9. Viên măn thành tựu (圓
滿 成
就)
Phẩm thứ chín này có tên là Viên Măn Thành Tựu. Từ
phẩm thứ tư đến phẩm thứ tám đều
nói hạnh nguyện của Pháp Tạng Đại Sĩ lúc tu
nhân; từ phẩm này trở đi, kinh nói về quả
đức thành tựu. Nội dung phẩm này gồm ba phần:
- Phật khen ngợi Pháp Tạng nhân viên quả măn.
- A
- Thế Tôn đáp thẳng vào câu hỏi.
Chánh kinh:
佛 告 阿 難:法 藏 比 丘,修 菩 薩 行,積 功 累 德,無 量 無 邊。於 一 切 法,而 得 自 在。非 是 語 言 分 別 之 所 能 知。
Phật cáo A
- Pháp Tạng
tỳ-kheo tu Bồ Tát hạnh, tích công lũy đức, vô
lượng vô biên.
Ư nhất thiết pháp, nhi đắc
tự tại, phi thị ngữ ngôn phân biệt chi sở
năng tri.
Phật bảo
A
- Tỳ-kheo Pháp
Tạng tu Bồ Tát hạnh, tích công lũy đức vô
lượng vô biên, được tự tại trong hết
thảy pháp, chẳng thể dùng ngữ ngôn, phân biệt
để biết được nổi.
Giải:
Thế Tôn tổng kết phần kinh văn đă nói ở
phần trước, nồng nhiệt khen ngợi tỳ-kheo
Pháp Tạng tu đại hạnh của Phổ Hiền
Đại Sĩ, tích lũy vô lượng vô biên công đức.
“Ư nhất thiết pháp
nhi đắc tự tại” (Được tự tại
trong hết thảy pháp): Đức Thế Tôn tự xưng “ngă vi pháp vương, ư pháp tự
tại” (ta là pháp
vương, tự tại nơi pháp), nay Ngài dùng ngay câu này
để khen ngợi Pháp Tạng trong lúc tu nhân th́ thật
là một lời khen ngợi tột bực.
“Nhất thiết tự tại” là hết thảy
vô ngại, cũng có nghĩa là hết thảy thành tựu
trọn vẹn. Thành tựu viên măn dung thông vô ngại mới
gọi là “tự tại”.
Ngoài ra, thánh hiệu Quán Tự Tại Bồ Tát cũng ngầm
nêu huyền chỉ sâu kín sau: “Tự”
là tự tánh, tự tâm. Quán Tự Tại là thấy rành rẽ
cái tánh, thấy rành rẽ cái tâm, đấy chính là “thậm thâm Bát Nhă” nên có thể
chiếu phá Ngũ Uẩn, thoát khỏi hết thảy khổ
ách. Đây cũng chính là “ư nhất
thiết pháp nhi đắc tự tại” (được
tự tại nơi hết thảy pháp). Đó là v́ lấy tự
tại làm nhân, rồi vẫn lấy tự tại làm quả:
Nhân quả đồng thời chẳng thể nghĩ bàn!
Sách Hội Sớ lại giải thích như sau: “Nay bảo ‘ư nhất thiết
pháp nhi đắc tự tại’ th́ chính là thành tựu Phật
quả của đức Thế Tự Tại Vương
Phật. ‘Nhất thiết pháp’ chính là pháp bốn
mươi tám nguyện, tức là: Pháp trang nghiêm Tịnh Độ,
pháp nhiếp thủ chúng sanh, pháp trang nghiêm Pháp Thân v.v…” Ư
nói: Bốn mươi tám nguyện của ngài Pháp Tạng
thảy đều viên măn; hết thảy các pháp được
thâu tóm trong các nguyện ấy đều đă viên dung vô ngại,
thành tựu được Quả Giác của Thế Gian Tự
Tại Vương Phật nên bảo là “nhất thiết tự tại” (hết thảy tự
tại).
Đối với kinh này, cư sĩ Bành Tế Thanh đời
Thanh có những kiến giải thật sâu sắc, tôi xin dẫn
giản lược như sau: “Ngài
Pháp Tạng dùng vô lượng tâm phát vô lượng nguyện,
khởi vô lượng hạnh, không hạnh nào chẳng
tương xứng Chân Như pháp giới. Chúng sanh vô lượng,
cơi nước vô lượng, Bồ Tát tùy thuận chúng
sanh trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết
na-do-tha kiếp nhập bất khả thuyết bất khả
thuyết hằng sa cơi Phật, đều dùng vô lượng
hạnh hải để nghiêm tịnh những cơi ấy.
V́ sao vậy? V́ pháp giới vốn vô lượng vậy.
Nghiêm tịnh vô lượng cơi Phật, độ thoát vô
lượng chúng sanh như vậy, nhưng thật chẳng
có cơi Phật để nghiêm tịnh, cũng chẳng có
chúng sanh để độ. V́ sao thế? V́ pháp giới
chính là phi pháp giới nên Bi và Trí cùng dung hội, Lư Sự vô
ngại. Do vậy có thể tự tại trong hết thảy
các pháp”.
Hai thuyết vừa dẫn trên thật khéo bổ sung lẫn
nhau.
“Phi thị ngữ ngôn phân biệt
chi sở năng tri” (Chẳng thể
dùng ngữ ngôn, phân biệt để biết được
nổi): Một câu này quả thật là kim cang vương
bảo kiếm, chặt phăng hết sạch những
suy lường, kiến giải của chúng sanh. Câu này và
câu “thị pháp phi tư lượng
phân biệt chi sở năng giải” (pháp này chẳng thể
do suy lường, phân biệt mà hiểu được nổi)
trong kinh Pháp Hoa thật chỉ là một, một vị, một
âm, giống hệt nhau chẳng khác. Đây chẳng phải là
điều trùng hợp ngẫu nhiên mà thật chính là do thể
tánh của hai câu tương đồng.
V́ vậy, tiếp theo đây, tôi sẽ dẫn kinh Pháp
Hoa để soi sáng ư nghĩa kinh này. Kinh Pháp Hoa nói:
“Chư Phật tùy nghi thuyết
pháp, ư thú nan giải. Sở dĩ giả hà?
Ngă dĩ vô số phương tiện, chủng chủng
nhân duyên, thí dụ, ngôn từ, diễn thuyết chư pháp. Thị pháp phi tư
lượng phân biệt chi sở năng giải. Duy
hữu chư Phật, năi năng tri chi.
Sở dĩ giả hà? Chư Phật Thế Tôn, duy dĩ
nhất đại sự nhân duyên cố, xuất hiện
ư thế.
Xá Lợi Phất! Vân hà danh chư
Phật Thế Tôn, duy dĩ nhất đại sự nhân
duyên cố, xuất hiện ư thế? Chư Phật Thế
Tôn dục linh chúng sanh khai Phật tri kiến, sử đắc
thanh tịnh cố, xuất hiện ư thế, dục thị
chúng sanh Phật chi tri kiến cố, xuất hiện ư
thế, dục linh chúng sanh ngộ Phật tri kiến cố,
xuất hiện ư thế, dục linh chúng sanh nhập Phật
tri kiến đạo cố, xuất hiện ư thế.
Xá Lợi Phất! Thị vi chư
Phật dĩ nhất đại sự nhân duyên cố, xuất
hiện ư thế”
(Chư Phật
thuận theo cơ nghi thuyết pháp, ư nghĩa khó thể hiểu
nổi. V́ cớ sao vậy? Ta dùng vô số
phương tiện, các thứ nhân duyên, thí dụ, lời
lẽ, để diễn thuyết các pháp. Pháp ấy chẳng
thể dùng suy lường, phân biệt để hiểu
được nổi, chỉ có chư Phật mới biết
được thôi. V́ cớ sao thế? Chư Phật Thế
Tôn chỉ v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện
trong cơi đời.
Này Xá Lợi Phất! Thế nào là chư Phật Thế
Tôn chỉ v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện
trong cơi đời? Chư Phật Thế Tôn muốn khiến
cho chúng sanh khai Phật tri kiến, khiến cho họ
được thanh tịnh nên xuất hiện trong đời;
muốn chỉ bày tri kiến của Phật cho chúng sanh nên
xuất hiện trong đời; muốn cho chúng sanh ngộ
được tri kiến của Phật nên xuất hiện
trong đời; muốn cho chúng sanh chứng nhập
được đạo tri kiến của Phật nên xuất
hiện trong đời.
Này Xá Lợi Phất! Đấy là chư Phật Thế
Tôn v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện
trong đời).
Đoạn kinh trên nói rơ: Chư Phật chỉ v́ một
đại sự nhân duyên là “khai, thị, ngộ, nhập
tri kiến của Phật” mà xuất hiện trong đời.
Điều Phật khai thị chính là tri kiến của Phật,
nên chỉ có Phật với Phật mới có thể thật
sự hiểu rơ. Chúng sanh vướng trong t́nh chấp, kiến
giải, khởi tâm động niệm đều là vọng
tưởng phân biệt, nên Phật tuy dùng đủ các thí
dụ, lời lẽ để giải thích, nhưng chúng
sanh đối với tri kiến của Phật vẫn
như điếc, như đui, chẳng thể thật sự
thấu hiểu.
Kinh Viên Giác nói: “Vị xuất
luân hồi, nhi biện Viên Giác, bỉ Viên Giác tánh, tức
đồng lưu chuyển” (Chưa thoát
được luân hồi mà bàn đến Viên Giác th́ cái
tánh Viên Giác đó cũng chỉ là lưu chuyển). Câu kinh
này chỉ rơ: Chẳng thể dùng phân biệt, so lường
để hiểu nổi Viên Giác. Ngài Nam Tuyền bảo: “Thuyết tác Như Như, tảo
biến liễu dă” (Hễ nói ra cái Như Như th́ ư
nghĩa chân thật của nó đă sớm bị biến mất
rồi). V́ vậy, “phi
thị ngữ ngôn phân biệt chi sở năng tri” (chẳng thể dùng ngữ
ngôn, phân biệt để biết được nổi).
Rơ ràng, với một đại sự này ngôn ngữ bặt
dứt, tâm hành lặng bặt.
Quả Giác của ngài Pháp Tạng thật chẳng thể
dùng lời lẽ nào để có thể diễn tả nổi,
chẳng thể dùng cái tâm sanh diệt của chúng sanh để
suy xét, phân biệt mà thấu hiểu được nổi.
C̣n đối với phàm phu th́ dẫu nói năng cũng chẳng
thể biết được, không nói năng cũng chẳng
thể biết được, phân biệt cũng không thể
biết được, không phân biệt lại càng không thể
biết được! Diệu quả Pháp Thân cứu cánh
của ngài Pháp Tạng chỉ có Như Như với
Như Như trí mới có thể lănh hội được
nên phàm t́nh làm sao suy thấu cho được!
Chánh kinh:
所 發 誓 願 圓 滿 成 就,如 實 安 住,具 足 莊 嚴、威 德 廣 大、清 淨 佛 土。
Sở phát thệ nguyện
viên măn thành tựu, như thật an trụ, cụ túc trang
nghiêm, oai đức quảng đại, thanh tịnh Phật
độ.
Thành tựu viên
măn thệ nguyện đă phát, như thật an trụ
đầy đủ trang nghiêm, oai đức rộng lớn
thanh tịnh cơi Phật.
Giải:
“Viên măn” là đầy
đủ những điều tốt đẹp, kỳ diệu
một cách trọn vẹn. Trong sách Pháp Hoa Luận Sớ,
ngài Gia Tường giảng chữ “thành tựu” như sau:
“Đầy đủ không sót ǵ, chẳng
thể phá hoại nên bảo là thành tựu”. Sách Văng Sanh
Luận Chú cũng bảo: “Nương
vào bốn mươi tám bổn nguyện của Pháp Tạng
Bồ Tát nên nay A Di Đà Phật thần lực tự tại,
nguyện phát sanh lực, lực đáp ứng nguyện,
nguyện chẳng luống uổng, lực chẳng dối
bày, lực và nguyện hỗ trợ nhau rốt ráo chẳng
sai chạy nên bảo là thành tựu”.
Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến
Phát cũng có nói: “Nhược
thiện nam tử, thiện nữ nhân, thành tựu tứ
pháp, ư Như Lai diệt hậu, đương đắc
thị Pháp Hoa kinh. Nhất giả, vị chư
Phật hộ niệm. Nhị giả, thực chúng đức
bổn. Tam giả, nhập Chánh Định Tụ. Tứ
giả, phát cứu nhất thiết chúng sanh chi tâm” (Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân
thành tựu bốn pháp th́ sau khi đức Như Lai diệt
độ sẽ được kinh Pháp Hoa này: Một là
được chư Phật hộ niệm, hai là trồng
các cội đức, ba là nhập Chánh Định Tụ,
bốn là phát tâm cứu hết thảy chúng sanh).
Kinh Pháp Hoa nói thành tựu bốn pháp sẽ được
nghe hiểu kinh Pháp Hoa, c̣n trong kinh này, hết thảy thệ
nguyện của Pháp Tạng Đại Sĩ đều đă
viên măn thành tựu nên Ngài được “như thật an trụ, cụ túc trang nghiêm, oai
đức quảng đại, thanh tịnh Phật độ”
(đầy đủ trang nghiêm, oai đức rộng lớn,
cơi Phật thanh tịnh).
“Thật” (實) là chân thật, cũng chính là Thật
Tướng, Chân Như hay Pháp Thân. “Như thật an trụ” là an trụ một cách
chân thật nơi Chân Thật Tế. Nói giản dị là
an trụ trong Thật Tướng của các pháp. Thật
Tướng chính là cái Thể của bản kinh này. Thật
Tướng cũng chính là Chân Như nên Chân Như chính là
Như Như. Nói như kinh Kim Cang th́ “như thật an trụ” chính là “như như bất động”.
Thật Tướng lại chính là Pháp Thân như Văng
Sanh Luận Chú bảo: “Nếu
bàn đến việc quán sát sự thành tựu công đức
trang nghiêm cơi Phật, sự thành tựu công đức trang
nghiêm của Phật, sự thành tựu công đức trang
nghiêm của Bồ Tát, th́ nên biết rằng ba thứ thành
tựu nguyện tâm trang nghiêm ấy có thể nói gọn là
nằm trọn trong một pháp cú. Một pháp cú là thanh tịnh cú. Thanh tịnh cú
chính là chân thật trí huệ vô vi Pháp Thân”.
Câu “như thật an trụ”
trong kinh đây ư nói an trụ nơi chân thật trí huệ
vô vi Pháp Thân, nên “như thật
an trụ” gói gọn trong một thanh tịnh cú. Sự
thanh tịnh ấy gồm có hai thứ thanh tịnh: Một
là khí thế gian thanh tịnh, hai là chúng sanh thế gian thanh
tịnh. Một pháp cú gồm trọn cả hai thứ thanh
tịnh và ba thứ trang nghiêm nên bảo là “cụ túc trang nghiêm” (đầy đủ trang
nghiêm). Văng Sanh Luận Chú bảo: “Sự trang nghiêm ấy dẫu cho Tỳ Thủ Yết
Ma - kẻ được khen là khéo tay tột bực - dốc
ḷng nghiền ngẫm cũng chẳng thể phác họa nổi
(Tỳ Thủ Yết Ma là tên của một vị Thiên Đế.
Ông này rất khéo tay, khéo biến hóa, giỏi kiến trúc).
Năng Sanh (cái làm chủ thể phát sanh ra, ở đây là
nguyện tâm vi diệu của Phật Di Đà) đă tịnh
th́ Sở Sanh (cái được phát sanh ra, tức là cơi Cực
Lạc....) sao lại chẳng tịnh? V́ vậy, kinh bảo:
“Tùy kỳ tâm tịnh, tắc
Phật độ tịnh” (Hễ tâm tịnh th́ cơi Phật
tịnh).
“Oai đức”: Đáng kiêng nể
là Oai (威), đáng tôn trọng, yêu mến là Đức (德). Sách Sớ Giải
kinh Pháp Hoa của ngài Gia Tường ghi: “Dè nể là Oai, yêu mến là Đức. Lại nữa,
chiết phục là Oai, nhiếp thọ là Đức”.
Sách Thám Huyền Kư giảng chữ “quảng đại” (rộng lớn) như sau: “Đại nghĩa là bao dung, Quảng
là thể đến tột bực (bản thể viên
măn đến cùng cực), diệu
dụng trùm khắp”.
Ngoài ra, “Quảng Đại Hội”
chính là một danh hiệu khác của Phật A Di Đà. Do hội
tụ tất cả những đức quảng đại
nên Ngài có danh hiệu này. Mười phương chúng sanh
sanh về Cực Lạc, pháp hội lớn lao, thánh chúng vô
lượng, toàn là do cái đức vời vợi của
Phật Di Đà cảm nên. Ở đây, kinh nói “quảng đại” chính là để diễn tả
cái đức ấy.
“Thanh tịnh Phật độ”
(Cơi
Phật thanh tịnh): Phẩm mười một trong kinh
Vô Lượng Thọ đây có nói thế giới Cực Lạc
“thanh tịnh trang nghiêm siêu du thập
phương” (thanh tịnh trang nghiêm vượt trội
mười phương), bản Hán dịch c̣n bảo A Di
Đà Phật là Vô Lượng Thanh Tịnh Phật, hoặc là
Vô Lượng Thanh Tịnh Giác. Cực Lạc là từ chân
tâm đức Như Lai hiện ra, do tự tánh thanh tịnh
cảm thành nên Cực Lạc phải thanh tịnh vô lượng.
Hơn nữa, Cực Lạc thế giới chính là tên
gọi khác của Mật Nghiêm thế giới và Hoa Tạng
thế giới. Kinh Đại Thừa Mật Nghiêm bảo: Đại
Nhật Như Lai “y tùng Nan
Tư Định, hiện ư chúng diệu sắc, sắc
tướng vô hữu biên, phi dư sở năng kiến,
Cực Lạc trang nghiêm quốc, Thế Tôn Vô Lượng
Thọ” (từ Nan Tư
Định hiện ra cơi Cực Lạc trang nghiêm, các thứ
sắc nhiệm mầu, sắc tướng chẳng có hạn
lượng, chưa từng thấy cơi nước nào khác
được như vậy, Phật [trong cơi ấy] hiệu
Vô Lượng Thọ). Kinh
dạy rơ Đại Nhật Như Lai trụ trong nan tư diệu
định, từ trong Định hiện ra cơi Cực Lạc
và Vô Lượng Thọ Phật. Như vậy, Đại Nhật
chính là Di Đà, Mật Nghiêm chính là Cực Lạc.
Kinh c̣n nói: “Mật Nghiêm Tịnh
Độ siêu chư Phật quốc, như vô vi tánh, bất
đồng vi trần” (Cơi Tịnh Độ Mật Nghiêm
vượt hơn các cơi Phật, như tánh của vô vi, chẳng
do vi trần hợp thành). Sách Mật Nghiêm Pháp Tạng Sớ
cũng ghi: “Mật
Nghiêm Tịnh Độ giả, tức thị chư Phật
Tha Thọ Dụng độ” (Mật Nghiêm
chính là cơi Tha Thọ Dụng của chư Phật) và: “Kim thử Mật Nghiêm, đản
ư thanh tịnh Như Lai tạng tâm chi sở hiện” (Nay
cơi Mật Nghiêm này chỉ là do Như Lai tạng tâm thanh tịnh
biến hiện). Sách Văng Sanh Luận lại bảo: “Lấy chuyên tâm niệm Phật
phát nguyện sanh cơi ấy th́ chứng nhập được
Hoa Tạng thế giới”. Kinh Kim Cang Đảnh cũng dạy:
“Duy thử Phật sát, tận
dĩ Kim Cang tự tánh thanh tịnh sở thành, Mật Nghiêm
Hoa Tạng” (Chỉ có cơi Phật này hoàn toàn do kim cang tự
tánh thanh tịnh hóa thành, [đó là cơi] Mật Nghiêm Hoa Tạng). Như vậy, Cực
Lạc chính là Mật Nghiêm hay Hoa Tạng, đều từ
Như Lai tạng tâm thanh tịnh biến hiện, do kim cang
tự tánh thanh tịnh tạo thành. Do vậy, cơi ấy “thanh tịnh trang nghiêm siêu du thập
phương” (thanh tịnh trang nghiêm vượt trội
mười phương) nên mới bảo là “oai đức quảng đại,
thanh tịnh Phật độ” (oai đức rộng lớn,
cơi Phật thanh tịnh).
Chánh kinh:
阿 難 聞 佛 所 說,白 世 尊 言:法 藏 菩 薩 成 菩 提 者,為 是 過 去 佛 耶?未 來 佛 耶?為 今 現 在 他 方 世 界 耶?
世 尊 告 言:彼 佛 如 來,來 無 所 來,去 無 所 去,無 生 無 滅,非 過 現 未 來。但 以 酬 願 度 生,現 在 西 方,去 閻 浮 提 百 千 俱 胝 那 由 他 佛 剎,有 世 界 名 曰 極 樂。法 藏 成 佛,號 阿 彌 陀。成 佛 以 來,於 今 十 劫。今 現 在 說 法。有 無 量 無 數 菩 薩 聲 聞 之 眾,恭 敬 圍 繞。
A
- Pháp Tạng Bồ Tát thành Bồ
Đề giả, vi thị quá khứ Phật
da? Vị lai Phật da? Vi kim
hiện tại tha phương thế giới da?
Thế Tôn cáo ngôn:
- Bỉ Phật
Như Lai, lai vô sở lai, khứ vô sở khứ, vô sanh, vô
diệt, phi quá hiện vị lai. Đản dĩ thù nguyện độ
sanh, hiện tại Tây Phương, khứ Diêm Phù Đề
bách thiên câu-chi na-do-tha Phật sát, hữu thế giới
danh viết Cực Lạc. Pháp Tạng thành Phật, hiệu
A Di Đà. Thành Phật dĩ lai, ư kim
thập kiếp. Kim hiện tại thuyết pháp, hữu vô
lượng vô số Bồ Tát, Thanh Văn chi chúng, cung kính vi nhiễu.
A
- Pháp Tạng Bồ
Tát thành Bồ Đề th́ thành Phật trong quá khứ hay là Phật
trong vị lai, hay là hiện đang ở thế giới
phương khác?
Thế Tôn bảo
rằng:
- Đức Như
Lai ấy không từ đâu đến, chẳng đi về
đâu, vô sanh, vô diệt, chẳng phải là quá khứ, hiện
tại, vị lai, chỉ v́ đáp tạ cái nguyện độ
sanh nên hiện ở Tây phương. Cách Diêm Phù Đề
trăm ngàn câu-chi na-do-tha cơi Phật, có một thế giới
tên là Cực Lạc, Pháp Tạng thành Phật hiệu là A Di
Đà. Từ khi Ngài thành Phật đến nay đă là mười
kiếp, nay hiện tại thuyết pháp, có vô lượng
vô số Bồ Tát, Thanh Văn chúng cung kính vây quanh.
Giải:
A
Thế Tôn bảo A Nan rằng: “Bỉ Phật Như Lai, lai vô sở lai,
khứ vô sở khứ” (Đức Phật
Như Lai ấy không từ đâu đến, chẳng
đi về đâu), câu này cùng một ư nghĩa với câu
kinh Kim Cang: “Như Lai giả, vô
sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như
Lai” (Như Lai là chẳng từ đâu đến,
cũng chẳng đi về đâu, nên gọi là Như
Lai). Trong sách Kim Cang Phá Không Luận, Linh Phong đại
sư giải thích như sau:
“Do Chân Như chẳng phải
ở chỗ nào khác nên từ đấy mà đến, sanh
tử không phải là chốn nào khác nên từ đây mà
đi. Do vậy, có duyên th́ hiện, như nước trong
th́ trăng hiện, mặt trăng thật sự chẳng
vào trong nước. Duyên hết liền ẩn, ví như
nước đục trăng biến mất, trăng thật
sự chẳng bỏ đi”.
Ta cũng có thể dùng ngay lời giảng trên để
giải thích ư đoạn kinh này: Pháp Thân của Như Lai
hiện diện khắp nơi nên chẳng thể bảo
là Pháp Thân đến từ chỗ nào hay Pháp Thân đi về
đâu! V́ hết thảy mọi chốn đều là tự
tánh Pháp Thân vậy. Chỉ là gặp duyên th́ hiện có đến
đi, nên kinh mới nói: “Đản
dĩ thù nguyện độ sanh, hiện tại Tây
Phương” (Chỉ v́ đáp tạ cái nguyện độ
sanh nên hiện ở Tây phương). Phật bảo “lai vô sở lai, khứ vô sở
khứ” (chẳng từ đâu đến, chẳng
đi về đâu) là để đáp lời hỏi về
quốc giới, đấy là nói về mặt không gian, ngụ
ư: Mười phương hư không chẳng rời khỏi
ngay nơi chốn đang nói.
Kế đến, Ngài trả lời về thời gian
như sau: “Vô sanh, vô diệt, phi quá hiện
vị lai” (Vô sanh, vô diệt, chẳng phải
quá khứ, hiện tại, vị lai). Kinh Niết Bàn nói: “
“Phi quá hiện
vị lai” (Chẳng phải
quá khứ, hiện tại, vị lai) nghĩa là thời
gian có quá khứ, hiện tại, vị lai, vọng niệm
tiếp nối. Niệm trước đă diệt là quá khứ,
niệm sau nẩy sanh là vị lai. Hễ vọng niệm
chẳng sanh th́ cũng chẳng diệt, nên thời gian
đâu có quá khứ, vị lai! Hiện tại niệm niệm
chẳng trụ, nên chẳng có hiện tại. Hơn nữa,
chẳng có quá khứ, vị lai, làm sao có hiện tại? V́
vậy, kinh Kim Cang nói: “Quá khứ
tâm
bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả
đắc, vị lai tâm bất khả đắc” (Tâm quá khứ chẳng thể được,
tâm hiện tại chẳng thể được, tâm vị
lai chẳng thể được).
Thêm nữa, câu cuối cùng của sách Tín Tâm Minh là: “Không quá khứ, vị lai, hiện
tại”. Rơ ràng, tam thế cổ kim chẳng ngoài cái niệm
ngay hiện tại.
Trên đây là nói về Lư Thể của Pháp Thân, về
Chân Thật Tế; tiếp đó phải nói đến
phương tiện phổ độ, cái lợi chân thật.
Lư chẳng ngại Sự, Tịch mà thường Chiếu,
bi tâm vô tận, ứng hóa độ sanh. Do vậy, kinh chép:
“Đản dĩ thù nguyện
độ sanh, hiện tại Tây Phương” (Chỉ v́ đáp tạ cái nguyện độ
sanh nên hiện ở phương Tây). “Thù” (酬) báo đáp. Nói nôm na, “thù nguyện” nghĩa là thực
hiện bổn nguyện. “Nguyện”
chỉ cho bốn mươi tám nguyện đă phát khi tu
nhân. Nay đă thành Phật th́ với ba thứ trang nghiêm
như vô lượng quang, vô lượng thọ v.v... không
điều nào chẳng thực hiện. Mỗi một nguyện
trong bốn mươi tám nguyện đều v́ Pháp Thân nên
nay thành tựu ba thân: Pháp, Báo, Ứng. Hơn nữa, mỗi
một nguyện đều để độ sanh, nên tất
nhiên phải “thù nguyện độ
sanh” (đáp tạ cái nguyện độ sanh).
“Hiện” (現) là hiện tại,
cũng có nghĩa là thị hiện. Phật thân hiện diện
khắp mọi nơi. Thân và cơi chẳng hai nên cơi Phật
cũng hiện khắp mọi nơi. Nói là ở Tây
phương th́ đó cũng chỉ là thị hiện
như phẩm Thọ Lượng của kinh Pháp Hoa đă
bảo: “Nhược
hữu chúng sanh lai chí ngă sở. Ngă dĩ Phật nhăn, quán kỳ
tín đẳng, chư căn lợi độn, tùy kỳ
ưng độ, xứ xứ tự thuyết, danh tự
bất đồng, niên kỷ đại tiểu, diệc
phục hiện ngôn, đương nhập Niết Bàn. Hựu
dĩ chủng chủng phương tiện thuyết vi diệu
pháp, năng linh chúng sanh phát hoan hỷ tâm” (Nếu có chúng sanh đến chỗ ta, ta dùng
Phật nhăn quán sát các căn: Tín v.v... của kẻ ấy
là lợi hay độn. Tùy theo [căn tánh] nên dùng pháp nào
để hóa độ mà nơi nơi ta tự nói những
danh hiệu sai khác, niên kỷ nhiều ít, lại c̣n thị
hiện nói ‘sẽ nhập Niết Bàn’. Lại dùng các thứ
phương tiện thuyết pháp vi diệu khiến cho
chúng sanh sanh ḷng hoan hỷ).
Kinh đây nói “hiện tại
Tây Phương” (hiện ở phương Tây) chính là “tùy theo [căn tánh] nên dùng pháp nào
để hóa độ... phương tiện thuyết
pháp vi diệu” vậy. Đây chính là phương tiện thù
thắng: “Chỉ phương
lập tướng, ngay nơi Sự chính là Chân”. Thiện
Đạo đại sư đă phân tích tại sao phải lập
phương tiện ấy như sau: Chúng sanh cơi Sa Bà vọng
tâm bạo động. Chỉ phương lập tướng
c̣n chưa thể chuyên chú nổi, huống là không có
phương, chẳng có tướng? Sách Thượng Đô
Nghi cũng nói: “Để quy mạng
Tam Bảo cần phải chỉ phương, lập
tướng. Trụ tâm giữ cảnh ḥng kềm giữ
tâm phàm c̣n chẳng xong, huống là ly tướng?”
“Khứ Diêm Phù Đề bách
thiên câu-chi na-do-tha Phật sát, hữu thế giới danh viết
Cực Lạc” (Cách Diêm Phù Đề
trăm ngàn câu-chi na-do-tha cơi Phật có thế giới tên là
Cực Lạc): Câu này trích từ bản Tống dịch, bản
Ngụy dịch ghi là mười vạn ức cơi, bản
Đường dịch ghi mười vạn ức cơi Phật.
Kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ
cũng ghi giống như bản Tống dịch. Kinh A Di
Đà ghi giống hai bản Đường và Ngụy dịch. Các
bản dịch ghi sai khác là v́ hai nguyên nhân:
1. Một là như kinh Pháp Hoa dạy: Thuận theo
căn khí của chúng sanh nên nói danh hiệu sai khác, tuổi
tác nhiều ít. V́ vậy, khoảng cách giữa hai cơi
cũng sai khác. Thật sự, cả Cực Lạc lẫn
Sa Bà đều khắp mọi nơi, chứa đựng
lẫn nhau, vốn chẳng cách nào nói nổi khoảng cách.
2. Hai là những con số như ức, na-do-tha, câu-chi
cũng lớn nhỏ bất nhất. Có bốn cách hiểu
chữ Ức: mười vạn, trăm vạn, ngàn vạn,
vạn vạn. Câu-chi được dịch là Ức nên
Câu-chi có thể là mười vạn, trăm vạn, ngàn vạn
hoặc vạn vạn, nhưng chỉ có ba loại trước
là thường được dùng. Na-do-tha cũng có thể
hiểu là mười vạn, hoặc ngàn vạn hoặc
cũng có thể hiểu là mười vạn, quá nhiều
cách hiểu nên khó ḷng so sánh nổi.
Nếu bây giờ ta hiểu ức là một vạn vạn
th́ “mười vạn ức” là
mười vạn vạn vạn. (10 x 10.000 x 10.000 x 10.000 =
1013). Với con số trăm ngàn câu-chi na-do-tha, nếu hiểu
câu-chi và na-do-tha đều chỉ con số nhỏ nhất
trong bốn thuyết vừa nói trên th́ trăm ngàn câu-chi
na-do-tha là một ngàn vạn vạn vạn. Như vậy,
con số trăm ngàn câu-chi na-do-tha lớn gấp trăm lần
con số mười ức vạn nên ta chẳng thể hạn
cuộc trong số lượng được. Đối chiếu
các kinh, ta có thể suy luận rằng: Cực Lạc thế
giới tối thiểu cũng ngoài mười vạn vạn
ức tam thiên đại thiên thế giới (một tam
thiên đại thiên thế giới là một cơi Phật).
Phàm phu nghe vậy thường nghĩ cơi Cực Lạc
xa quá sợ ḿnh không thể đến nổi, đấy
thật là do bởi tâm lượng mê muội. Theo kinh
Lăng Nghiêm, mười phương hư không sanh trong tâm
ta như một phiến mây giữa tầng trời xanh bao
la, nào có xa xôi chi! V́ vậy, Quán kinh bảo: “A Di Đà Phật khứ thử bất viễn”
(A Di Đà Phật cách đây chẳng xa) bởi v́ cơi Cực Lạc
vốn ở trong tâm mỗi chúng sanh. Sách A Di Đà Sớ Sao
cũng nói: “Phân minh ngay trước
mắt nào xa xôi ǵ!” Lời đại sư Liên Tŕ thật
thấu triệt bổn nguyên vậy.
“Hữu thế giới danh viết
Cực Lạc” (Có thế giới
tên là Cực Lạc): Chữ “thế” (世) chỉ thời
gian, quá khứ, vị lai, hiện tại là tam thế; “giới” (界) là cương
giới, chỉ không gian, tức là bốn phương, bốn
góc, trên, dưới gọi chung là thập phương. Tính
gộp cả thời gian lẫn không gian nên gọi là “thế giới”.
“Bốn cơi là:
1. Một là Thường Tịch
Quang độ. Kinh nói: ‘Tỳ Lô Giá Na biến nhất thiết
xứ, kỳ Phật trụ xứ, danh Thường Tịch
Quang’ (Tỳ Lô Giá Na ở khắp hết thảy chỗ, chốn
đức Phật ngự tên là Thường Tịch Quang). Đấy là chỗ ở của hạng
người quả vị cao nhất .
2. Hai là Thật Báo Trang Nghiêm
độ, hành pháp chân thật, cảm báo thù thắng, bảy
báu trang nghiêm, có đủ ngũ trần tịnh diệu
nên c̣n gọi là Vô Chướng Ngại độ do Sắc
và Tâm chẳng hai, sợi lông và cơi nước chứa đựng
lẫn nhau. Bậc Pháp Thân Đại Sĩ ngự trong cơi này.
3. Ba là Phương Tiện
Hữu Dư độ: Đoạn được bốn
Trụ Hoặc, thuộc về phương tiện đạo,
vô minh chưa hết nên bảo là Hữu Dư, là chỗ
cư ngụ của thánh nhân trong tam thừa.
4. Bốn là Phàm Thánh Đồng
Cư độ là chỗ tứ thánh, lục phàm chung ở”.
Phàm là phàm phu, Thánh là thánh nhân. Thánh nhân ứng tích trong thế
gian, ở chung một chỗ với phàm phu nên bảo là
Phàm Thánh Đồng Cư.
Thế giới Sa Bà cũng là cơi Phàm Thánh Đồng Cư,
nhưng cơi này trược nặng, ác lắm, bất tịnh
ngập ngụa, gai, góc, ngói sạn, g̣ nổng, hầm hố,
nên là cơi Đồng Cư uế độ.
Cơi đồng cư Cực Lạc: Ao suối có nước
tám công đức, cây giát đầy bảy báu, sen báu tỏa
quang minh hiện Phật đầy ắp khắp cơi nước;
nước, chim, cây cối đều diễn thuyết diệu
pháp; các bậc thượng thiện nhân nhập Chánh Định
Tụ, vĩnh viễn thoát khỏi các khổ, chỉ
hưởng pháp lạc Đại Thừa. Đó là Đồng
Cư Tịnh Độ.
Hơn nữa, Cực Lạc Đồng Cư Tịnh Độ
viên minh vô ngại, lại thông với cả ba cơi trên: Thường
Tịch Quang... Sách Di Đà Sớ Sao bảo: “Do căn cơ sai khác, thấy biết cũng khác. Có
người ở trong cơi Đồng Cư mà thấy là cơi
Thường Tịch Quang; có người ở trong Đồng
Cư mà thấy là cơi Thật Báo; có người trong cơi Đồng
Cư mà thấy là cơi Phương Tiện; có người
trong cơi Đồng Cư chỉ thấy đó là cơi Đồng
Cư như kinh Tượng Pháp Quyết Nghi dạy: ‘Kim nhật
tọa
trung vô ương số chúng, hoặc kiến thử xứ
sơn lâm, địa thổ, sa lịch, hoặc kiến thất
bảo, hoặc kiến thị chư Phật hành xứ,
hoặc kiến tức thị bất tư nghị chư
pháp giới cảnh giới’ (Vô
ương số chúng đang hiện diện đây hoặc
thấy chốn này có núi rừng, đất đai, cát sỏi;
hoặc thấy bảy báu, hoặc thấy là hành xứ của
chư Phật, hoặc thấy chính là cảnh giới bất
tư nghị của chư Phật), đều là do
căn cơ nên thấy sai khác”.
V́ vậy, sách Di Đà Yếu Giải bảo: “Nay bảo Cực Lạc thế
giới chính là cơi Đồng Cư Tịnh Độ, nhưng nó
cũng gồm cả ba cơi Tịnh Độ trên” và: “Nay xét theo ba điều Tín, Nguyện,
Hạnh th́ danh hiệu Di Đà chẳng thể nghĩ bàn nên có
thể khiến cho phàm phu cảm được cơi Đồng
Cư Cực Lạc thanh tịnh tột bậc, mười
phương cơi Phật không đâu có được như
vậy, riêng ḿnh cơi Cực Lạc Đồng Cư độc
chiếm. Đấy mới là tông chỉ của Cực Lạc
Tịnh Độ”.
Do Di Đà Nhất Thừa nguyện hải, sáu chữ hồng
danh, vạn đức trang nghiêm, một câu thanh tịnh,
dùng một câu danh hiệu Di Đà tột bực thanh tịnh
chẳng thể nghĩ bàn làm chánh nhân nên tự nhiên cảm
được cơi nước Cực Lạc Đồng Cư
thanh tịnh tột bậc chẳng thể nghĩ bàn. Cơi Đồng
Cư Tịnh Độ của thế giới Cực Lạc
trỗi vượt thập phương nên chư tổ
thường bảo: “Điều
nhiệm mầu hàng đầu của Cực Lạc là cơi
Đồng Cư”.
“Pháp Tạng thành Phật, hiệu
A Di Đà”: Phần trên đă nói về cơi nước, đó là y
báo. Cơi nước là chỗ để thân nương vào
nên gọi là y báo. Phật là năng y (chủ thể
nương tựa vào y báo) nên gọi là chánh báo. Phật có
ba thân:
1. Pháp Tánh Thân, gọi tắt là Pháp Thân, ngự trong
Thường Tịch Quang độ.
2. Báo Thân ngự trong Thật Báo Trang Nghiêm độ.
3. Ứng Hóa Thân thường hiện trong các cơi
Phương Tiện Hữu Dư, Phàm Thánh Đồng Cư...
Ba thân này của đức Phật thật chẳng phải
một, chẳng phải ba, lại là ba, cũng là một,
như ba chấm trong chữ Y (\), chẳng ngang, chẳng dọc, chẳng
cùng, chẳng khác, chẳng thể nghĩ bàn.
Thân ứng hóa lại có hai thứ: Một là “thị sanh hóa thân” tức là
thân thị hiện tám tướng thành đạo; hai là “ứng hiện hóa thân” tức
là ứng theo căn cơ chúng sanh mà thị hiện thân thắng
ứng hoặc thân liệt ứng. Hóa Thân c̣n có thể phân
chia như sau:
1. Phật giới hóa thân: Thân hiện trong Phật
giới.
2. Tùy loại hóa thân: Theo từng loại trong cửu
giới mà hiện thân.
Sách Di Đà Yếu Giải nói: “A
Di Đà Phật nói ở đây chính là chỉ thân Phật trong
cơi Đồng Cư, là thị sanh hóa thân, nhưng cũng chính
là Pháp Thân, Báo Thân vậy”. Ư nói: Đức Phật hiện
đang thuyết pháp đây chính là thân hiện trong cơi Đồng
Cư, đó là thị sanh hóa thân Phật. Đồng thời,
thân ấy cũng chính là Báo Thân và Pháp Thân Phật. Thuyết
này thật tinh diệu.
Sách Viên Trung Sao bảo: “Tùy
theo cơi nước nên cảm được cái thấy có
ba thân sai khác. Do căn cơ nên cảm thấy được
bốn cơi bất đồng”. V́ vậy, nếu ở
trong cơi Đồng Cư mà chỉ thấy được
đó là cơi Đồng Cư th́ vị Phật thuyết pháp cho
ḿnh chỉ là thị sanh hóa Phật. Nếu thấy đó
là Thật Báo th́ đó là Báo Thân Phật. Nếu thấy là
cơi Thường Tịch Quang th́ Ngài là Pháp Thân Phật.
Ba thân của Phật ví như ba thứ sau đây của
ma-ni bảo châu: Bản thân viên châu, ánh sáng do châu tỏa ra,
ánh sáng châu chiếu rọi lại chính bản thân viên châu;
ba thứ này chẳng hề rời nhau. Ba thân Pháp, Báo, Ứng
cũng giống như vậy. Cơi Đồng Cư thông cả
ba cơi trên cũng như vậy: Ba cơi trên ở ngay trong cơi Đồng
Cư. V́ vậy, văng sanh Đồng Cư công đức thù thắng
chẳng thể nghĩ bàn.
Hơn nữa, A Di Đà Phật chính là Tỳ Lô Giá Na
Như Lai như A Di Đà Kinh Sớ Sao viết: “Bậc trí giác bảo: ‘Trong Tổng
Tŕ giáo (Mật giáo) nói ba
mươi bảy vị Phật đều từ một
đức Tỳ Lô Giá Na Phật hiện ra, nghĩa là:
Đức Giá Na từ trong nội tâm chứng Tự Thọ
Dụng thành Ngũ Trí, tự đặt Pháp Giới Thanh Tịnh
Trí ở trung ương, rồi từ bốn trí kia lưu
xuất ra các vị Như Lai ở bốn phương: Diệu
Quán Sát Trí lưu xuất Vô Lượng Thọ Như Lai ở
Tây Phương Cực Lạc thế giới’; tức là một đức Phật kiêm cả hai cơi”. Do Phật
Di Đà chính là Phật Tỳ Lô nên bảo “một đức Phật”. Chữ “cơi” chỉ cơi Phật. “Hai cơi” tức là Hoa Tạng và
Cực Lạc. “Kiêm”
nghĩa là kiêm lănh, tức là một đức Phật cai
quản cả hai cơi Tịnh Độ.
Hơn nữa, Đông Mật (Mật tông Nhật Bản)
cũng bảo A Di Đà Như Lai chính là Đại Nhật Như
Lai. Hưng Giáo đại sư ở Nhật viết trong
cuốn A Di Đà Bí Thích như sau:
“Một là Vô Lượng Thọ:
Pháp Thân Như Lai ngự trong pháp giới cung, chẳng sanh
chẳng diệt. V́ vậy Đại Nhật Như Lai c̣n có
tên là Vô Lượng Thọ Phật.
Hai là Vô Lượng Quang: Trí
quang từ Diệu Quán Sát Trí của Pháp Thân Như Lai chiếu
khắp vô lượng chúng sanh, vô lượng thế giới,
luôn luôn ban cho lợi ích. V́ vậy, Đại Nhật Như
Lai c̣n gọi là Vô Lượng Quang Phật....” (Đại Nhật
chính là Phật Tỳ Lô).
Chữ A Di Đà có vô lượng nghĩa: Một là Vô
Lượng Thọ, hai là Vô Lượng Quang, ba là Cam Lộ
Vương.... Mật giáo dùng ba danh hiệu trên để lần
lượt biểu trưng ba thân Pháp, Báo, Hóa.
A Di Đà c̣n có thể dịch là Vô Lượng Trang Nghiêm,
Vô Lượng Thanh Tịnh v.v... Ngoài ra, mười hai danh
hiệu quang minh cũng đều là danh hiệu của Phật
cả. Hơn nữa, trong ba chữ A Di Đà, mỗi chữ lại
đủ cả vô lượng nghĩa. A nghĩa là vốn
bất sanh bất diệt nên là Không Đế, Di nghĩa là “ngô
ngă” (tôi, ta) nên Di là tùy duyên Giả Đế, Đà nghĩa là
Như nên là Trung Đế.
Sách A Di Đà Bí Thích cũng giảng:
“Chữ A nghĩa là nhất
tâm b́nh đẳng bổn sơ bất sanh. Chữ Di là nhất
tâm b́nh chẳng có Ngă lẫn Đại Ngă. Chữ Đà là nhất
tâm b́nh đẳng, chư pháp như như tịch tĩnh.
Hơn nữa, chữ A là Phật
Bộ thể hiện Lư Trí bất nhị, là thể tướng
của pháp giới. Chữ Di là Liên Hoa Bộ, là Diệu
Quán Sát Trí, chúng sanh và pháp hai thứ đều không, Thật
Tướng vốn chẳng nhiễm lục trần giống
như hoa sen. Chữ Đà là Kim Cang Bộ, là Như Lai diệu
trí, tự tánh kiên cố, có thể phá tan hết thảy oán
địch vọng tưởng.
Chữ A lại có nghĩa
là Không: Pháp thể của nhất tâm
pháp vốn chẳng có tướng hư vọng. Di
nghĩa là Giả Hữu: Nhất tâm b́nh đẳng,
chư pháp như huyễn, giả có. Chữ Đà nghĩa là
Trung Đạo: Nhất tâm b́nh đẳng các pháp ĺa nhị
biên, chẳng có tướng nhất định nào cả.
Chữ A c̣n có nghĩa là Hữu:
Thể tướng của nhất tâm vốn chẳng sanh
v́ chẳng diệt tận. Chữ Di nghĩa là Không: Các pháp
trong nhất tâm chẳng có pháp nào có tự tánh. Chữ Đà
nghĩa là Bất Không: Các pháp trong tự tâm vốn là công
đức của Pháp Thân v́ chẳng đoạn tuyệt.
Chữ A lại có nghĩa
là Nhân: Phật giới và chúng sanh do nhất tâm mà giác,
cũng do nhất tâm mà mê. Chữ Di nghĩa là Hạnh:
Đoạn nhân, pháp, nhị ngă, chứng được
sanh, pháp bất không, đạt đến quả Phật.
Chữ Đà nghĩa là Quả: Thể hiện bất nhị
nhất tâm, như như lư trí th́ chính là Phật quả vậy.
Các pháp môn sai biệt như
vậy là tướng trạng của danh tự, nhưng
các tướng danh tự như vậy lại chẳng có tướng nhất định.
Chúng giống như những hạt châu nơi lưới
Thiên Đế chẳng thể lấy, bỏ được,
nhất tâm b́nh đẳng nên bất khả đắc”.
Sách c̣n viết: “V́ vậy
xướng lên ba chữ A Di Đà diệt được trọng
tội từ vô thỉ. Niệm một vị Phật A Di
Đà thành tựu phước trí không cùng tận. Như một
hạt châu nơi lưới Thiên Đế hiện ngay vô tận
bảo châu, một đức A Di Đà Phật mau chóng viên măn
vô biên tánh đức”. Thuyết này của sách Bí Thích quả
đă mở toang kho tàng bí mật của chư Phật, hiển
thị thẳng thừng một pháp môn Tŕ Danh bao trọn
công đức của hết thảy các pháp. Chuyên niệm
Di Đà ắt mau chóng viên măn được vô biên diệu
đức sẵn có nơi tự tánh. Chân lư vi diệu trên
đây đă chỉ bày thẳng ngay tri kiến của Phật,
chỉ rơ pháp này chính là “pháp hy hữu,
hết thảy thế gian khó thể tin được nổi”.
Sách A Tự Quán lại viết: “Từ chữ A phát sanh hết thảy đà-ra-ni, từ
hết thảy đà-ra-ni sanh ra hết thảy Phật”.
Một chữ A trong danh hiệu Phật đă có công đức
như thế nên công đức của toàn danh hiệu Phật
thật chẳng thể nghĩ bàn. Điều này quả thật
quá hiển nhiên!
Câu “thành Phật dĩ lai, ư kim
thập kiếp” (thành Phật
đến nay đă mười kiếp) ngụ ư: Thành tựu
viên măn bốn mươi tám nguyện, thành Đẳng Chánh Giác
hiệu là A Di Đà Phật, từ lúc ngài Pháp Tạng thành Phật
cho đến khi đức Thích Ca giảng kinh này đă trải
qua mười kiếp. Cần chú ư rằng: Mười kiếp
được nói ở đây chính là thời gian Phật
v́ đáp ứng cái nguyện độ sanh nên thị hiện
sự tướng. Đây chỉ là nói một cách phương
tiện để ứng theo căn cơ, chứ thật
ra A Di Đà Phật thành Phật rất lâu. A Di Đà chính là Đại
Nhật Như Lai.
Phần trên, tôi đă từng dẫn kinh Đại Thừa
Mật Nghiêm; ở đây, tôi lại dẫn chứng ba
điều như sau:
1. Kinh Pháp Hoa, phẩm Hóa Thành Dụ có chép: “Năi văng quá khứ, vô lượng
vô biên, bất khả tư nghị A-tăng-kỳ kiếp,
nhĩ thời hữu Phật danh Đại Thông Trí Thắng
Như Lai” (Trong đời
quá khứ vô lượng vô biên chẳng thể nghĩ bàn
A-tăng-kỳ kiếp, lúc bấy giờ có vị Phật
hiệu Đại Thông Trí Thắng Như Lai) và “kỳ Phật vị xuất
gia thời, hữu thập lục tử” (lúc Phật chưa xuất gia có mười
sáu người con), “nhĩ thời,
thập lục vương tử, giai dĩ đồng tử
xuất gia, nhi vi Sa Di” (khi ấy,
mười sáu vương tử đều xuất gia từ
bé làm Sa Di), “ngă kim ngữ
nhữ, bỉ Phật đệ tử thập lục Sa
Di, kim giai đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề, ư thập phương quốc độ hiện
tại thuyết pháp…Tây Phương nhị Phật, nhất
danh A Di Đà… Đệ thập lục ngă Thích Ca Mâu Ni Phật,
ư Sa Bà quốc độ, thành A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề” (Ta nay bảo các
ngươi: ‘Mười sáu vị sa di đệ tử của
đức Phật ấy nay đều chứng Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, hiện đang thuyết pháp trong các
cơi nước mười phương.... Phương Tây
có hai vị Phật, một tên là A Di Đà... Người thứ
mười sáu là ta, Thích Ca Mâu Ni Phật, thành Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác trong cơi nước Sa Bà). Đoạn kinh
này chỉ rơ A Di Đà Phật là vị vương tử thứ
chín, Thích Ca Phật là vương tử thứ mười
sáu.
Đức Thích Ca thành Phật đến nay đă là vô
lượng kiếp như phẩm Thọ Lượng kinh
Pháp Hoa nói: “Nhĩ thời,
Phật cáo đại chúng Bồ Tát: -
Đức Thích Ca từ khi thành Phật ở Ấn Độ
đến nay đă hơn hai ngàn năm, thật là
phương tiện quyền xảo thị hiện nên Phật
Di Đà thành Phật ở cơi Cực Lạc “ư kim thập kiếp” (đến nay đă
mười kiếp) cũng giống vậy: Ngài thật sự
đă thành Phật từ rất lâu rồi.
2. Ngài Linh Chi viết trong sách Di Đà Kinh Sớ như sau: “Chương Thế Chí kinh
Lăng Nghiêm có nói: ‘Ngă ức văng tích Hằng hà sa kiếp, hữu
Phật xuất thế, danh Vô Lượng Quang. Thập nhị
Như Lai tương kế nhất kiếp’ (Con nhớ
trong hằng sa kiếp xưa kia, có Phật xuất thế
tên là Vô Lượng Quang. Mười hai vị Như Lai nối
tiếp xuất hiện trong một kiếp). Nếu dựa theo kinh Đại Bổn
(chỉ kinh Vô Lượng Thọ) th́ đấy chính là A Di Đà. Nay kinh này (chỉ kinh A
Di Đà) và Đại Bổn cùng nói là
mười kiếp, đó chỉ là lời nói nhằm thích
ứng căn cơ trong một lúc mà thôi, chẳng nên nệ
vào đó rồi nghi ngờ”.
Như vậy, Linh Chi đại sư dùng ngay câu hằng
sa kiếp trong quá khứ Phật có Phật tên Vô Lượng
Quang để chứng minh A Di Đà Phật thành Phật
đă từ rất lâu xưa, mười kiếp chỉ
là quyền biến mà nói.
3. Sách Tiên Chú bảo: “Theo
giáo nghĩa của Chân Tông (chỉ Mật Tông) th́ đức A Di Đà ở
phương Tây trong Thai Tạng Giới, Ngài chủ chứng
Bồ Đề đức; trong Kim Cang Giới, Ngài chủ chứng
Đại Trí Huệ môn, Ngài từ Diệu Quán Sát Trí hóa hiện
thành. Nhưng niên kiếp đức Đại Nhật Như
Lai thành đạo đă chẳng thể nói nổi, chẳng
thể nghĩ bàn nổi th́ A Di Đà Phật thành đạo
cũng chẳng thể nói nổi, chẳng thể nghĩ
bàn nổi”. Ấy là v́ Đại Nhật chính là Di Đà vậy.
“Kim hiện tại thuyết
pháp” (Nay hiện
đang thuyết pháp): Nói “kim
hiện tại” là ngụ ư chẳng phải quá khứ
hay vị lai mà ngay chính lúc này đây nên bảo là “kim hiện tại” để
chỉ rơ A Di Đà Phật là vị Phật hiện tại,
ngay lúc này đây Ngài đang v́ chúng sanh thuyết pháp. V́ vậy,
phải nên phát nguyện văng sanh, siêng năng lễ bái, nghe
pháp, đúng pháp tu hành để mau thành Phật.
Cư sĩ Bành Tế Thanh lại bảo: “Chẳng phải ngay lúc ấy
(lúc đức Thích Ca thuyết pháp) mới gọi là hiện tại, mà măi đến nay
và vô tận đời sau vẫn luôn gọi là hiện tại
v́ Phật thọ vô lượng vậy”. Như vậy,
“hiện tại” ở
đây không phải là cái hiện tại do tam thế lưu
chuyển, mà là vô tận về sau này vẫn luôn thường
trụ nên vĩnh viễn được gọi là “hiện tại”. Dẫu bao
nhiêu thời kiếp lâu xa về sau này, hễ khi ai đọc
đến câu “kim hiện tại
thuyết pháp” (nay hiện đang thuyết pháp) th́ chính
ngay thời khắc đó Phật Di Đà đang thuyết pháp
v́ đức Phật ấy thuyết pháp không gián đoạn
vậy.
Thân nào đang thuyết pháp? Theo Di Đà Sớ Sao th́ chính là
Ứng Thân, kể cả Báo Thân. Theo như Quán kinh nói: “Thập lục ức na-do-tha
hằng hà sa do-tuần chi thân” (Thân mười sáu vạn ức na-do-tha hằng
sa do-tuần) th́ chính là Báo Thân thuyết pháp. Sách Sớ Sao lại
bảo: “Có thuyết bảo
thân thuyết pháp là Ứng Thân, Báo Thân; có thuyết bảo cả
ba thân cùng thuyết pháp; đấy đều là thuận
theo cơ nghi”. “Ba thân cùng thuyết” nghĩa là tuy Báo Thân,
Ứng Thân thuyết pháp nhưng kiêm cả Pháp Thân.
“Hữu vô lượng vô số
Bồ Tát, Thanh Văn chi chúng cung kính vi nhiễu” (Có vô lượng vô số Bồ Tát, Thanh
Văn chúng cung kính vây quanh): Do cơi Phật ấy thánh chúng vô
lượng, lại có thánh chúng từ thập phương
đến lễ bái, thân cận, nghe pháp, số ấy
cũng vô lượng. Họ đều vây quanh dưới
ṭa của Phật, nhất tâm cung kính nghe Phật thuyết
pháp.