35. Trược thế ác khổ (濁 世 惡 苦)
Chánh kinh:
佛 告 彌 勒:汝 等 能 於 此 世,端 心 正 意,不 為 眾 惡,甚 為 大 德。所 以 者 何?十 方 世 界,善 多 惡 少,易 可 開 化。唯 此 五 惡 世 間,最 為 劇 苦。我 今 於 此 作 佛,教 化 羣 生,令 捨 五 惡,去 五 痛,離 五 燒,降 化 其 意,令 持 五 善,獲 其 福 德。何 等 為 五?
Phật
cáo Di Lặc: - Nhữ đẳng năng ư thử thế,
đoan tâm chánh ư, bất vi chúng ác, thậm vi đại
đức. Sở
dĩ giả hà? Thập phương thế giới, thiện
đa ác thiểu, dị khả khai hóa. Duy thử ngũ ác
thế gian, tối vi kịch khổ. Ngă kim ư thử tác
Phật, giáo hóa quần sanh, linh xả ngũ ác, khử
ngũ thống, ly ngũ thiêu, hàng hóa kỳ ư, linh tŕ ngũ
thiện, hoạch kỳ phước đức. Hà đẳng
vi ngũ?
Phật bảo
Di Lặc: - Các ông nếu như có thể trong đời
này đoan tâm chánh ư, chẳng làm các điều ác th́ thật
là đại đức. V́ sao vậy? Mười
phương thế giới thiện nhiều ác ít, dễ bề
khai hóa. Chỉ có thế gian ngũ ác này là khổ sở nhất.
Ta nay làm Phật trong cơi này, giáo hóa quần sanh khiến cho họ
bỏ năm sự ác, trừ năm sự đau, ĺa
năm sự đốt; hàng phục, cải hóa tâm ư của
họ, khiến cho họ vâng giữ năm điều
lành, đạt được phước đức. Những
ǵ là năm?
Giải:
Phẩm này giảng rơ sự ác khổ trong cơi đời
ô trược này. Ác là ngũ ác, Khổ là năm điều
đau đớn, năm điều thiêu đốt. Phật
khuyên dạy chúng sanh bỏ ác làm lành hầu ĺa khổ,
được vui. Tịnh Ảnh Sớ chép: “Năm giới để ngăn
ngừa năm sự ác là giết hại, trộm cắp,
tà dâm, nói dối, uống rượu. Tạo năm điều
ác ấy th́ hiện đời bị phép vua trị tội,
thân gặp ách nạn, nên bảo
là năm sự đau đớn. Do năm điều ác
đó, trong đời vị lai sẽ chịu quả báo
trong tam đồ nên gọi là năm sự đốt”.
Ngũ Ác là nhân của sự ác. Ngũ Thống là hoa báo,
Ngũ Thiêu là quả báo.
Gia Tường Sớ lại giảng năm điều
ác như sau: “V́ sao chỉ nói
đến năm điều này? Do người đời
thích gây tạo [năm điều ấy] nên mới riêng nêu
lên”.
“Đoan tâm chánh ư” là tâm chân chánh,
ư chân thành, khéo giữ ǵn ư niệm của ḿnh, xa ĺa ba độc
(tham, sân, si), chẳng mơ tưởng đến việc
tà ác. Ngài Nghĩa Tịch lại giảng: “Hướng đến Bồ Đề là đoan tâm, chẳng
cầu việc khác là chánh ư”. Hiểu như vậy là hiểu
ở mức độ càng sâu hơn nữa, bởi chỉ
có hướng đến Bồ Đề mới là “đoan tâm”, chẳng hề cầu
mong điều ǵ khác là “chánh ư”.
Nếu có thể đoan chánh thân tâm như vậy th́ tự
nhiên chẳng làm các điều ác nên bảo là “thậm vi đại đức”
(thật là đại đức). “Đại đức” là đức đến cùng tột.
Ngài Gia Tường giảng câu “thiện đa ác thiểu, dị khả
khai hóa” (thiện nhiều,
ác ít, dễ bề khai hóa) như sau: “Trong các cơi khác có nhiều duyên thù thắng, thiện
báo lại càng mạnh mẽ, thù thắng hơn nên dễ
làm lành. Cơi này chẳng có hai
duyên ấy. ‘Khai hóa’ là Phật khai ngộ, giáo hóa vậy”.
Tiếp đó, ư nghĩa của cả đoạn từ
câu “duy thử ngũ ác thế gian”
(chỉ có cái thế gian ngũ ác
này) đến “ly ngũ thiêu” (ĺa
năm sự đốt) đă
quá rơ.
Gia Tường Sớ giảng câu “hàng hóa kỳ ư, linh tŕ ngũ thiện” như sau: “Hàng phục, cải hóa tâm ư của
họ nhằm làm cho tâm họ nhập đạo, vâng giữ
năm điều lành, thuận theo lời dạy tu hành”.
Ngài Tịnh Ảnh và ngài Gia Tường đều cho
rằng “ngũ thiện”
chính là Ngũ Giới. “Phước
đức” là phước lợi đạt được
bởi thiện hạnh. Gia Tường Sớ ghi: “Hoạch kỳ phước
đức (Đạt
được phước đức) là nêu lên cả hai
quả gần và xa để thành cái hạnh”.
“Quả gần” là như Tịnh
Ảnh Sớ bảo: “Do tŕ
Ngũ Giới nên trong đời hiện tại thân yên ổn
không khổ”.
“Quả xa” là được
sanh về Cực Lạc, quyết định chứng Niết
Bàn như Tịnh Ảnh Sớ bảo: “Đời sau gặp Di Đà, rốt cuộc chứng Niết
Bàn”. Đời này an lạc, thân sau văng sanh nên bảo là “hoạch kỳ phước
đức”.
Chánh kinh:
其 一 者,世 間 諸 眾 生 類,欲 為 眾 惡。強 者 伏 弱,轉 相 尅 賊,殘 害 殺 傷,迭 相 吞 噉,不 知 為 善, 後 受 殃 罰。故 有 窮 乞、孤 獨、聾 盲、瘖 瘂、痴 惡、尫 狂,皆 因 前 世 不 信 道 德,不 肯 為 善。其 有 尊 貴、豪 富、賢 明、長 者、智 勇、才 達,皆 由 宿 世 慈 孝,修 善 積 德 所 致。世 間 有 此 目 前 現 事,壽 終 之 後,入 其 幽 冥。轉 生 受 身,改 形 易 道。故 有 泥 犁、禽 獸、蜎 飛 蠕 動 之 屬。譬 如 世 法 牢 獄,劇 苦 極 刑,魂 神 命 精,隨 罪 趣 向。所 受 壽 命,或 長 或 短,相 從 共 生,更 相 報 償。殃 惡 未 盡,終 不 得 離。輾 轉 其 中,累 劫 難 出。難 得 解 脫,痛 不 可 言。天 地 之 間,自 然 有 是。雖 不 即 時 暴 應 善 惡 會 當 歸 之。
Kỳ nhất
giả, thế gian chư chúng sanh loại, dục vi chúng
ác, cường giả phục nhược, chuyển
tương khắc tặc, tàn hại sát thương,
điệt tương thôn đạm, bất tri vi thiện,
hậu thọ ương phạt. Cố hữu cùng khất, cô độc,
lung manh, ám á, si ác, uông cuồng, giai nhân tiền thế bất
tín đạo đức, bất khẳng vi thiện. Kỳ
hữu tôn quư, hào phú, hiền minh, trưởng giả, trí
dũng, tài đạt, giai do túc thế từ hiếu, tu
thiện tích đức sở trí. Thế gian hữu thử
mục tiền hiện sự, thọ chung chi hậu, nhập
kỳ u minh, chuyển sanh thọ thân, cải h́nh dịch
đạo. Cố hữu Nê Lê, cầm thú, quyên phi nhuyễn
động chi thuộc. Thí như thế pháp lao ngục, kịch
khổ cực h́nh, hồn thần mạng tinh, tùy tội
thú hướng, sở thọ thọ mạng, hoặc
trường, hoặc đoản, tương tùng cộng
sanh, cánh tương báo thường. Ương ác vị tận,
chung bất đắc ly, triển chuyển kỳ trung,
lũy kiếp nan xuất, nan đắc giải thoát, thống
bất khả ngôn. Thiên địa chi gian, tự nhiên hữu
thị. Tuy bất tức thời bạo ứng, thiện
ác hội đương quy chi.
Thứ nhất
là các loài chúng sanh trong thế gian muốn làm các điều
ác: Kẻ mạnh hiếp yếu, chế ngự, giết
chóc lẫn nhau, tàn hại, sát thương, ăn nuốt lẫn
nhau, chẳng biết làm lành, sau chịu ương phạt.
Bởi thế có kẻ nghèo cùng, ăn mày, cô độc,
điếc, mù, câm, ngọng, si ác, dặt dẹo, cuồng
dại; đều là do đời trước chẳng tin
đạo đức, chẳng chịu làm lành. Những kẻ
tôn quư, giàu sang, hiền minh, trưởng giả, trí huệ
mạnh mẽ, tài năng thông đạt đều là do
đời trước từ hiếu, tu thiện, tích
đức cảm thành. Thế gian có những chuyện sờ
sờ trước mắt như thế. Sau khi hết tuổi
thọ, vào chốn u minh, chuyển sanh thọ thân, thay h́nh
đổi nẻo nên mới có Nê Lê, cầm thú, các loài ngọ
nguậy, bay bổng, ḅ, trườn. Ví như chốn tù ngục
theo pháp luật thế gian, cực h́nh thật khổ. Hồn
thần, mạng tinh theo tội mà hướng về, chịu
lấy thọ mạng hoặc dài hay ngắn, theo nhau cùng
sanh để báo đền lẫn nhau. Ương họa,
sự ác chưa hết, trọn chẳng thể thoát nổi.
Xoay vần trong ấy bao kiếp khó ra, khó được
giải thoát, đau đớn không thể nói nổi! Trong
ṿng trời đất, tự nhiên có như thế, tuy chẳng
báo ứng rầm rộ ngay lập tức, mà thiện ác rồi
sẽ quy kết cả.
Giải:
Trong những điều ác, trước hết, Phật
dạy về cái ác sát sanh. Thái Hiền nói: “Điều thế gian sợ hăi nhất là chết,
điều tổn hại người khác nhất là đoạt
mạng”. Cái người ta sợ nhất là chết, cái
người ta quư nhất là mạng. Bởi đó, sát hại
mạng kẻ khác là điều ác lớn nhất. Chẳng
phải chỉ ḿnh Phật giáo mà các tôn giáo khác cũng cấm
giết người.
Đầu tiên, kinh văn nói đến sự ác giết
chóc. Kinh chép: “Cường
giả phục nhược, chuyển tương khắc
tặc, tàn hại sát thương, điệt tương
thôn đạm” (Kẻ mạnh
hiếp yếu, chế ngự, giết chóc lẫn nhau, tàn
hại, sát thương, ăn nuốt lẫn nhau). “Phục”
(伏) là hàng phục. Chữ “khắc” (尅) giống với
chữ Khắc(剋) nghĩa là khắc chế, giết
chóc (theo Trung Hoa Đại Từ Điển). Sách Hội Sớ
giảng: “Cường giả
phục nhược: Kẻ giết chóc là ‘cường giả’,
kẻ bị giết là ‘nhược’. Người hay thú
cũng thế. ‘Chuyển tương khắc tặc’: Khắc
là chế ngự, đánh thắng, sát hại, Tặc là tàn
hại, như chim sẻ nuốt bọ ngựa, người
lại giết chim nên bảo là Chuyển Tương”. Ngài Cảnh Hưng lại bảo:
“Khắc là giết, Tặc
là hại”.
“Tàn hại” là hung tàn, làm
thương tổn. “Sát
thương” là giết cho chết hay làm cho thân kẻ
khác bị thương tích. Rắn nuốt cóc, cóc lại
ăn giun đất, nên bảo là “điệt tương thôn đạm” (ăn nuốt
lẫn nhau). Những câu trên đây đều nói đến
điều ác sát sanh.
Cả đoạn kinh từ “bất tri
vi thiện” (chẳng biết
làm lành) cho đến “bất
khẳng vi thiện” (chẳng chịu làm lành) đều
nói lên lỗi hại của việc tạo ác. Đă làm đủ
mọi điều ác lại c̣n sát hại sanh mạng nên phải
chịu quả báo “cùng, khất...
uông cuồng” (nghèo nàn, ăn xin… dặt dẹo, cuồng
dại). “Cùng” (窮) là nghèo túng, “khất” (乞) là kẻ ăn mày xin cơm sống
qua ngày. Sách Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa giảng chữ “cô độc” như sau: “Không cha là Cô (孤), không con là Độc (獨)”. Ngài Cảnh Hưng nói: “Cô
là không cha mẹ, Độc là không con cái”.
“Lung” (聾) là tai không nghe
được tiếng; “manh”
(盲) là mắt chẳng thấy được. “Ám” (瘖) là miệng chẳng
phát ra tiếng được (câm), “á” (瘂) là tuy phát ra tiếng,
nhưng lưỡi chẳng động nên chẳng thể
nói ra tiếng được. “Si”
(癡) là ngu si, si ngốc. “Ác” (惡) là hung ác chẳng lành. “Uông” (尫) là yếu đuối, tật
nguyền, quắt queo. “Cuồng”
(狂) là điên khùng. Đấy đều là những
“ương phạt” do “bất tín đạo đức,
bất khẳng vi thiện” (chẳng tin đạo
đức, chẳng chịu làm lành). “Ương” (殃) là tai họa, “phạt” (罰) là tội lệ.
Tiếp đó, kinh nói những điều như giàu
sang, trí huệ nhạy bén... để biểu thị những
điều đạt được do làm lành nhằm càng
làm rơ thêm những tổn thất do ác nghiệp gây ra.
“Tôn quư, hào phú” là người
phú quư trong thế gian. “Hiền
minh, trí dũng, tài đạt” là bậc hiền trí trong
loài người. Chữ “trưởng
giả” là tiếng gọi chung để chỉ bậc
đủ cả hai thứ tài sản và đức hạnh.
“Trưởng giả”
cũng là tiếng để gọi bậc cao tuổi giàu
có. Người hiền trí, phú quư trong đời đều
do trong đời quá khứ từng từ ái, tận hiếu
“tu thiện, tích đức”
nên đạt được như thế.
Trên đây, kinh đă nói đến nhân quả chẳng
hư dối, là những điều thế gian có thể
thấy được.
Những thứ ương phạt như “cùng, khất” (nghèo cùng, ăn
mày) cho đến “uông, cuồng”
(quặt quẹo, cuồng dại) là những loại dễ
thấy trong đời, nhưng mấy ai biết rằng “thọ chung chi hậu” (sau khi
hết tuổi thọ), nỗi khổ sở c̣n nặng nề
hơn nữa. Từ câu “nhập
kỳ u minh” (vào chốn
u minh) trở đi, kinh nói thẳng vào những tội khổ.
“U minh” c̣n thường
gọi là “minh đồ” (冥 途: con đường tăm tối),
“minh giới” (冥 界: cơi tối
tăm) là danh từ chỉ chung cả ba đường
ác, cũng là chữ để chỉ riêng quỷ giới
và địa ngục; chẳng hạn như sách Hội Sớ
ghi: “U minh tức là minh đồ,
suối vàng”.
Câu “chuyển sanh thọ
thân, cải h́nh dịch đạo” (thọ thân trong cuộc sống khác, đổi h́nh,
thay nẻo) được sách Hội Sớ giảng:
“Thoát thân người, chịu
thân quỷ, súc sanh v.v… nên bảo là ‘chuyển sanh thọ
thân’. Chuyển biến trong
tứ sanh nên bảo là ‘cải h́nh’. Sống chết trong
sáu đường nên bảo là dịch đạo”.
“Tứ sanh” là noăn, thai, thấp,
hóa, chẳng hạn như: Bỏ thân chim sẻ để
mang thân chó nên gọi là “cải
h́nh”. Lại như bỏ thân người khoác thân chó, tức
là từ nhân đạo chuyển sanh vào súc sanh đạo
nên gọi là “dịch đạo”
(thay đường).
Chúng sanh xoay vần trong sáu đường. “Nê Lê” chính là địa ngục. “Quyên phi” những
loài trùng biết bay, “nhuyễn động” loại
trùng biết ḅ.
Ngài Gia Tường giảng câu: “Thí như thế pháp lao ngục, kịch khổ cực
h́nh” (Ví như chốn lao ngục theo pháp luật thế
gian cực h́nh rất khổ) như sau: “Ví như phép vua là dẫn thí dụ để so sánh,
trước là báo nhẹ, sau là khổ nặng, giống
như pháp vua trị tội: Trước
hết là gông xiềng, sau hạ chỉ đem ra chợ giết
đi. Trước là hiện báo, sau vào địa ngục
nên bảo là cực h́nh”. Ư Ngài nói: Làm ác chịu báo,
trước là thọ quả báo nhẹ trong hiện đời;
thân sau lại chịu trọng báo giống như phép vua trừng
trị tội phạm: Trước hết nhốt vào ngục,
thân bị gông xiềng, chịu đựng các khổ lớn.
Những điều ấy ví như chịu các khổ báo
nơi thân hiện tại. Tối hậu mới dùng đến
cực h́nh, giết mất sanh mạng. Chữ “cực h́nh” để ví cơi
địa ngục. Nỗi khổ trong địa ngục
như lửa nung đốt thân. Lại sau khi chết
đi, đọa vào tam đồ bèn có Nê Lê, cầm thú, côn
trùng… Địa ngục khổ nhất nên gọi là “cực h́nh”.
Chữ “hồn thần, mạng
tinh” trích theo bản Hán dịch, bản Ngụy dịch
ghi là “hồn thần tinh thức”
(魂 神 精 識). Sách Vô Lượng
Thọ Kinh Sao giảng: “Có thuyết
nói thức thứ sáu gọi là hồn thần, thức thứ
tám gọi là tinh thức”. Như vậy, ở đây chữ
“mạng tinh” (命 精) chỉ thức
thứ tám, tức là A Lại Da thức. Do nó làm vị chủ
nhân đi sau đến trước (khứ hậu, lai tiên,
tác chủ nhân) nên gọi là “mạng
tinh”. Thức thứ tám này dường như luôn tiếp
nối. Lúc xả mạng, hễ chỗ nào nghiệp nặng
hơn th́ nó bị lôi vào đó nên bảo là “tùy tội thú hướng” (theo tội hướng
về) tức là theo tội báo vào trong ác thú.
Nếu hăm vào ngục Vô Gián th́ muôn kiếp khó ra nên bảo
là “[chịu lấy thọ mạng]
hoặc dài”; hoặc sanh làm loài vi khuẩn chết sống
trong mỗi sát-na nên gọi là “hoặc
ngắn”. Sách Hội Sớ nói: “Như [sanh trong] tám đại địa ngục và
loài quỷ trường thọ th́ gọi là ‘hoặc
trường’. Như các loài thiêu thân, phù du v.v… th́ là ‘hoặc
đoản’”. Trong đó, vô lượng thọ mạng
sai khác đều do túc nghiệp cảm vời. Trong
đường lành, coi sống lâu là phước, nơi nẻo
ác coi sống lâu là họa lớn.
“Tương tùng cộng
sanh, cánh tương báo thường” (Theo nhau cùng sanh
để báo đền lẫn nhau) nghĩa là: Oan oan
tương báo chẳng có cùng tận. Sách Hội Sớ nói:
“Những kẻ sát sanh đời
đời cùng sanh ra cùng lúc với nhau, người này giết
hại người kia để báo đền nỗi oán hận”.
Chẳng hạn như: Kẻ bị giết v́ muốn
đ̣i nợ mạng nên ắt theo đuổi kẻ oán đối,
phải đồng thời xuất hiện trong thế
gian th́ mới mong báo oán nổi. Bởi thế, oan gia trái chủ
“tương tùng cộng sanh”.
Đời này người giết dê, tương lai người
chết thành dê, dê chết thành người. Lại như
mèo chết thành chuột, chuột chết thành mèo, đời
đời cùng sanh với nhau, đoạt mạng để
đền nợ nên kinh nói: “Cánh
tương báo thường” (Báo đền lẫn nhau).
Lại do kẻ đ̣i nợ qua thật nhiều đời
báo oán, lại kết thành kẻ oán, người thân nên chẳng
biết lúc nào xong. “Ương
ác vị tận, chung bất đắc ly” (Ương họa,
điều ác chưa hết sẽ trọn chẳng thể
thoát được):
“Ương” (殃) là họa, là tội, là h́nh phạt. Những
ương ác đă tạo chưa đền trả hết
ắt sẽ xoay vần măi trong đường ác chẳng
có lúc ra, đau đớn không thể nói nổi.
Ngài Nghĩa Tịch giảng câu “tự nhiên hữu thị” (tự nhiên có những
điều ấy) như sau: “Làm
ác, dẫu chẳng muốn chịu quả khổ, quả
khổ vẫn tự đến. Tu thiện, dẫu chẳng
mong cầu quả vui, quả vui vẫn tự đến,
khác nào như bóng theo h́nh, như tiếng vọng theo âm thanh. Nhưng kinh đây bảo
là ‘tự nhiên’ nhằm ư nói nhân quả là pháp quyết định như thế
đó”.
Sách Hội Sớ cũng nói: “Nhân
quả ắt ứng nghiệm nên bảo là tự nhiên”.
“Bạo” (暴) là mạnh gấp,
đột nhiên, chữ “ứng”
(應) là báo ứng. Người lành làm lành, kẻ
ác làm ác, ắt chịu quả báo, nhưng quả báo hoặc
là chẳng ứng hiện ngay lập tức trong hiện tại
nhưng nhân quả chẳng dối, ắt trong đời
sau sẽ phải chịu khổ báo nên kinh dạy: “Thiện ác hội
đương quy chi” (Thiện ác rồi sẽ quy kết
cả).
Chánh kinh:
其 二 者,世 間 人 民 不 順 法 度。奢 婬 驕 縱,任 心 自 恣。居 上 不 明,在 位 不 正。陷 人 冤 枉,損 害 忠 良。心 口 各 異,機 偽 多 端。尊 卑 中 外,更 相 欺 誑。瞋 恚 愚 痴,欲 自 厚 己, 欲 貪 多 有。利 害 勝 負,結 忿 成 讐。破 家 亡 身,不 顧 前 後。富 有 慳 惜,不 肯 施 與。愛 保 貪 重,心 勞 身 苦。如 是 至 竟,無 一 隨 者。善 惡 禍 福,追 命 所 生。或 在 樂 處,或 入 苦 毒。又 或 見 善 憎 謗,不 思 慕 及。常 懷 盜 心,悕 望 他 利。用 自 供 給,消 散 復 取。神 明 尅 識,終 入 惡 道。自 有 三 途 無 量 苦 惱,輾 轉 其 中,累 劫 難 出,痛 不 可 言。
Kỳ nhị giả, thế
gian nhân dân bất thuận pháp độ, xa dâm kiêu túng, nhậm
tâm tự tứ. Cư thượng bất minh, tại vị
bất chánh, hăm nhân oan uổng, tổn hại trung
lương. Tâm khẩu các dị, cơ ngụy đa
đoan, tôn ty trung ngoại, cánh tương khi cuống. Sân
khuể ngu si, dục tự hậu kỷ, dục tham
đa hữu. Lợi hại thắng phụ, kết phẫn
thành thù. Phá gia vong thân, bất cố tiền hậu. Phú hữu
xan tích, bất khẳng thí dữ. Ái bảo tham trọng,
tâm lao thân khổ. Như thị chí cánh, vô nhất tùy giả.
Thiện ác họa phước, truy mạng sở sanh. Hoặc
tại lạc xứ, hoặc nhập khổ độc. Hựu
hoặc kiến thiện tăng báng, bất tư mộ cập.
Thường hoài đạo tâm, hy vọng tha lợi. Dụng
tự cung cấp, tiêu tán phục thủ. Thần minh khắc
thức, chung nhập ác đạo. Tự hữu tam đồ
vô lượng khổ năo, triển chuyển kỳ trung,
lũy kiếp nan xuất, thống bất khả ngôn.
Thứ hai là
nhân dân trong thế gian chẳng thuận pháp độ, xa xỉ,
dâm dật, kiêu căng, phóng túng, mặc t́nh thỏa ư. Kẻ
trên bất minh, kẻ có địa vị bất chánh, hăm
người oan uổng, tổn hại trung lương.
Ḷng và miệng khác nhau, mưu mẹo, trá ngụy đa
đoan; lừa dối hết cả tôn, ty, trong ngoài. Nóng giận,
ngu si, ham hậu đăi ḿnh, tham muốn có nhiều. Lợi
- hại, thắng - bại, kết phẫn thành thù, tan nhà mất
mạng, chẳng quản trước sau. Giàu có th́ keo tiếc, chẳng chịu
cho ra, càng thích giữ rịt, càng tham nặng hơn. Tâm nhọc
thân khổ cho đến khi chết đi, không đem theo
được ǵ! Thiện, ác, họa, phước theo mạng
mà sanh: hoặc ở chỗ vui, hoặc vào nơi khổ
độc. Lại hoặc là thấy người lành th́
ghét gièm, chẳng khởi ḷng hâm mộ, mong mỏi
được bằng. Thường ôm ḷng trộm cắp,
mong mỏi hưởng cái lợi của người khác
để cung cấp cho ḿnh. [Của cải ấy rồi
lại] tiêu tán, lại bị [kẻ khác] lấy mất. Thần
minh ghi biết. Rốt cuộc vào trong ác đạo, tự
có tam đồ vô lượng khổ năo, xoay vần trong
đó bao kiếp khó ra, đau đớn chẳng thể
nói nổi.
Giải:
Điều thứ hai là tội ác trộm cắp. Đối với
vật có chủ, dù ít hay nhiều, nếu chẳng cho mà lấy
th́ đều là trộm cắp. Hạnh trộm cắp vốn
bắt nguồn từ tam độc. Tham dục, keo kiết
th́ dễ sanh tâm trộm cắp. Các ác hỗ trợ nhau
thành ra tội trộm cắp.
Từ chữ “bất thuận
pháp độ” đến “bất cố tiền hậu” (chẳng quản trước sau), kinh nói đến tội
lỗi trộm cắp.
Trong câu “bất thuận
pháp độ” (chẳng tuân
theo pháp độ), “pháp” (法) là khuôn phép, pháp tắc, “độ” (度) là quy củ, những
quy định thông thường. “Xa” (奢) là xa xỉ, “dâm” (淫) là
như sách Đẳng Bất Đẳng Quán Tạp Lục giảng:
“Trong kinh, đa phần là chữ
Dâm có liên quan đến người nữ. Chữ Dâm chuyên
chỉ việc trai gái”. Hành dâm không chừng mực nên bảo
là “xa dâm”. “Kiêu” (驕) là kiêu căng, hợm hĩnh,
khinh người; “túng” (縱) là phóng túng. “Tự
tứ”: “Tứ” (恣) là buông lung.
Câu “cư
thượng bất minh, tại vị bất chánh” (kẻ trên bất minh, người có địa
vị bất chánh), ư nói: Kẻ có địa vị lợi
dụng quyền thế lươn lẹo, chiếm đoạt,
vơ vét, tổn người lợi ḿnh, hại nước,
hại dân… tạo đủ các thứ ác nghiệp. Gia
Tường Sớ nói: “Quan Tể
Tướng dung túng thuộc hạ bắt muôn dân đút
lót, đoạt ngang của người”. Đấy là “cư thượng bất minh”.
Ăn hối lộ đă thuộc về hạnh trộm
cắp, huống hồ là c̣n “hăm nhân oan
uổng, tổn hại trung lương” (hăm hại người khác một cách oan uổng,
tổn hại trung lương).
“Hăm” (陷) là vu hăm, hăm hại. “Oan” (冤) là oan khuất.
“Uổng” (枉) là tà vạy. “Trung” (忠) là làm việc
thận trọng, hạnh ngay thẳng, v́ việc công quên việc
tư. “Lương” (良) là hiền
lành. Kẻ ác như thế ganh ghét người hiền, hăm
hại người trung lương. Kẻ đó ắt lời
nói xảo ngụy chẳng trung, a dua cầu lợi, phỉ
báng người lương thiện, vu tội cho người,
tâm khẩu bất nhất, nên kinh bảo: “Tâm khẩu các dị, cơ ngụy đa đoan” (Ḷng,
miệng khác nhau, mưu mẹo, xảo ngụy đa
đoan). Ngài Nghĩa Tịch bảo: “Cơ (機) là huyễn hoặc, ngụy (僞) là dối trá”. Ngài Cảnh
Hưng nói: “Cơ là mưu mô, tức
là khéo nói cho đẹp ḷng nhằm lung lạc ư vua để
làm chuyện mưu mô gian dối”. “Cơ” c̣n có nghĩa
là tâm mưu mô, “ngụy” là
gian dối. Lọc lừa, dối trá có nhiều thứ
như thế nên bảo là “cơ
ngụy đa đoan”.
Kẻ ác như thế đâu cần biết đến
tôn ty, thượng, hạ, nội, ngoại, thân, sơ;
đối với ai nó cũng đều dối trá, lừa
lọc cả nên mới bảo: “Tôn
ty trung ngoại, cánh tương khi cuống” (Lừa dối
hết cả tôn, ty, trong, ngoài).
“Sân khuể ngu si, dục tự hậu
kỷ” (Nóng giận, ngu si, ham hậu đăi chính ḿnh): Hai độc
Sân và Si khiến cho tâm tham càng thêm tăng trưởng. Sách
Hội Sớ viết: “Ba ác hỗ
trợ nhau khiến tà dục lừng lẫy, ham hố tài
vật của người khác chỉ muốn tom góp về
cho ḿnh nên bảo là ‘dục tự hậu kỷ’”.
“Dục” (欲) là tham dục, tham ác. Kinh Duy Ma dạy: “Thân thục vi bổn, dục tham vi bổn” (Ǵ là gốc của cái thân? Dục
tham là gốc). Sách Hội Sớ lại nói: “Biển dục sâu rộng chẳng
biết chán đủ. Dẫu tôn quư hay thấp hèn, dầu
nghèo hay giàu, không ai lại chẳng mong tom góp, chộn rộn,
bôn ba, nên gọi là tham dục”.
Muốn chiếm hữu nhiều nên bảo là “dục tham đa hữu” (tham
muốn có cho nhiều). Do
tranh nhau lợi hại, tổn người ích ḿnh nên bảo
là “lợi hại, thắng phụ”
(lợi hại, thắng
bại).
Bởi thế “kết phẫn
thành thù”. “Thù” (讐) là căm hận, thậm chí nhà
tan, mạng mất, chẳng nề hà ǵ hết nên kinh bảo:
“Phá gia vong thân, bất cố tiền
hậu” (Tan nhà, mất mạng, chẳng quản trước
sau).
“Tiền hậu” chính là nhân
trước, quả sau. Sách Hội Sớ lại giảng:
“Trước chẳng nề hà
là đúng hay sai; sau chẳng quan tâm lời chê trách. Cũng
nghĩa là trước đă chẳng hề xem xét tường
tận, suy nghĩ cẩn thận; sau cũng chẳng ngại quỷ thần ngầm
ghi chép. Hoặc cũng có thể hiểu là trước chẳng
quan tâm đến tội nghiệp, sau chẳng tính đến
quả báo trong tương
lai”. Chỉ mong tranh thắng, chẳng sợ “lưỡng bại câu
thương” (cả hai cùng thua thiệt, tổn
thương). Chỉ cốt khoái ư, chẳng sợ tội
báo đời tương lai. Chẳng quản ngại hết
thảy, cứ tạo đủ các chuyện ác.
Từ câu “phú hữu xan tích”
(tuy giàu có nhưng keo tiếc) trở đi, kinh nói đến
cái tội keo kiệt. Dẫu là kẻ giàu có nhưng keo kiệt
đă thành tánh nên “bất khẳng
thí dữ” (chẳng chịu cho ra). “Thí dữ” (施 與) là bố thí.
Chẳng chịu đem tài vật thí cho người khác
chính là do ái dục kiên cố nên bảo là “ái bảo tham trọng” (yêu quư, giữ rịt). Tâm
tham sâu nặng nên bảo là “tham
trọng” (tham lam nặng nề).
“Tâm lao, thân khổ, như thị
chí cánh” (Tâm nhọc thân khổ cho đến khi chết) là trọn
đời khổ sở, nhọc nhằn; cho đến
khi chết đi rồi cũng chỉ là một ḿnh ḿnh
đến, một ḿnh ḿnh đi “vô
nhất tùy giả” (chẳng mang theo được ǵ).
Gia Tường Sớ giảng: “Vô
nhất tùy giả là chỉ ḿnh thần thức ra đi, của
cải bỏ lại cơi trần”, nghĩa là: Mọi thứ
đều chẳng theo đi, chỉ có mỗi cái nghiệp
tùy thân.
Những nghiệp thiện ác đă tạo lúc sống
và cái quả phước hay họa do nghiệp cảm thành
chẳng hề ĺa bỏ ḿnh nên bảo là “truy mạng sở sanh” (theo mạng mà sanh). Ngài
Nghĩa Tịch bảo: “Nghĩa
là cái nhân thiện ác và cái quả họa phước đều
đi theo mạng căn đến chỗ ḿnh sẽ
được sanh về”. “Truy” (追) là
đi theo, theo đuổi. Bởi thế nên đời sau “hoặc tại lạc xứ, hoặc
nhập khổ độc” (hoặc ở chỗ vui, hoặc
vào nơi khổ độc).
“Lạc xứ” là ba đường lành; “khổ độc” là ba ác đạo. “Khổ” (苦) là đau khổ,
“độc” (毒) là độc
họa. Đau khổ cùng cực nên bảo là “khổ độc”.
Tiếp đó, Phật nói đến cái tội trộm
cắp. “Kiến thiện tăng báng, bất
tư mộ cập” (Thấy người
lành th́ ghét gièm, chẳng khởi ḷng hâm mộ, mong được
bằng). “Tăng” (憎) là ghét bỏ, “báng” (謗) là phỉ báng. Thấy điều
lành của người chẳng những tâm không kính mộ;
trái lại c̣n sanh tâm ghét bỏ, đơm đặt, phỉ
báng. Hạng người như vậy chẳng có thiện
niệm lẫn thiện hạnh, trong bụng toàn ôm ấp
ư nghĩ xâm đoạt.
Chữ “悕望”
chính là hy vọng; chỉ nghĩ cách tổn người lợi
ḿnh nên kinh nói: “Hy vọng
tha lợi dụng tự cung cấp” (Mong mỏi hưởng cái lợi của
người khác để cung cấp cho ḿnh).
Của bất nghĩa dễ dàng đạt được
nên cứ mặc t́nh tiêu xài hoang đàng cho nên nhanh chóng “tiêu tán”, lại bị kẻ
khác cướp đoạt mất nên bảo là “tiêu tán, phục thủ” (tiêu tán, lại bị lấy mất).
Bởi vậy, “thần minh khắc
thức, chung nhập ác đạo” (thần minh ghi biết,
rốt cuộc vào trong ác đạo).
“Thần minh” là như bản
kinh Hoa Nghiêm dịch vào đời Tấn đă nói: “Như nhân tùng sanh, hữu nhị
chủng thiên, thường tùy thị vệ, nhất viết
Đồng Sanh, nhị viết Đồng Danh. Thiên thường
kiến nhân, nhân bất kiến thiên” (Người ta sanh ra, có hai vị trời thường
theo sát hai bên. Một vị tên là Đồng Sanh, vị kia tên
là Đồng Danh. Hai vị trời ấy thường thấy
người đó nhưng người đó chẳng thấy
được trời). Hai vị thần như thế
sanh chung với người nên gọi là “Câu Sanh Thần”. Kinh Dược Sư dạy: “Hữu Câu Sanh Thần, cụ
thư tội phước, dữ Diêm La Vương” (Có thần Câu Sanh chép đủ tội
phước trao cho vua Diêm La).
Sách Gia Tường Sớ cũng viết: “Hết thảy chúng sanh đều
có thần: Một tên là Đồng Sanh, hai tên là Đồng Danh. Đồng
Sanh Nữ ở bên vai phải
chép điều ác đă tạo. Đồng Danh
Kinh Ngũ Giới cũng dạy: “Tam phú, bát giáo, nhất nguyệt lục tấu” (Ba lần bẩm, tám lần
tŕnh, một tháng sáu lần tâu lên).
“Tam phú” là tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín. “Bát giáo” là tám
ngày: Lập Xuân, Lập Hạ, Lập Thu, Lập Đông, Xuân
Phân, Thu Phân, Hạ Chí, Đông Chí. “Lục tấu” là sáu ngày
ăn chay: mồng Tám, Mười Bốn, Rằm, Hai
Mươi Ba, Hai Mươi Chín, Ba Mươi. Nghĩa là:
Trong một năm, có ba tháng tŕnh bẩm báo lên trên, có tám ngày
báo cáo lên trên (“giáo” (校) là bẩm cáo). Trong một tháng
có sáu ngày tâu rơ. Căn cứ vào kinh Ngũ Giới, ngài Vọng
Tây bảo: “Trong những ngày
như thế, thiên thần ghi chép điều thiện ác của
chúng sanh”, ư nói: Những điều được thần
minh bẩm báo đều là những điều thiện
ác.
“Khắc thức”: “Khắc” (尅) là ghi khắc,
chữ “thức” (識) có nhiều
cách giải thích:
1. Một là theo như các sách Gia Tường Sớ, Tịnh
Ảnh Sớ… th́ “thức”
là ghi chép. Sách Hội Sớ nói: “Trong
chốn u huyền có thiên thần ghi chép từng điều,
không sai một mảy nên bảo là ‘khắc thức’. Chữ
Thức đọc cùng âm với chữ Chí (theo âm Quan Thoại), có nghĩa là ghi chép”. Thuyết
này giống với thuyết của ngài Gia Tường: Có
thần minh ghi chép điều thiện ác của mỗi
người nên báo ứng chẳng trật.
2. Chữ Thức ở đây chính là thức thứ
tám. Chẳng hạn như ngài Cảnh Hưng bảo: “Do công năng chẳng quên của
chủng tử thức nên gọi là khắc thức”.
Ngài Nghĩa Tịch và ngài Vọng Tây cùng chấp nhận
cả hai cách giải thích này. Ngài Nghĩa Tịch nói: “Điều thiện ác đă làm chẳng
những huân tập trong cái thức của ḿnh mà c̣n
được thiên thần ở ngoài ghi chép. Ghi ở cả
hai nơi th́ sai chạy nổi hay sao?”. “Hai nơi” là nội thức và thần minh bên
ngoài.
Trong các thuyết trên, thuyết của ngài Nghĩa Tịch
ổn thỏa nhất bởi Duy Thức nào trở ngại
việc thần minh ghi chép; thần minh ghi chép cũng nào trở
ngại “duy thức sở hiện”.
Bởi đó, thuyết “trong
ngoài cùng ghi” là thích hợp nhất.
Do tội báo theo măi nên xoay vần trong tam đồ “lũy kiếp nan xuất, thống
bất khả ngôn” (bao kiếp khó ra, đau đớn
chẳng nói nổi). “Lũy kiếp”
là nhiều kiếp.
Chánh kinh:
其 三 者,世 間 人 民 相 因 寄 生,壽 命 幾 何。不 良 之 人,身 心 不 正。常 懷 邪 惡,常 念 婬 妷。 煩 滿 胸 中,邪 態 外 逸。費 損 家 財,事 為 非 法。所 當 求 者,而 不 肯 為。又 或 交 結 聚 會,興 兵 相 伐。攻 劫 殺 戮,強 奪 迫 脅。歸 給 妻 子,極 身 作 樂。眾 共 憎 厭,患 而 苦 之。 如 是 之 惡,著 於 人 鬼。神 明 記 識,自 入 三 途。無 量 苦 惱,輾 轉 其 中。累 劫 難 出,痛 不 可 言。
Kỳ tam giả, thế gian nhân dân
tương nhân kư sinh, thọ mạng kỷ hà? Bất
lương chi nhân, thân tâm bất chánh. Thường hoài tà
ác, thường niệm dâm dật, phiền măn hung trung, tà
thái ngoại dật. Phí tổn gia tài, sự vi phi pháp. Sở
đương cầu giả, nhi bất khẳng vi. Hựu
hoặc giao kết tụ hội, hưng binh tương phạt.
Công kiếp sát lục, cưỡng đoạt bách hiếp,
quy cấp thê tử, cực thân tác lạc. Chúng cộng tăng yếm, hoạn nhi khổ chi. Như
thị chi ác, trước ư nhân quỷ, thần minh kư thức,
tự nhập tam đồ. Vô lượng khổ năo, triển
chuyển kỳ trung. Lũy kiếp nan xuất, thống bất
khả ngôn.
Thứ ba là nhân dân trong thế gian nương theo các
nhân mà sanh, thọ mạng được mấy? Kẻ bất lương thân tâm bất chánh,
thường ôm ḷng tà ác, thường nghĩ chuyện dâm dật,
phiền đầy ắp bụng, phong thái tà vạy, vẻ
ngoài lả lơi. Tốn phí của nhà làm điều phi
pháp. Việc đáng nên cầu th́ chẳng chịu làm; lại
c̣n kết giao, tụ hội, dấy binh đánh nhau, công
hăm, cướp đoạt, giết chóc, đâm chém, cưỡng
đoạt, bức hiếp để đem về cung phụng
vợ con, coi cực thân là vui. Mọi người ghét bỏ,
gặp tai nạn mới khổ. [Do] những điều
ác như thế [nên] mắc ṿng [trừng phạt] của
người [lẫn] quỷ. Thần minh ghi biết, tự
vào tam đồ, vô lượng khổ năo. Xoay vần trong ấy,
bao kiếp khó ra, đau đớn chẳng thể nói nổi!
Giải:
Thứ ba là nói về sự dâm ác và do cái nhân dâm ác dẫn
khởi những cái ác: tham, sân, si…
“Tương nhân kư sanh” (Nương
theo các nhân mà sanh): Kư (寄) là nhờ vào,
phụ thuộc vào. Cả câu này ư nói: Chúng sanh do các nghiệp
nhân hợp lại mà sanh ra trong thế gian này. Sách Hội Sớ
nói: “Thế giới an lập:
Chỉ ḿnh Dương th́ chẳng thành, riêng Âm th́ cũng chẳng
lập. Chồng vợ là do nhân tạo
thành. Lại cha con cũng do nhân tạo thành; vua tôi giúp nhau.
Phàm trong ṿng trời đất, đâu có nghĩa
độc lập, nên bảo là ‘tương nhân kư sanh”.
Ấy là v́ chúng sanh đều có Cộng Nghiệp và Biệt
Nghiệp. Do người này, kẻ kia cùng có chung nghiệp
báo nên sanh ra cùng một thời kỳ trong cùng một thế
giới. Lại do biệt nghiệp của mỗi người
đều khác, mỗi người đều có cái duyên túc
nghiệp sai khác nên hoặc làm quyến thuộc, hoặc trở
thành cừu địch, cùng sanh trong đời để
đền ân báo oán nên bảo là “tương
nhân kư sanh”.
“Thọ mạng kỷ hà” (Thọ mạng
được mấy?): Trăm năm ngắn ngủi
như chốc lát, vô thường vùn vụt. Mạng
người trong hơi thở, nháy mắt liền hết;
nhưng thế nhân điên đảo, chẳng biết khổ,
không, vô thường, chỉ cầu cái vui huyễn vọng
như con thiêu thân đâm đầu vào lửa tự đốt
thân ḿnh.
Bởi thế, “bất lương chi nhân,
thân tâm bất chánh, thường hoài tà ác, thường niệm
dâm dật” (kẻ bất lương
thân tâm bất chánh, thường ôm ḷng tà ác, thường
nghĩ chuyện dâm dật).
“Tà” (邪) là tà vạy, bất chánh. “Ác” (惡) là ác độc, bất thiện.
Chữ Sách Hội Sớ nói: “Tà
là tà vạy, ác là tội ác”. Chữ “dật”
(妷)
trong từ ngữ “dâm dật” (婬 妷) có âm đọc là Dật, có nghĩa giống
như chữ Tích (婸), đều có
nghĩa là dâm dục, phóng túng (theo Trung Hoa Đại Tự Điển). “Dâm” (婬) là phóng đăng,
tham sắc, chẳng kể lễ nghĩa. Dâm chính là một
trong mười điều ác. Dâm là gông cùm trói buộc chúng
sanh. Dâm là cội nguồn tội lỗi sanh ra các nạn. Hết
thảy chúng sanh đều do dâm dục mà bị sanh tử
nên bảo là: “Căn bản của
sanh tử th́ dục là bậc nhất”.
Các kinh luận được dẫn chứng dưới
đây đều nói lên cái hại của dâm dục.
Luật Di Sa Tắc nói: “Tại
gia ngũ giới, duy chế tà dâm. Xuất gia thập giới,
toàn đoạn dâm dục. Đản can phạm thế
gian nhất thiết nam nữ, tất danh phá giới. Năi
chí thế nhân nhân dục, sát thân vong gia! Xuất tục vi
Tăng, khởi đắc cánh phạm? Sanh tử căn bản,
dục vi đệ nhất. Cố kinh vân: Dâm dật nhi
sanh, bất như trinh khiết nhi tử” (Trong năm giới của kẻ
tại gia, chỉ cấm tà dâm. Mười giới xuất
gia đoạn hẳn dâm dục. Chỉ cần phạm vào
hết thảy chuyện trai gái trong đời đều
gọi là phá giới. Thậm chí, hết thảy người
đời do dục mà mất mạng tan nhà. Bỏ tục
làm Tăng, lẽ đâu vẫn phạm? Căn bản của
sanh tử th́ dục là bậc nhất. V́ thế, kinh dạy:
“Sống dâm dục chẳng bằng chết trinh khiết”).
Sách Vô Lượng Thọ Kinh Sao cũng nói: “Dâm dục chính là cội nguồn
lưu chuyển sanh tử, là nhân duyên khiến xa ĺa giải
thoát, như bậc đại hiền bảo: ‘Trong lao ngục
sanh tử, dâm làm gông cùm trói chặt hữu t́nh, là nạn
khó thoát’. Lại như Trí Độ
Luận chép: ‘Dâm dục tuy chẳng năo hại chúng sanh
nhưng v́ nó trói buộc chúng sanh nên coi là đại tội’.
Luận Du Già nói: ‘Trong các thứ ái, dục là nặng nhất.
Nếu đối trị được nó, tự nhiên điều phục được
các thứ khác; như chế ngự được kẻ
mạnh mẽ th́ những kẻ yếu hơn tự khuất
phục. Mà dục pháp này có đến ba tội lỗi: Khổ
mà tưởng như vui; chút ít ngọt ngào nhưng lắm
tai hại; bất tịnh mà tưởng như là tịnh”.
Sách c̣n viết thêm: “Lẽ
đâu tham đắm sự vui trong sát-na để chịu
đại khổ trong bao kiếp?”
Kinh Ha Dục (quở trách dục vọng) cũng dạy:
“Nữ sắc giả, thế
gian chi già tỏa, phàm phu luyến trước, bất
năng tự bạt. Nữ sắc giả, thế gian trọng
hoạn, phàm phu nhân chi, chí tử bất miễn. Nữ sắc
giả, thế gian chi suy họa, phàm phu tao chi, vô ách bất
chí” (Nữ sắc là gông
cùm trong thế gian. Phàm phu tham luyến chẳng thể dứt
bỏ nổi. Nữ sắc là tai họa lớn trong thế
gian bởi phàm phu do đấy mà cho đến chết vẫn
chẳng thể thoát nổi nữ sắc. Nữ sắc là
suy họa của thế gian. Phàm phu gặp phải nó th́
không tai nạn nào lại không xảy đến).
Sách Hội Sớ giảng câu “phiền măn hung trung” (phiền đầy
ắp bụng) như sau: “Lửa
dục nung nấu bên trong khiến cho bụng dạ nóng nảy,
tâm cuồng loạn”.
“Tà thái, ngoại dật” (phong thái tà vạy,
vẻ ngoài lả lơi) là tánh cách dâm tà, phóng đăng, buông
tuồng thể hiện rơ ra ngoài.
“Phí tổn gia tài” (Tốn phí của
nhà): “Phí” là hao tốn, “tổn” là giảm.
“Sự vi phi pháp” (Làm điều
phi pháp): Việc làm đều chẳng hợp với pháp
luật, đạo đức, thậm chí vi phạm pháp luật.
“Sở đương cầu
giả, nhi bất khẳng vi” (Việc đáng nên cầu
th́ chẳng chịu làm) là chẳng cầu tự lập, chẳng
chăm chú làm việc chánh đáng, chẳng cầu xuất
ly, chẳng biết cầu phước, cầu huệ, cầu
sanh Tịnh Độ.
Tịnh Ảnh Sớ giảng câu “hựu hoặc kết giao, tụ hội” như
sau: “Từ chữ ‘kết giao,
tụ hội’ trở đi
là nói về việc tạo lỗi ác. V́ dâm nên gây tạo những
chuyện giết hại, trộm cắp… Đó là tội lỗi!”.
Đoạn kinh tiếp theo đó nêu rơ v́ dâm nên con người
tạo đủ các tội trộm cắp, giết hại…
“Kết giao” là cấu kết,
“tụ hội” là tụ tập
bọn tà. “Công kiếp sát lục”
(công hăm, cướp đoạt, giết chóc, đâm
chém): Hễ dùng vật ǵ nhỏ, nhọn để đâm
th́ gọi là “lục”. Ở
đây, chữ “lục” (戮) chỉ các thứ
binh khí như thương, mâu v.v... để giết
người.
Ngài Cảnh Hưng giảng chữ “cưỡng đoạt” là “công nhiên cướp lấy”. “Bách hiếp” là dùng
oai lực để đe dọa, tức là cướp
đoạt bằng oai thế. Đấy là tội trộm cắp.
Làm đủ những việc trộm cắp, giết
hại như thế chỉ nhằm “quy cấp thê tử” (đem về ban cho vợ
con): Chỉ cốt vui ḷng một
người đàn bà nên dẫu cực thân vẫn lấy
làm vui. Ngài Vọng Tây giảng chữ “cực thân” như sau: “Cực
là mệt nhọc”. Như vậy, “cực thân” là làm cái thân khổ nhọc, mỏi mệt
.
“Như thị chi ác, trước
ư nhân quỷ” ([Do] những điều ác như thế nên mắc
ṿng [trừng phạt] của người [lẫn] quỷ): “Trước” (著) là thấy rơ.
Ngài Nghĩa Tịch giảng: “Làm
điều ác công khai th́ bị vướng vào [sự trừng
phạt] của người. Làm điều ác kín đáo th́
bị vướng vào [sự trừng phạt] của quỷ”.
Sách Hội Sớ cũng bảo: “Người là nhân gian, quan quyền h́nh phạt. Quỷ
là quỷ thần, quan cơi âm soi xét”. Thần minh âm thầm
ghi chép, chư thiên cũng ghi chép th́ kẻ tạo ác mong chi
thoát khỏi. Bởi thế, “tự
nhập tam đồ”. “Tự” là tự nhiên, có nghĩa
là quyết định.
Chánh kinh:
其 四 者,世 間 人 民 不 念 修 善。兩 舌、惡 口、妄 言、綺 語。憎 嫉 善 人,敗 壞 賢 明。不 孝 父 母,輕 慢 師 長。朋 友 無 信,難 得 誠 實。尊 貴 自 大,謂 己 有 道。橫 行 威 勢,侵 易 於 人。欲 人 畏 敬,不 自 慚 懼。難 可 降 化,常 懷 驕 慢。賴 其 前 世,福 德 營 護。今 世 為 惡,福 德 盡 滅。壽 命 終 盡,諸 惡 繞 歸。又 其 名 籍,記 在 神 明。殃 咎 牽 引,無 從 捨 離。但 得 前 行,入 於 火 鑊。身 心 摧 碎,神 形 苦 極。當 斯 之 時,悔 復 何 及。
Kỳ tứ giả, thế gian nhân dân bất
niệm tu thiện. Lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn,
ỷ ngữ, tăng tật thiện nhân, bại hoại
hiền minh. Bất hiếu phụ mẫu, khinh mạn
sư trưởng, bằng hữu vô tín, nan đắc
thành thật. Tôn quư tự đại, vị kỷ hữu
đạo. Hoành hành oai thế, xâm dịch ư nhân. Dục
nhân úy kính, bất tự tàm cụ. Nan khả hàng hóa, thường
hoài kiêu mạn, lại kỳ tiền thế, phước
đức doanh hộ. Kim thế vi ác, phước đức
tận diệt. Thọ mạng chung tận, chư ác nhiễu
quy. Hựu kỳ danh tịch, kư tại thần minh,
ương cữu khiên dẫn, vô tùng xả ly, đản
đắc tiền hành, nhập ư hỏa hoạch. Thân
tâm tồi toái, thần h́nh khổ cực. Đương
tư chi thời, hối phục hà cập?
Thứ tư là
nhân dân trong thế gian chẳng nghĩ tu thiện. Nói
đôi chiều, ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt, ganh
ghét người lành, bại hoại bậc hiền minh. Chẳng
hiếu với cha mẹ, khinh mạn sư trưởng. Với
bằng hữu chẳng giữ chữ tín, khó mà thành thật.
Tự đại tôn quư, bảo là ḿnh có đạo, hoành
hành oai thế, xâm tổn người khác. Muốn người
khác kính sợ ḿnh, chẳng tự hổ thẹn, kiêng sợ,
khó bề hàng phục, giáo hóa. Thường ôm ḷng kiêu mạn,
ỷ vào phước đức đời trước giữ
ǵn cho ḿnh. Đời này làm ác, phước đức tận
diệt. Thọ mạng hết rồi, các ác vây lấy. Tên
tuổi người ấy lại được ghi
nơi thần minh, vạ ương dẫn dắt, không
cách nào bỏ ĺa được. Chỉ do việc làm
trước kia mà vào trong vạc lửa, thân tâm tan nát, tinh
thần, thân ḿnh khổ cực. Ngay trong lúc ấy, dẫu hối
kịp chăng?
Giải:
Thứ tư là tội vọng ngữ. Trí Độ Luận
giảng về “vọng ngữ”
như sau: “Vọng ngữ
là tâm bất tịnh muốn dối gạt người.
Che giấu sự thật, nói ra chuyện khác, tạo thành
khẩu nghiệp. Đấy gọi là vọng ngữ”.
Sách Đại Thừa Nghĩa Chương cũng giảng:
“Lời nói chẳng đúng sự
thật nên gọi là Vọng. Nói ra điều sai vạy
nên bảo là Vọng Ngữ”. Như vậy, mang ḷng lừa
dối, miệng thốt ra lời chẳng thật th́ gọi
là vọng ngữ.
Thêm nữa, miệng có bốn lỗi, tức là bốn
điều ác nơi khẩu nghiệp trong Thập Ác là: Nói
đôi chiều, ác khẩu, nói dối và nói thêu dệt. Tịnh
Ảnh Sớ viết: “Bốn
lỗi của miệng chẳng đúng với pháp,
được gọi chung là Vọng Ngữ”. Nay kinh này
giảng về năm sự ác nên dùng chữ “vọng ngữ” để gộp
cả ba lỗi kia của khẩu nghiệp, tính thành một
điều ác. Nhưng kinh này hàm ư răn dạy cả Thập
Ác nên lại nêu ra cả ba điều ác nơi miệng; bởi
thế, trong phần nói tóm lược, lại có phần giải
thích rộng ra.
Chữ “lưỡng thiệt”
(nói đôi chiều) được các nhà dịch kinh theo
trường phái Tân Dịch dịch là “ly gián ngữ”. Tứ Phần Luật chép: “Bỉ thử đấu loạn,
linh tha phá dă” (Người
này, kẻ kia tranh chấp loạn xạ khiến người
khác bị tổn hoại). Ngài Thiên Thai nói: “Khích bác người này, kẻ
kia, phá sự ḥa hợp”. Sách Đại Thừa Nghĩa
Chương lại giảng: “Nói
khiến bên này, bên kia trái nghịch nhau nên gọi là Lưỡng.
Đều do cái lưỡi để nói với cả hai bên
nên bảo là Lưỡng Thiệt”. Nghĩa là khích động
ly gián, hư lộng thị phi.
Chữ “ác khẩu” dịch
theo lối tân dịch là “thô ác
ngữ”. Sách Pháp Giới Thứ Đệ viết: “Dùng lời ác dồn ép kẻ
khác khiến cho họ phải đau khổ th́ gọi là Ác
Khẩu”. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển
thứ bảy cũng chép: “Lời
lẽ thô tháp th́ gọi là Ác. Ác từ miệng sanh nên gọi
là Ác Khẩu”. Như vậy, khiến người khác buồn,
thốt ra lời thô ác khiến người khác đau khổ
th́ gọi là Ác Khẩu.
“Vọng ngôn” tức là vọng
ngữ, dịch theo lối Tân dịch là “hư cuống ngữ”, xin xem lại lời giải
thích ở phần trên. Vọng ngữ lại như kinh Phạm
Vơng đă bảo: “Bất kiến ngôn kiến, kiến
ngôn bất kiến” (Chẳng thấy dám nói thấy, thấy
nói chẳng thấy). Những lời lẽ nghịch tâm,
chẳng thật ấy chính là Vọng Ngữ.
“Ỷ ngữ” (Nói thêu dệt),
dịch theo lối Tân dịch là “tạp
uế ngữ”. Câu Xá Luận nói: “Hết thảy các lời nói xuất phát từ cái
tâm nhiễm tạp th́ gọi là Tạp Uế Ngữ”. Đại
Thừa Nghĩa Chương lại giảng: “Tà ngôn bất chánh giống
như là các sắc [pha trộn] bóng bảy[1].
Dùng thí dụ để đặt tên nên gọi là Ỷ Ngữ”.
Sách Vô Lượng Thọ Kinh Tiên Chú cũng bảo: “Ỷ Ngữ là hết thảy
ngôn từ bất chánh, chứa đựng ư dâm. Khách tao nhân
đời sau quen thói ưa ví von mỹ nhân như cỏ
thơm. Phàm những thứ lời lẽ ấy xâm nhập
vào chốn khuê các th́ đều
gọi là Ỷ Ngữ”.
Sách Thập Thiện Nghiệp Đạo Chương
cũng nói: “Ngôn từ diễn
tả những điều nhiễm tạp th́ gọi là Tạp
Uế Ngữ. Nếu là những văn từ bóng bảy
chẳng khiến tâm tạp nhiễm, ca ngợi thật
đức th́ chẳng gọi là lời bất thiện vậy”.
Ngài Vọng Tây nói: “Đối
với vọng ngữ này người đời thường
thích phạm, chẳng đoái hoài quả báo mai sau. Như
ngài
Ngài c̣n nói: “Hành Cơ Bồ
Tát lại nói: - Con cọp lỗ
miệng hại người, gươm lưỡi đoạt
mạng. Nếu cái miệng giữ được như
cái mũi th́ chết đi chẳng lo tai vạ ǵ!”.
Người giữ được cái miệng im lặng
như lỗ mũi th́ mới khỏi sanh ra các họa hại.
Trí Độ Luận nói:
“Như đức Phật
đă nói, Vọng Ngữ có mười tội. Những ǵ
là mười?Một là hơi miệng hôi thối; hai là thiện
thần tránh xa, phi nhân được dịp làm hại; ba
là tuy có nói thật người khác chẳng tin nhận; bốn
là khi người trí bàn soạn thường chẳng tham dự được; năm là thường
bị phỉ báng, tiếng xấu xa đồn khắp
thiên hạ; sáu là người khác chẳng kính, tuy có dạy
dỗ, ra lệnh người khác chẳng tuân theo; bảy
là thường hay ưu sầu; tám là tạo thành nhân duyên của
nghiệp phỉ báng; chín là khi thân hoại mạng chung sẽ đọa địa
ngục; mười nếu được thoát ra [khỏi
địa ngục] sanh làm người thường bị
phỉ báng”.
Ta thấy ác nghiệp vọng ngữ sanh ra lắm thứ
ương họa như thế, chết đọa địa
ngục, phải dè chừng chớ khinh thường!
“Tăng tật thiện
nhân” (Ganh ghét người lành): “Tăng” (憎) là chán ghét, “tật”
(嫉) là ganh tỵ. Đối với cả tám câu từ
câu “tăng tật thiện
nhân” cho đến câu “tự
đại tôn quư”, các cổ đức có hai lối giải
thích khác nhau:
1. Một là như ngài Gia Tường giảng: “Tăng tật thiện nhân là ác
khẩu. ‘Bại hoại hiền minh’ là vọng ngữ. ‘Bất
hiếu song thân’ (bản Ngụy dịch chép là “nhị
thân”) là kẻ tạo ác tạo
nghịch. ‘Bằng hữu vô tín’ (Không giữ chữ tín đối với bạn bè) là bất trung, thành tội vọng
ngữ bậc thượng. ‘Tự đại tôn quư’ thành
ra ác khẩu. ‘Vị kỷ hữu đạo’ (bảo là
ḿnh có đạo) là nói đôi chiều”.
2. Hai là theo ngài Vọng Tây th́ “tăng
tật thiện nhân” chính là tội lưỡng thiệt,
“bất hiếu song thân, khinh mạn
sư trưởng” là tội Ác Khẩu. “Bằng hữu vô tín, nan đắc thành thật” (Đối
với bạn bè không giữ chữ tín, khó thể thành thật)
chính là lỗi vọng ngữ. “Tự
đại tôn quư, vị kỷ hữu đạo” chính
là tội nói thêu dệt.
Hai thuyết hơi khác nhau, nhưng lời nói đă chẳng
thành thật th́ từ một khẩu nghiệp sẽ có
đủ các tội lỗi, khó bề phân giải tường
tận. Thêm nữa, “vị kỷ
hữu đạo” là nếu ḿnh chưa đắc thánh
đạo mà bảo ta đă đắc thánh đạo là
đă phạm đại vọng ngữ giới, sẽ phải
chịu lấy tội báo nặng hơn các khẩu nghiệp
khác.
“Hoành hành oai thế, xâm dịch
ư nhân” là hoành hành bá đạo, cậy thế khinh
người. “Dục nhân úy
kính” là muốn đại chúng coi ḿnh như người
cầm đầu, nghe theo lệnh ḿnh, chỉ biết phục
tùng ḿnh. Kiêu căng, ngă mạn, chẳng biết hổ thẹn,
chẳng tự răn dè, kiêng nể, khó bề giáo hóa, hàng
phục. Bởi thế, kinh nói:“Bất
tự tàm cụ, nan khả hàng hóa, thường hoài kiêu mạn”
(Chẳng tự hổ thẹn, kiêng sợ, khó thể
hàng phục, giáo hóa, thường ôm ḷng kiêu mạn). Cái tội
mạn nếu đem kết hợp với ba độc
th́ có tham mạn, sân mạn, si mạn, đều thuộc
về Tư Hoặc.
“Lại kỳ tiền thế
phước đức doanh hộ” (Ỷ vào
phước đức đời trước giữ ǵn
cho ḿnh): Theo Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa, Lại (賴) chính là chữ Vệ (衛), có nghĩa là
bảo vệ. Những kẻ ác có thể hoành hành nhất
thời như trên đều là do phước đức
đời trước che chở họ, nhưng “kim thế vi ác, phước đức
tận diệt” (Đời này làm ác, phước đức
tận diệt). Ngài Vọng Tây bảo: “Nghiệp lành đời trước diệt sạch,
thiện thần bỏ đi nên đời này gặp nạn,
đấy là điều đau khổ vậy”. Ngài Tịnh
Ảnh nói: “Nghiệp lành đời
trước diệt hết, thiện thần xa ĺa, thân
không nơi nương dựa, gặp nhiều nạn ác là
nỗi đau khổ vậy”.
“Hựu kỳ danh tịch” (Tên tuổi của
người ấy): Danh (名) là tên họ, Tịch
(籍) là hồ sơ ghi tội; “kư tại thần minh” (được ghi chép
nơi thần minh): Thần minh đem tội lỗi của
kẻ ác ghi vào trong sổ ghi án.
Sách Hội Sớ giảng câu “ương cữu khiên dẫn” (vạ ương
lôi dắt) như sau: “Chẳng
ai lôi kéo được ḿnh, chỉ có nghiệp của chính
ḿnh ràng buộc mà lọt vào đường ác”. “Nhập
ư hỏa hoạch” là tự vào trong lửa cháy và vạc
nước sôi nơi địa ngục. “Tồi toái”
(摧 碎) là đập vỡ, phá nát.
“Thần h́nh” (神 形) là tinh thần và h́nh thể. Tịnh Ảnh Sớ giảng:
“Do ác nghiệp lôi kéo, quỷ thần
chộp nắm, nên vào trong ác đạo chịu khổ, bị
nung đốt”. Bởi thế bảo là “cực khổ” (khổ sở tột cùng). Ngay lúc
đó, dẫu có hối hận cũng chẳng làm ǵ
được nên bảo là “hối
phục cập hồ?” (dẫu hối kịp chăng).
Chánh kinh:
其 五 者,世 間 人 民 徙 倚 懈 怠。不 肯 作 善,治 身 修 業。父 母 教 誨,違 戾 反 逆。譬 如 怨 家,不 如 無 子。負 恩 違 義,無 有 報 償。放 恣 遊 散,耽 酒 嗜 美。魯 扈 抵 突,不 識 人 情。無 義 無 禮,不 可 諫 曉。六 親 眷 屬,資 用 有 無,不 能 憂 念。不 惟 父 母 之 恩,不 存 師 友 之 義。意 念 身 口,曾 無 一 善。不 信 諸 佛 經 法,不 信 生 死 善 惡。欲 害 真 人,鬬 亂 僧 眾。愚 痴 蒙 昧,自 為 智 慧。不 知 生 所 從 來,死 所 趣 向。不 仁 不 順,希 望 長 生。慈 心 教 誨,而 不 肯 信。苦 口 與 語,無 益 其 人。心 中 閉 塞,意 不 開 解。大 命 將 終,悔 懼 交 至。不 豫 修 善,臨 時 乃 悔。悔 之 於 後,將 何 及 乎!
Kỳ ngũ giả, thế gian nhân dân tỷ
ỷ giải đăi, bất khẳng tác thiện, trị
thân tu nghiệp, phụ mẫu giáo hối, vi lệ phản
nghịch, thí như oán gia, bất như vô tử. Phụ ân vi
nghĩa, vô hữu báo thường. Phóng tứ du tán, đam
tửu thị mỹ, lỗ hỗ để đột, bất
thức nhân t́nh, vô nghĩa, vô lễ, bát khả gián hiểu.
Lục thân quyến thuộc, tư dụng hữu vô, bất
năng ưu niệm. Bất duy phụ mẫu chi ân, bất
tồn sư hữu chi nghĩa, ư niệm thân khẩu tằng
vô nhất thiện. Bất tín chư Phật kinh pháp, bất
tín sanh tử thiện ác. Dục hại chân nhân, đấu
loạn tăng chúng, ngu si mông muội, tự vi trí huệ.
Bất tri sanh sở tùng lai, tử sở thú hướng. Bất
nhân bất thuận, hy vọng trường sanh. Từ tâm
giáo hối, nhi bất khẳng tín. Khổ khẩu dữ ngữ,
vô ích kỳ nhân. Tâm trung bế tắc, ư bất khai giải,
đại mạng tương chung, hối cụ giao chí, bất
dự tu thiện, lâm thời năi hối. Hối chi ư hậu,
tương hà cập hồ!
Thứ năm
là nhân dân trong thế gian chần chừ, lười biếng,
chẳng chịu làm lành, sửa thân, tu nghiệp. Cha mẹ
răn dạy th́ chống đối, hỗn hào, trái nghịch
hệt như oan gia, chẳng bằng không con. Phụ ân trái
nghĩa, chưa từng đáp đền. Phóng túng chơi
bời, lông bông, ham rượu, mê vị ngon, thô lỗ,
khoác lác, càn quấy, chẳng hiểu nhân t́nh. Vô nghĩa, vô
lễ, chẳng thể khuyên can, giảng giải. Lục
thân, quyến thuộc dù no đủ hay thiếu thốn,
chẳng thèm lo nghĩ. Chẳng nghĩ ơn cha mẹ, chẳng
kể nghĩa thầy bạn. Ư niệm, thân, khẩu
chưa hề có một điểm lành. Chẳng tin kinh pháp
của chư Phật, chẳng tin sanh tử, thiện ác,
muốn hại Chân Nhân, gây rối tăng chúng. Ngu si, mông muội,
tự cho là trí huệ, chẳng biết sanh từ đâu
đến, chết đi về đâu. Chẳng nhân, chẳng
thuận lại hy vọng trường sanh. Từ tâm
răn dạy mà chẳng chịu tin. Rát miệng bảo ban
[cũng] chẳng ích ǵ cho kẻ đó. Cơi ḷng bế tắc,
ư chẳng khai giải. Mạng lớn sắp hết, hối,
sợ rối bời, chẳng tu thiện sẵn, đến
lúc ấy mới hối. Dẫu hối hận vào lúc cuối
cùng cũng nào ích chi!
Giải:
“Kỳ ngũ giả”: Đây là điều
thứ năm [trong Ngũ Khổ, Ngũ Thống, Ngũ
Thiêu]. Với điều này, cổ đức có hai cách giải
thích:
1. Một là giống như những điều trên,
điều này giảng về tội lỗi của việc
uống rượu. Các vị Tịnh Ảnh, Gia Tường
theo quan điểm này. Phần kinh văn trên có câu: “Đam tửu, thị mỹ”
(Ham rượu, mê vị ngon), tiếp đó lại nêu lên
các điều ác khác để nói rơ tai hại của
rượu.
2. Quan điểm thứ hai là năm điều ác này
thật ra bao gồm cả mười điều ác
như ngài Nghĩa Tịch nói: “Ba
nghiệp ác nơi thân là ba điều đầu (trong
Ngũ Ác, Ngũ Thống, Ngũ Thiêu). Bốn nghiệp ác nơi miệng gộp thành điều
thứ bốn. Ba nghiệp
ác nơi ư hợp thành điều thứ năm”.
Nghĩa là: Ba nghiệp sát sanh, trộm cắp, tà dâm là
điều ác thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Bốn
nghiệp ác nơi miệng là điều ác thứ tư.
Cho đến đây, hai thuyết vẫn giống nhau.
Nhưng riêng với điều ác thứ năm, các vị
như Tịnh Ảnh… cho là tội uống rượu, c̣n
ngài Nghĩa Tịch lại cho là [điều này] chỉ
chung cả ba nghiệp ác nơi ư, tức là tham, sân, si.
Ông Bành Tế Thanh đời Thanh cũng có cùng quan niệm
này. Trong cuốn Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận,
ông viết: “Đối với ư
nghĩa của năm ác th́ đặc biệt chuẩn theo
các kinh khác mà phối hợp với Thập Ác. Điều ác thứ
nhất thuộc về sát nghiệp. Điều ác thứ hai
thuộc về tham, trộm. Điều ác thứ ba thuộc về
dâm nghiệp. Điều ác thứ tư thuộc về nói dối,
nói đôi chiều, ác khẩu, nói thêu dệt. Điều ác thứ
năm thuộc sân hận, tà kiến. Trái ngược với
chúng là năm điều lành, cũng gọi là Thập Thiện”.
So với thuyết của ngài Nghĩa Tịch, thuyết của
ông Bành chỉ khác một ít, v́ tà kiến là từ si sanh ra.
Ở đây, tôi giải thích kinh văn dựa theo cả
hai thuyết cho nên bảo điều ác thứ năm là lỗi
uống rượu; lại v́ rộng khuyên Thập Thiện
nên dùng kèm cả thuyết sau. Hai thuyết trên thoạt nh́n
khác nhau, nhưng thật sự chẳng trái nghịch nhau. Bởi
v́ ham mê chè chén chính là tham ác. Say rồi dễ nổi nóng,
đó là sân độc. Rượu khiến cho thần trí
hôn ám, uống quá độ thậm chí bất tỉnh nhân sự
chính là si độc. Đủ thấy một cái lỗi uống
rượu thường có đủ cả ba độc.
Sách Tư Tŕ Kư bảo uống rượu có mười
cái hại. Sách viết: “Một
là vẻ mặt xấu ác, hai là yếu sức, ba là mắt
nh́n chẳng rơ, bốn là hiện ra vẻ nóng giận (sân
độc), năm là tổn hoại
nghề nghiệp mưu sinh, sáu là tăng tật bịnh, bảy
là tăng thêm tranh chấp, căi cọ (sân độc), tám là không c̣n tiếng tăm, chín
là trí huệ kém (si độc), mười là khi mạng chung sẽ đọa trong
ba ác đạo”. Trong những điều trên, điều
thứ tư, điều thứ bảy là Sân, điều
thứ chín là Si. Đời cũng có câu: “Rượu vào loạn tánh” nghĩa là rượu
có khả năng làm cho tâm ư và bản tánh lương thiện
của con người bị mê loạn khiến cho con
người tạo ác.
Nay kinh đây bảo: “Đam
tửu, thị mỹ” (Ham rượu, mê vị ngon) th́ chính là cả hai độc
Tham và Si. Bởi thế một tội uống rượu
thật sự gồm cả ba điều ác nơi ư nghiệp.
Bởi thế, hai thuyết trên đây chỉ là do nói tách ra
hay gộp lại mà thành ra sai khác mà thôi.
Tiếp đó, kinh nói chi tiết về những tai hại,
ương họa của việc uống rượu. “Tỷ ỷ giải đăi”: “Tỷ
ỷ” (徙 倚) là do dự, “giải đăi” (懈 怠) là biếng nhác. Ư nói: Trong tâm do dự,
phóng dật, biếng nhác, chỉ cốt được an
nhàn tấm thân chẳng thể tu thân, làm lành. Bởi thế,
tiếp đó, kinh nói: “Bất
khẳng tác thiện, trị thân tu nghiệp” (Chẳng
chịu làm lành, sửa thân, tu nghiệp). Chữ “nghiệp” ở đây chỉ
chánh nghiệp. Câu này ư nói: Người ác chẳng chịu
tu sửa thân ḿnh, chẳng siêng tu chánh nghiệp.
Kẻ ấy đối với lời răn dạy của
cha mẹ liền “vi lệ phản
nghịch”. “Vi” (違) là kháng cự lại. “Lệ” (戾) là hung bạo,
hỗn ác. “Vi lệ” có
nghĩa là chống chọi, láo xược. “Phản nghịch” (反 逆) là ngỗ nghịch, bất hiếu. Cha mẹ
có con mà hệt như có oan gia nên bảo là “bất như vô tử” (chẳng bằng không con).
Đứa con ác như thế bội bạc từ ân nên bảo
là “phụ ân”, trái nghịch
lễ nghĩa nên bảo là “vi
nghĩa” (trái nghĩa). “Vô hữu
báo thường” nghĩa là đối với ân đức
của cha mẹ hoàn toàn chẳng báo đáp. “Phóng tứ” (放 恣) là phóng
đăng, tự tung tự tác. “Đam
tửu” (耽 酒) là ưa say
sưa, chè chén. “Thị mỹ”
(嗜 美)
là ham
thích ăn đồ mỹ vị. “Đam” (耽) c̣n có nghĩa
theo đuổi cái vui quá độ, “thị” (嗜) là tham lam chẳng
chán. Câu này ư nói mặc t́nh chè chén, ăn uống, tham ăn
vô độ, đấy chính là lỗi ác của việc
rượu chè.
Trong sách Thuật Nghĩa, ngài Nghĩa Tịch giảng
chữ “lỗ hỗ” (魯扈) như sau: “Lỗ là lỗ măng, đần
độn, chẳng hay biết ǵ. Hỗ là huênh hoang, mặc
sức tự đại”. “Để đột” (抵 突) là ngu cuồng, luôn làm càn, chẳng
hiểu việc ǵ, nhưng không việc ǵ lại không làm.
Sách Phụ Hành ghi: “Thô lỗ,
huênh hoang… là dáng vẻ chẳng biết xấu hổ, bất
thuận”. Bởi thế, “bất
thức nhân t́nh, vô nghĩa, vô lễ” (chẳng hiểu
nhân t́nh, vô nghĩa, vô lễ).
“Nghĩa” (義) là “nghi” (宜: Thích đáng,
nên), tức là những ǵ quy định khiến cho mọi
sự được thích đáng, đúng đắn. Chữ
“lễ” (禮) được
sách Lễ Kư giảng như sau: “Thuận
nhân t́nh là Lễ”. Sách Hội Sớ lại bảo: “Quyết đoán đúng sai, thấy
cái nào thích đáng th́ làm theo, đó là Nghĩa. Phân đoán, biện
định tôn ty, chẳng trái với chuẩn mực, pháp
tắc th́ là Lễ”. Nghĩa là: Phân biệt, biện
định đúng, sai, việc làm đúng đắn là
Nghĩa. Biết tôn, ty, lớn, nhỏ, chẳng trái phạm
quy ước đạo đức xă hội chính là Lễ.
V́ trái nghịch với lễ nghĩa nên bảo là “vô nghĩa, vô lễ”. “Bất khả
gián hiểu” (Chẳng thể khuyên can, giảng giải):
Gián (諫) là dùng đạo để chỉnh người
khác, nghĩa là khuyên ngăn để kẻ ấy hành xử
đúng đắn. Hiểu (曉) là khuyên bảo, dùng lời lẽ dạy dỗ
người khác. “Lục thân”
là cha, mẹ, anh, em, vợ, con. Hiển Dương Đại
Giới Luận có câu: “Lục
thân là ba đời trên của ḿnh, tức là cha mẹ, ông
bà, ông cố, bà cố và ba đời dưới ḿnh: con
cái, cháu và chắt”. Sách Vô Lượng Thọ Kinh Sao giảng
chữ “quyến thuộc”
là: “Ngoài lục thân th́ gọi
là quyến thuộc”.
“Tư dụng” (資 用) là những vật dùng để
sanh sống như tiền bạc, lúa gạo v.v… Kẻ ác
như vậy đối với những vật cần thiết
để duy tŕ cuộc sống của lục thân, quyến
thuộc hoàn toàn chẳng thèm quan tâm đến, nên kinh nói: “Tư dụng vô hữu, bất
năng ưu niệm” (Dù no đủ hay thiếu thốn,
chẳng thèm lo nghĩ). Đối với ơn cha mẹ,
nghĩa thầy bạn, hoàn toàn chẳng nghĩ tới, thản
nhiên như không, nên kinh bảo: “Bất
duy phụ mẫu chi ân, bất tồn sư hữu chi
nghĩa” (Chẳng nghĩ ơn cha mẹ, chẳng kể
nghĩa thầy bạn).
Câu “ư niệm thân khẩu, tằng
vô nhất thiện” (Ư niệm, thân, khẩu chưa hề
có một điểm lành) được bản Ngụy dịch
ghi là: “Tâm thường niệm
ác, khẩu thường ngôn ác, thân thường hành ác, tằng
vô nhất thiện” (Tâm thường nghĩ điều
ác, miệng thường nói điều ác, thân thường
làm ác, chưa từng có một điều lành nào). Rơ ràng là
ba nghiệp thân, khẩu, ư thường tạo nghiệp
ác, chưa từng làm được việc lành ǵ. Câu này
đủ chứng minh thuyết của ngài Nghĩa Tịch
thật quả có căn cứ.
Câu “ bất tín chư Phật
kinh pháp, bất tín sanh tử thiện ác” (chẳng tin
kinh pháp của chư Phật, chẳng tin sanh tử, thiện
ác) là nói về si họa. Chẳng tin Phật pháp, bác không
nhân quả th́ chính là Nhất-xiển-đề.
Câu “dục hại Chân Nhân” (muốn
hại Chân Nhân) được bản Ngụy dịch ghi
là “dục sát Chân Nhân” (muốn
giết Chân Nhân), bản Hán dịch ghi là “dục hại La Hán” (muốn hại La Hán). Sách
Huyền Ứng Âm Nghĩa giảng: “Chân Nhân là A La Hán”. Sách Pháp Hoa Sớ Kư lại bảo:
“Chân là sự chứng đắc.
Do [A La Hán] là bậc chứng đắc chân thật nên gọi
là Chân Nhân”. Giết A La Hán chính là Ngũ Nghịch trọng
tội.
“Đấu” (鬬) là đấu tranh, “loạn” (亂) là lầm lạc,
trái nghịch. Do vậy, “đấu
loạn Tăng chúng” chính là tội “phá ḥa hợp Tăng” trong Ngũ Nghịch. Đối
với Tăng chúng ḥa hợp tu hành đúng theo Phật pháp
lại dùng thủ đoạn để ly gián, khiến họ
tranh chấp, rối loạn, khiến pháp sự bị phế
bỏ th́ gọi là “phá ḥa hợp
Tăng”.
Kinh A Xà Thế Vương Vấn Ngũ Nghịch dạy:
“Hữu ngũ nghịch tội,
nhược tộc tánh tử, tộc tánh nữ, vi thử
ngũ bất cứu tội giả, tất nhập địa
ngục bất nghi. Vân hà vi ngũ? Vị sát phụ, sát mẫu,
hại A La Hán, đấu loạn chúng tăng, khởi ác ư
ư Như Lai sở” (Có
năm tội nghịch nếu tộc tánh tử, tộc
tánh nữ phạm những tội này th́ không thể cứu
được, ắt nhập địa ngục, chẳng
c̣n nghi ǵ nữa. Những ǵ là năm? Tức là giết cha,
giết mẹ, hại A La Hán, đấu loạn chúng
Tăng, khởi ác ư đối với đức Như
Lai). Năm thứ ấy chính là Ngũ Vô Gián nghiệp,
chiêu cảm khổ quả trong địa ngục Vô Gián.
Trên đây là nói về lỗi ác của Sân và Si.
Từ chữ “ngu si, mông muội”
trở đi là nói về những sự đau khổ phát
sanh từ si ác. “Mông muội”
là vô tri. Ngu si, vô tri lại “tự
vi trí huệ” (tự cho là có trí huệ), tự cho ḿnh là
đúng th́ thật là ngu si đến cùng cực!
Lại do v́ ngu si nên chẳng tin nhân quả ba đời;
thế nên chẳng biết đời này sanh từ đâu
đến, cũng chẳng biết chết đi sẽ
sanh về đâu? Chẳng hiểu rơ nhân quả, chẳng
tin luân hồi, chẳng biết lợi tha, chỉ toan tự
lợi nên đối xử với người khác toàn là “bất nhân, bất thuận”
(Trang Tử nói: “Yêu người,
làm lợi cho người là Nhân”. “Thuận” (順) là ḥa thuận). Do chỉ biết tự lợi nên “hy vọng trường sanh”.
Con người thế ấy tâm ngu, hạnh kém, tuy “từ tâm giáo hối, nhi bất
khẳng tín, khổ khẩu dữ ngữ, vô ích kỳ nhân”
(từ tâm răn dạy mà chẳng chịu tin, rát miệng
bảo ban vẫn chẳng ích ǵ cho người đó). Bởi v́ kẻ si như thế
tấm ḷng đóng chặt, dẫu nghe lời hay cũng chẳng
thể lănh hội, hiểu nổi. Rơ ràng là do si độc
chiêu cảm nỗi đau khổ.
V́ thế, Tịnh Ảnh Sớ viết: “Hiện đang có ngu si, ám chướng
che lấp cái tâm, chẳng hiểu biết ǵ. Bởi vậy,
đó là đau khổ”. Nghĩa là: Do ngu si che lấp cái
tâm nên vô tri, mông muội; đấy thật là nỗi
đau lớn lao của kiếp người.
Ngài Nghĩa Tịch giảng chữ “đại mạng” trong câu “đại mạng tương chung, hối cụ
giao chí” (đại mạng sắp dứt, hối hận,
hoảng sợ rối bời) như sau: “Sanh tử là đại mạng, cùng quẫn là tiểu
mạng”. Ngài Vọng Tây giảng chữ “hối cụ” (悔 懼) như sau: “Hối cụ là
lúc mạng sắp dứt, lửa địa ngục hiện
tiền. Lúc thấy tướng ấy, sanh ḷng hoảng sợ,
hối hận. Hối hận
chen lẫn hoảng sợ nên bảo là ‘giao chí”. Lửa
địa ngục bức bách thân là “thiêu”. Người ta nếu
chẳng nhân lúc c̣n sống
tu sẵn việc lành từ trước, để đến
lúc lâm chung mới hối hận th́ đă trễ; hối hận
cũng chẳng làm ǵ được!
Chánh kinh:
天 地 之 間,五 道 分 明。善 惡 報 應,禍 福 相 承。身 自 當 之,無 誰 代 者。善 人 行 善,從 樂 入 樂,從 明 入 明。惡 人 行 惡,從 苦 入 苦,從 冥 入 冥。誰 能 知 者,獨 佛 知 耳。教 語 開 示,信 行 者 少。生 死 不 休,惡 道 不 絕。如 是 世 人,難 可 具 盡。故 有 自 然 三 途,無 量 苦 惱,輾 轉 其 中。世 世 累 劫,無 有 出 期。難 得 解 脫,痛 不 可 言。
Thiên địa chi gian, ngũ đạo
phân minh, thiện ác báo ứng, họa phước
tương thừa, thân tự đương chi, vô thùy
đại giả. Thiện nhân hành thiện, tùng lạc nhập
lạc, tùng minh nhập minh. Ác nhân hành ác, tùng khổ nhập
khổ, tùng minh nhập minh. Thùy năng tri giả, độc
Phật tri nhĩ. Giáo ngữ khai thị, tín hành giả thiểu.
Sanh tử bất hưu, ác đạo bất tuyệt.
Như thị thế nhân, nan khả cụ tận. Cố hữu
tự nhiên tam đồ, vô lượng khổ năo, triển
chuyển kỳ trung. Thế thế lũy kiếp, vô hữu
xuất kỳ, nan đắc giải thoát, thống bất
khả ngôn!
Trong ṿng trời
đất, ngũ đạo phân minh, thiện ác báo ứng,
họa phước tiếp nối, thân phải tự lănh,
chẳng ai thế cho. Người lành làm lành từ vui vào
vui, từ chỗ sáng vào chỗ sáng. Kẻ ác làm ác từ khổ
vào khổ, từ tối vào nơi tối. Ai biết
được thế? Chỉ ḿnh đức Phật biết
nổi mà thôi! Dạy bảo khai thị, kẻ tin hành theo
th́ ít. Sanh tử chẳng ngơi, ác đạo chẳng dứt.
Người đời như vậy khó thể hết sạch.
Bởi vậy, tự nhiên có tam đồ, vô lượng
khổ năo, xoay vần trong đó đời đời kiếp
kiếp, chẳng có thuở ra, khó được giải
thoát, đau đớn chẳng thể nói nổi!
Giải:
Đoạn này tổng kết năm sự ác, năm sự
đau đớn, năm sự đốt.
Sách Hội Sớ giảng câu “thiên địa chi gian, ngũ đạo phân minh” (trong
ṿng trời đất, ngũ đạo phân minh) như sau: “Trời đất là sở y thế giới khí thế
gian[2],
[chữ thiên địa] chỉ chung cả ba cơi. Ngũ
đạo là năng y hữu t́nh[3],
chỉ chung cả đường lành lẫn nẻo ác.
Nhân quả khổ vui ai
cũng thường thấy nên bảo là phân minh”.
Ngài Nghĩa Tịch lại nói: “Trong ṿng trời đất, sanh tử trong năm
đường, nhân quả phân minh”, ư nói: Hễ có nhân ắt
có quả. Nghiệp nhân như thế th́ quả báo như
thế, chẳng sai một mảy.
“Thiện ác báo ứng”: Sách Tiên Chú giảng
chữ “báo ứng” như
sau: “Có làm ắt có báo, có cảm
ắt có ứng”. Như vậy, họa phước gặp
phải trong hiện tại đều là báo ứng của
túc nhân (nhân đă tạo trong đời trước).
Sách Hội Sớ nói: “Thiện
ác thuộc về nhân; họa phước thuộc về
quả. Nhân có thiện ác, quả cảm khổ vui. Bóng theo
h́nh, tiếng vọng theo âm
thanh, chẳng sai tơ tóc”. Bóng ắt theo h́nh, tiếng vọng
vang ra từ âm thanh không sai mảy may; nghiệp nhân, quả
báo cũng giống như thế.
“Họa phước
tương thừa” (Họa phước tiếp nối):
Sách Hội Sớ giảng chữ Thừa (承) là “nhận
lănh, tiếp nối”. Nghiệp nhân đời trước
có thiện ác lẫn lộn nên đời sau thọ báo th́
hoặc là trước vui sau khổ, hoặc là trước
khổ sau vui. Khổ vui tiếp nối, họa phước
thay phiên nhau nên bảo là “họa
phước tương thừa”. Làm lành được
phước, tạo ác mắc họa, đều là tự
ḿnh làm tự ḿnh chịu nên bảo là “thân tự đương chi, vô thùy đại giả” (thân
phải tự lănh, chẳng ai thế cho).
Tổng hợp ư kiến của ngài Nghĩa Tịch và
tác giả sách Hội Sớ, các câu từ chữ “thiện nhân hành thiện”
(người lành làm lành) đến “tùng minh nhập minh” (從 冥 入 冥: từ chỗ tối
vào chỗ tối) được hiểu như sau:
Thiện nhân là người gieo cái nhân lành; đời
sau sanh trong nhà tôn quư, thân h́nh đoan chánh, duyên cảnh ḥa hợp,
đẹp đẽ, thân tâm sướng vui; đó là “lạc” (樂). Người ấy
lại c̣n sáng suốt, thông đạt, ưa điều
thiện, thích bố thí; ấy là “minh” (明). Nếu người
ấy lại làm nhiều thiện nghiệp, siêng tu phước
huệ th́ được sanh lên trời. Hay hơn nữa
là niệm Phật cầu sanh Tây phương v.v… Ấy là “tùng minh nhập minh” (從 明 入 明: từ chỗ sáng vào chỗ sáng).
C̣n kẻ ác tạo ác nghiệp, gieo nhân ác, chịu quả
ác. V́ thế, sanh trong nhà ty tiện, h́nh dung khô kháo, cả
đói lẫn rách bức năo thân tâm; ấy là khổ. Lại
c̣n ngu muội, vô tri, chẳng tin chánh pháp, chẳng làm việc
lành; ấy là “minh” (冥: tối tăm). Nếu c̣n làm nhiều
ác nghiệp, chết sẽ đọa ác đạo, nên bảo:
“Tùng khổ nhập khổ,
tùng minh nhập minh” (從 苦 入 苦,從 冥 入 冥: Từ khổ vào khổ, từ tối
vào nơi tối).
Tiếp đó, kinh dạy rơ lư nhân quả sanh tử
trong sáu đường như thế rất u huyền; cả
chín mươi lăm phái ngoại đạo chẳng thể
biết được nổi, chỉ ḿnh đức Thế
Tôn ta biết được căn nguyên nên nói: “Độc Phật tri nhĩ” (Chỉ
riêng đức Phật biết mà thôi). Phật rủ ḷng
giáo hóa, mở bày sự chân thật, nhưng chúng sanh ngu si,
chẳng tin theo, chẳng hành theo. Bởi vậy, Phật
nói: “Tín hành giả thiểu” (Kẻ
tin hành theo th́ ít). Do đó, thế gian “sanh tử bất hưu, ác đạo bất tuyệt”
(sanh tử chẳng
ngơi, ác đạo chẳng dứt). Người đời
chẳng tin lời Phật dạy răn cứ làm ác không
thôi.
Các câu tiếp đó như: “Cố
hữu tự nhiên tam đồ…” (Bởi vậy, tự
nhiên có tam đồ…) nghĩa đă quá rơ.
Chánh kinh:
如 是 五 惡、五 痛、五 燒,譬 如 大 火,焚 燒 人 身。若 能 自 於 其 中 一 心 制 意,端 身 正 念,言 行 相 副,所 作 至 誠,獨 作 諸 善,不 為 眾 惡。身 獨 度 脫,獲 其 福 德,可 得 長 壽 泥 洹 之 道。是 為 五 大 善 也。
Như
thị ngũ ác, ngũ thống, ngũ thiêu, thí như
đại hỏa, phần thiêu nhân thân. Nhược
năng tự ư kỳ trung nhất tâm chế ư, đoan
thân chánh niệm, ngôn hạnh tương phó, sở tác chí
thành, độc tác chư thiện, bất vi chúng ác, thân
độc độ thoát, hoạch kỳ phước
đức, khả đắc trường thọ Nê Hoàn
chi đạo. Thị vi ngũ đại thiện giả.
Năm điều
ác, năm sự đau đớn, năm sự đốt
như thế, ví như lửa lớn thiêu đốt thân
người. Nếu có thể tự ở trong ấy, nhất
tâm chế ư, đoan thân chánh niệm, lời nói phù hợp với
việc làm, việc làm chí thành, chỉ làm các điều thiện,
chẳng làm các điều ác, thân riêng được độ
thoát, đạt được phước đức,
đạt được đạo Nê Hoàn trường thọ.
Đấy là năm điều đại thiện vậy.
Giải:
Đoạn cuối của phẩm kinh này khuyên chuyển
đổi năm điều ác thành năm điều thiện.
Câu “thí như đại hỏa,
phần thiêu nhân thân” (ví như lửa lớn thiêu đốt
thân người) là dùng lửa lớn ví cho năm điều
ác. Nếu ai có thể trong năm thứ đau đớn,
năm thứ thiêu đốt ấy mà chuyên nhất tâm ḿnh,
chế ngự, ngăn dứt ba điều ác trong ư nghiệp,
giữ cho thân tâm đoan chánh, lời nói đi đôi với
việc làm, thành thật chẳng dối, chẳng làm các
điều ác th́ sẽ đạt được các
phước, thoát khỏi sanh tử. Sách Hội Sớ nói: “Khởi hạnh đúng với lời
nói, dùng hạnh để thực hiện lời nói th́ gọi
là ‘ngôn hạnh tương phó’ (lời nói phù hợp với
việc làm). Phó (副) là phù
hợp, xứng hợp”.
“Trường thọ” là trường
sanh. Thế gian đâu có sự trường sanh, chỉ có
chứng được đạo vô thượng th́ mới
bất sanh bất diệt. V́ vậy, ĺa được sự
sanh tử của thế gian mới đúng là trường
sanh thật sự. “Nê Hoàn”
chính là Niết Bàn, là quả của sự chứng ngộ
trọn vẹn ba đức. Nói riêng trong Tịnh tông th́ Niết
Bàn chính là Cứu Cánh Tịch Quang. Sự lành như thế
gọi là “đại thiện”.
Phẩm này giảng rộng về nhân quả thiện
ác. Phước “thâm tín nhân quả”
(tin sâu nhân quả) trong ba
thứ phước được giảng trong Quán kinh
cũng chỉ giống như lời khuyên ở đây mà
thôi. Người đời ngu si, chẳng trọng nhân quả,
hoặc có kẻ c̣n vọng ngôn bài bác không có nhân quả, chống
báng lời Phật răn dạy.
Bản Ngô dịch c̣n chép: “Chư
dục văng sanh A Di Đà Phật quốc giả, tuy bất
năng đại tinh tấn, thiền định, tŕ kinh
giới, đại yếu đương tác thiện” (Những
người muốn được sanh về cơi Phật A
Di Đà nếu chẳng thể đại tinh tấn, Thiền
Định, tŕ kinh giới th́ nói chung hăy nên làm lành). Cư
sĩ Bành Tế Thanh nói: “Thập
Thiện vốn là nghiệp để sanh cơi trời, nay
đem nhân duyên niệm Phật hồi hướng Cực
Lạc, tức là chuyển nghiệp sanh cơi trời thành Tịnh
nghiệp. V́ sao vậy? Người niệm Phật c̣n chuyển
được nghiệp ác, lẽ nào chẳng chuyển
được nghiệp sanh cơi trời?” V́ thế,
người tu Tịnh nghiệp phải tận hết sức
ḿnh hành thêm các điều thiện.
Như ta thường nghe nói “đới nghiệp văng sanh” (mang theo nghiệp
đi văng sanh) th́ cái nghiệp ấy chính là túc nghiệp. Những
ác nghiệp trong những đời trước chưa
tiêu hết hoàn toàn, nhưng do bổn nguyện của Phật
và diệu đức của việc tŕ danh nên được
đới nghiệp văng sanh, chẳng lọt vào đường
ác nữa (Nguyện thứ hai của A Di Đà Phật là: “Lai sanh ngă sát, thọ ngă pháp hóa… bất
phục cánh đọa ác thú” - Sanh vào cơi ta, được
ta giáo hóa… chẳng đọa trong đường ác nữa).
Như vậy, cái nghiệp được nói trong “đới nghiệp” chính là
túc nghiệp, chứ quyết chẳng phải là cái nghiệp
hiện hành. Như trong kinh Niết Bàn có nói người
đồ tể tên Quảng Ngạch buông con dao mổ xuống
th́ ngay lập tức thành Phật; ta thấy rằng để
thành Phật th́ phải buông bỏ được con dao mổ.
Nếu kẻ tu Tịnh Độ một mặt niệm Phật,
mặt khác lại làm ác; cứ tu Tịnh Độ kiểu
đó th́ quyết định chẳng thể văng sanh nổi!
Lại có kẻ cho rằng làm lành là thuộc về Nhân
Thiên thừa nên coi thường. Đời Đường, ngài Ô
Khoa thiền sư (tức Ô Sào thiền sư) dùng cách thổi
sợi lông trên vải để dạy đệ tử là
Hội Thông, đệ tử liền ngộ nhập. Ngài
dùng bài kệ “
Ông Bạch Cư Dị nghĩ hai câu ấy là cạn cợt,
coi việc thổi lông trên tấm vải mới là sâu xa. Ô
Sào thiền sư coi hai việc ấy b́nh đẳng
như nhau. Một kẻ mê, một người ngộ, xa
cách nhau một trời một vực. Nếu là người
căn cơ viên đốn th́ pháp nào cũng viên cả. Nhân
thiên thừa chính là Nhất Phật thừa, lẽ đâu
coi thường ư?
Điểm mầu nhiệm của Tịnh tông là ở chỗ
chiếu Chân đạt Tục. Nếu rộng hành các
điều lành th́ chẳng những tạo phước cho
xă hội hiện tại mà c̣n là trợ hạnh cho Tịnh
nghiệp nữa. Lại thêm tín nguyện sâu chắc, tŕ
danh hiệu Phật th́ kiêm cả tự lợi lẫn lợi
tha, thường vui sướng vô cực.
Hơn nữa, phẩm này giảng rộng về đời
trược ác khổ, tuy chỉ giảng bày rộng răi về
mặt sự tướng, nhưng thật đă hiển
bày trọn vẹn Nhất Tâm. Tâm nhơ uế ắt cơi
nhơ uế, tâm ác ắt sanh trong đường ác. Không
thứ nào chẳng do tự tâm biến hiện. Kinh đă
giảng rơ hai cơi tịnh - uế để ta biết mà
ưa thích hay chán nhàm. Sách Di Đà Yếu Giải viết:
“Sa Bà chính là do cái nhơ bẩn
trong tâm ḿnh cảm thành, theo đúng lư phải nên chán ĺa những
cái nhơ uế trong tâm ḿnh; Cực Lạc chính là những
cái thanh tịnh trong tâm ḿnh cảm thành, theo đúng lư phải
vui cầu những cái thanh tịnh trong tâm ḿnh. Đă chán uế th́ phải
bỏ đến rốt ráo không c̣n ǵ để bỏ nữa;
ưa tịnh th́ phải lấy
cho đến rốt ráo không c̣n ǵ để lấy
được nữa.
Sách Diệu Tông nói: ‘Lấy
và bỏ nếu đạt đến cùng cực th́
cũng hoàn toàn chẳng khác ǵ với không lấy bỏ’. Giả
sử chẳng từ Sự để lấy bỏ, lại
toan chẳng lấy, chẳng
bỏ th́ chính là chấp Lư phế Sự. Đă bỏ Sự
th́ Lư cũng chẳng trọn
vẹn. Nếu thấu hiểu toàn Sự là Chân th́ lấy
cũng là Lư mà bỏ cũng là Lư. Một lấy, một bỏ
không ǵ chẳng phải là pháp giới”.
Thuyết của sách Yếu Giải sự lư viên dung, khế
hợp khéo léo với Trung Đạo.
[1] Ỷ (綺) vốn có
nghĩa là những sợi tơ lụa nhiều màu đan
xen chằng chịt, ngoắt ngoéo, tạo thành vẻ rực
rỡ, bóng bảy.
[2] Khí (器) có nghĩa là vật
chất. Khí thế gian (hay c̣n gọi là khí giới: 器界) chính là thế giới vật chất,
như các cơi Phật, hư không vũ trụ, là chỗ
để chúng sanh nương tựa vào ḥng tồn tại.
[3] Năng y hữu t́nh: Chúng sanh (hữu
t́nh) nương tựa vào cơi nước để tồn
tại th́ gọi là Năng Y, c̣n cơi nước ấy
được gọi là Sở Y.