vậy, Bồ Tát cảm được diệu quả thắng thượng.

Chánh kinh:

故,所 處,無 藏,自 應。或 士、豪 貴,或 王、 帝,或 主,乃 王。於 所,尊 養,未 斷。如 德,說 盡。

Do thành như thị chư thiện căn cố, sở sanh chi xứ, vô lượng bảo tạng, tự nhiên phát ứng, hoặc vi trưởng giả, cư sĩ, hào tánh tôn quưhoặc vi sát-lợi quốc vương, Chuyển Luân thánh đế, hoặc vi Lục Dục thiên chúa, năi chí Phạm Vương. Ư chư Phật sở, tôn trọng cúng dường, vị tằng gián đoạn. Như thị công đức, thuyết bất năng tận.

Do thành tựu các thiện căn như thế nên Ngài sanh ở chỗ nào th́ vô lượng kho báu tự nhiên ứng hiện, hoặc làm trưởng giả, hoặc cư sĩ, ḍng họ danh giá, tôn quư, hoặc làm sát-lợi, quốc vương, Chuyển Luân thánh đế, hoặc làm Lục Dục thiên chúa cho đến Phạm Vương. Ở chỗ chư Phật, Ngài tôn trọng cúng dường chưa từng gián đoạn. Những công đức như thế chẳng thể thuật hết nổi.

Giải:

Câu “như thị chư thiện căn” (các thiện căn như thế) chỉ các thiện căn đă nói trong phẩm Tích Công Lũy Đức. Những công đức ấy phát khởi cơ cảm, hễ cảm th́ ắt có ứng, quả liền tương ứng với nhân. V́ vậy, Pháp Tạng Bồ Tát cảm được cái quả thù thắng, đời đời, kiếp kiếp sanh ở đâu cũng cảm được diệu quả như dưới đây sẽ thuật. 

Trước hết là vô lượng bảo tạng tự nhiên phát ứng” (vô lượng kho báu tự nhiên ứng hiện). Sách Tiên Chú giảng chữ “bảo tạng” như sau: “Kho tàng chứa đầy của cải quư giá, diệu pháp có khả năng cứu vớt chúng sanh khổ ách nên ví diệu pháp như bảo tạng”.

“Phát ứng” ( ) là theo cảm ứng mà tự nhiên xuất hiện; sách Hội Sớ bảo: “Bồ Tát trong nhiều kiếp tích chứa công hạnh bố thí, tŕ giới nên tự cảm được kho tàng báu tự nhiên hiện lên để ứng với đức của Ngài”.

“Trưởng giả” ( ) là tiếng gọi chung những vị tuổi tác hay giàu có, đức hạnh tại Ấn Độ trong thời cổ. Sách Pháp Hoa Huyền Tán nói: “Tâm b́nh đẳng, tánh ngay thẳng, lời nói chân thật, hạnh đoan chánh, tuổi tác cao, giàu có th́ gọi là Trưởng Giả”.

“Cư sĩ” ( ) là tiếng gọi chung hàng tại gia tu Phật, sách Pháp Hoa Huyền Tán, quyển mười giảng: “Giữ đạo, điềm tĩnh, ít ham muốn, đức dày th́ gọi là cư sĩ”.

Sách Hội Sớ lại bảo: “Ḍng họ cao quư, địa vị cao, giàu có lớn, tuổi tác cao th́ gọi là Trưởng Giả. Chất chứa nhiều của cải, quy ngưỡng Phật thừa một cách sâu xa, nhà cửa giàu có th́ gọi là Cư Sĩ”.

Chữ “hào tánh” ( ) chỉ danh môn, vọng tộc, ḍng họ lớn, nhà quư hiển (như nhà quư hiển trong làng được gọi là “hương hào”). “Tôn quư” chỉ ḍng họ quan lại lớn, vinh hiển.

“Sát-lợi” (Ksatriya) là tiếng Phạn, là chủng tánh thứ hai trong bốn loại chủng tánh ở Ấn Độ, nói đủ là Sát-đế-lợi. Theo Tây Vực Kư, Sát-đế-lợi nghĩa là ḍng dơi nhà vua như ngày nay ta nói vương gia, quư tộc. Theo Trí Độ Luận, quyển ba mươi hai : “Sát-lợi là vua và đại thần”. Hai thuyết này hơi mâu thuẫn nhau, có thể thời cổ đa phần đại thần là quư tộc chăng?

“Quốc vương” là chúa một nước. “Chuyển Luân thánh đế” c̣n gọi là Chuyển Luân Vương, Chuyển Vương, thân đủ ba mươi hai tướng, khi lên ngôi th́ liền cảm được luân bảo từ trời hiện xuống. Luân có bốn loại: vàng, bạc, đồng, sắt. Theo thứ tự trên đây, vua Chuyển luân sẽ thống trị bốn, ba, hai, một đại châu, như Kim Luân Vương thống lănh bốn châu. Số đại châu thống lănh bởi các vua khác giảm dần theo thứ tự trên đây. Sách Hội Sớ nói: “Chuyển Luân Vương là vua cả bốn châu; do luân xoay chuyển nên oai thế nhiếp phục khắp hết thảy”.

“Lục Dục thiên chúa” chính là vua tầng trời thứ sáu trong Dục giới. Sáu tầng trời là: Tứ Thiên Vương thiên, Đao Lợi, Dạ Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc và Tha Hóa Tự Tại.

“Phạm Vương” là danh xưng khác của Đại Phạm thiên vương. Chữ “Phạm thiên” chỉ chung chư thiên trong Sắc giới.

Đoạn kinh này ư nói: Bồ Tát do sức thiện căn cảm được quả đời đời sanh nhà tôn quư, đức cao trọng vọng, giàu có dư dật; thậm chí là vua nhân gian, hoặc làm thiên đế, thượng hoằng, hạ hóa, thỏa măn sở nguyện. Lại do sức thiện căn, do sức đại nguyện nên sẽ được gặp Phật: Ư chư Phật sở, tôn trọng cúng dường, vị tằng gián đoạn” (Ở chỗ chư Phật tôn trọng, cúng dường, chưa từng gián đoạn). Công đức Ngài đă làm thật vô lượng vô biên “thuyết bất năng tận” (chẳng thể thuật hết nổi).

Chánh kinh:

身 口 常 出 無 量 妙 香,猶 如 栴 檀、優 鉢 羅 華,其 香 普 熏 無 量 世 界。隨 所 生 處,色 相 端 嚴,三 十 二 相、八 十 種 好,悉 皆 具 足。手 中 常 出 無 盡 之 寶 , 莊 嚴 之 具,一 切 所 須,最 上 之 物,利 樂 有 情。

Thân khẩu thường xuất vô lượng diệu hương, do như chiên-đàn, ưu-bát-la hoa; kỳ hương phổ huân vô lượng thế giới. Tùy sở sanh xứ, sắc tướng đoan nghiêm. Tam thập nhị tướng, bát thập chủng hảo, tất giai cụ túc. Thủ trung thường xuất vô tận chi bảo, trang nghiêm chi cụ, nhất thiết sở tu, tối thượng chi vật, lợi lạc hữu t́nh.

Thân, miệng thường tỏa vô lượng hương mầu nhiệm giống như Chiên-đàn, hoa Ưu-bát-la; hương ấy xông khắp vô lượng thế giới. Sanh ở chỗ nào sắc tướng cũng đoan nghiêm: Ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp phụ thảy đều đầy đủ. Trong tay thường hiện ra vô tận các báu, vật trang nghiêm, hết thảy vật cần dùng tối thượng để lợi lạc hữu t́nh.

 Giải:

Đại Sĩ tu chẳng thể nghĩ bàn đức hạnh của Phổ Hiền Đại Sĩ một cách rộng lớn nên cảm được quả thù thắng cũng chẳng thể nghĩ bàn.

Trước hết là thân khẩu thường xuất vô lượng diệu hương” (thân, miệng thường tỏa vô lượng diệu hương).

Chiên-đàn (Sandal) là tên một loài cây có mùi thơm ở Ấn Độ, ở đất Hán không có. Chiên-đàn dịch là Dữ Lạc (ban cho niềm vui). Theo sách Huệ Uyển Âm Nghĩa, cây này có hai loại đỏ và trắng: Bạch Đàn trị được chứng bịnh nóng, Xích Đàn trị được chứng phong thũng. V́ vậy, gọi là Dữ Lạc.

Ưu-bát-la (Utpala) dịch ra là hoa sen xanh hoặc hoa sen hồng. Loại hoa này hương thơm ngào ngạt, sách Huệ Uyển Âm Nghĩa bảo: “Ưu-bát-la là tên một loài hoa, lá nó hẹp mà dài. Hoa phía dưới hơi tṛn, càng lên cao càng nhỏ dần trông như mắt Phật, kinh hay dùng hoa này làm thí dụ”.

Thân và miệng của Đại Sĩ thường tỏa ra mùi hương vi diệu, đấy là do giới đức cảm thành. Kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Thường dĩ Giới hương vi thân anh lạc” (Thường dùng Giới hương làm chuỗi anh lạc nơi thân). Kinh Giới Hương lại bảo: “Thế gian sở hữu chư hoa hương, năi chí trầm, đàn, long, xạ, như thị đẳng hương, phi biến văn, duy văn giới hương biến nhất thiết” (Tất cả các hương hoa trong thế gian, dẫu cho trầm, chiên-đàn, long năo, xạ hương... các thứ hương như vậy chẳng thể tỏa mùi khắp nơi, chỉ ḿnh Giới hương nơi đâu cũng ngửi thấy). Kinh này chép: “Kỳ hương phổ huân vô lượng thế giới” (Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới) th́ rơ ràng phải là Giới hương.

“Đoan” (): Đoan chánh, bản Ngụy dịch chép: “Dung sắc đoan chánh”. “Nghiêm” () là trang nghiêm.

“Tam thập nhị tướng” (Ba mươi hai tướng): Nói về Ứng Thân cao một trượng sáu của Phật th́ có ba mươi hai tướng. Nếu nói về Báo Thân ắt có tám vạn bốn ngàn tướng.

“Bát thập chủng hảo” (Tám mươi vẻ đẹp phụ) là chỉ tám mươi thứ tùy h́nh hảo, cũng chỉ là nói theo Ứng Thân. Nếu bàn về Báo Thân ắt có sáu mươi bốn ức một ngàn sáu trăm vạn tùy h́nh hảo. Quán Kinh nói: “Vô Lượng Thọ Phật hữu bát vạn tứ thiên tướng, nhất nhất tướng các hữu bát vạn tứ thiên tùy h́nh hảo” (Vô Lượng Thọ Phật có tám vạn bốn ngàn tướng, mỗi một tướng đều có tám vạn bốn ngàn tùy h́nh hảo).

Sách Pháp Giới Thứ Đệ, quyển Hạ cũng chép: “Tướng và [tùy h́nh] hảo đều là sắc pháp, đều để trang nghiêm rạng rỡ thân Phật; nhưng tướng là tổng quát, tùy h́nh hảo là chuyên biệt. Nếu một tướng mà không có tùy h́nh hảo th́ chẳng viên măn. Chuyển Luân, Đế Thích, Phạm Vương cũng có ba mươi hai tướng nhưng không có tùy h́nh hảo nên thân họ chẳng vi diệu”.

Trí Độ Luận cũng bảo: “Tướng thô nhưng tùy h́nh hảo lại tế. Chúng sanh thấy Phật liền thấy ngay được tướng, nhưng khó thấy được tùy h́nh hảo. Hơn nữa, tướng th́ người khác cũng có, nhưng tùy h́nh hảo th́ không phải ai cũng có. Do vậy, phải nói riêng tướng và tùy h́nh hảo”.

Như vậy, “tướng” () là thô, là đặc điểm chung, rành rành dễ thấy; “hảo” () th́ nhỏ nhiệm, chẳng phải ai cũng có, vi diệu khó thấy. Pháp Tạng Bồ Tát khi tu nhân “tất giai cụ túc” (thảy đều đầy đủ) ba mươi hai tướng lẫn tám mươi tùy h́nh hảo, không điểm nào khuyết thiếu. Thủ trung thường xuất vô tận chi bảo, trang nghiêm chi cụ, nhất thiết sở tu tối thượng chi vật, lợi lạc hữu t́nh” (Trong tay thường hiện ra vô tận của báu, vật trang nghiêm, hết thảy vật cần dùng tối thượng, lợi lạc hữu t́nh): Trong tay hiện ra các báu là giống như hai vị Bồ Tát Bảo Thủ và Diệu Tư trong kinh Duy Ma. La Thập đại sư nói: Bảo Thủ là nơi tay thường hiện ra vô lượng trân bảo. Ngài lại bảo: “Do quả báo của bố thí nên trong tay thường tuôn ra vô tận bảo vật như năm con sông tuôn chảy. V́ vậy, gọi là Diệu Tư (cánh tay nhiệm mầu)”. Ngài Nghĩa Tịch cho rằng đây là hạnh của Thập Địa Bồ Tát, do Trí Độ (Bát Nhă Ba La Mật) cảm thành. Diệu trí dung thông nên tùy ư vô ngại. Ngài Tịnh Ảnh bảo: “Tay hiện ra các vật cúng để cúng dường chư Phật”. Ngài Nghĩa Tịch nói: “Thí các hữu t́nh, cúng dường Tam Bảo”.

Như vậy, trong tay xuất hiện vô tận của báu, vật trang nghiêm, vật cần dùng tối thượng chính là để dâng cúng chư Phật và thí cho chúng sanh như bản Đường dịch ghi: Chư bảo hương hoa, tràng phan, tắng cái, thượng diệu y phục, ẩm thực, thang dược, cập chư phục tạng, trân ngoạn sở tu, giai tùng Bồ Tát chưởng trung tự nhiên lưu xuất” (Các hương hoa báu, tràng phan, lọng lụa, y phục thượng diệu, thức ăn, thuốc men, và các kho tàng, vật quư báu, đồ cần dùng đều tự nhiên xuất hiện từ tay Bồ Tát) thí khắp chúng sanh nhằm “lợi lạc hữu t́nh”.

Trong một tay đă xuất hiện vô lượng vô biên các vật tối thượng như thế th́ chính là đă hiển thị huyền môn cụ đức viên minh, “một tức là nhiều, nhiều tức là một”.

Chánh kinh:

緣,能 生,皆 心。

Do thị nhân duyên, năng linh vô lượng chúng sanh, giai phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm.

Do nhân duyên ấy khiến cho vô lượng chúng sanh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Giải:

Câu “do thị nhân duyên” (do nhân duyên ấy) chỉ chung các nhân duyên thù thắng đă nói ở phần trên. Những nhân duyên ấy khiến cho chúng sanh được Ngài hóa độ đều phát khởi tâm Vô Thượng Bồ Đề. Đoạn này thật đă diễn tả sâu xa rằng Pháp Tạng Đại Sĩ dùng vô lượng tâm phát vô lượng nguyện, khởi vô lượng hạnh, điều nào cũng tương xứng với Chân Như pháp giới.

V́ vậy, chẳng uổng sức phát nguyện, chẳng phí uổng công sức mà “năng linh vô lượng chúng sanh” (có thể khiến cho vô lượng chúng sanh) cũng được tương ứng với pháp giới “giai phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm” (đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác). Tâm này chính là Chân Như bổn tâm.

 



[1] Sở thuyên lư thể: Sở thuyên là những nghĩa lư được diễn bày trong kinh văn. Theo Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm, pháp được giảng là sở thuyên. Văn cú, danh tự để diễn bày pháp ấy là năng thuyên. Sở duyên lư thể là Thật Tánh của pháp được diễn giảng.

[2] Tha Thọ Dụng Độ và Tự Thọ Dụng Độ là hai cơi Tịnh Độ nơi Báo Thân Phật ngự. Tự Thọ Dụng độ là cơi Phật thuần tịnh vô lậu do thức thứ tám thuần tịnh, vô lậu trong Phật quả biến hiện ra, ngoài chính Phật ra, không ai cảm nhận, thấy biết được cơi này cũng như thấy được Báo Thân Phật trong cơi này. Tha Thọ Dụng độ là cơi Phật được biến hiện ra với mục đích giáo hóa hàng Bồ Tát, chư thánh nhân. Tùy theo sở chứng của mỗi vị thánh nhân mà sẽ thấy sự trang nghiêm diệu hảo nơi cơi này cũng như các tướng hảo nơi Báo Thân Phật sai khác. Do tùy thuận cơ nghi khiến cho những người chưa chứng Phật quả thấy được nên gọi là Tha Thọ Dụng.