Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 3

觀無量壽佛經疏鈔演義

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Thời gian: Khởi giảng từ ngày 01 tháng 12 năm 1990

Địa điểm: Hoa Tạng Đồ Thư Quán, huyện Cảnh Mỹ, Đài Loan

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Minh Tiến, Đức Phong và Huệ Trang

Tập 9

 

Xin mở kinh bổn, trang bốn mươi tám, ḍng thứ hai. Đây là dựa theo Đại Trí Độ Luận để giải thích Nhất Tâm Tam Quán:

      “Nhất Tâm Tam Quán giả, thử xuất Thích Luận. Luận vân, Tam Trí thật tại nhất tâm trung đắc. Chỉ nhất quán nhi tam quán, quán ư Nhất Đế nhi Tam Đế. Cố danh Nhất Tâm Tam Quán, loại như nhất tâm, nhi hữu sanh, trụ, diệt, như thử tam tướng, tại nhất tâm trung. Thử quán thành thời, chứng nhất tâm tam trí, diệc danh Nhất Thiết Chủng Trí, tịch diệt tướng, chủng chủng hành, loại, tướng mạo, giai tri dă. Tịch diệt tướng giả, thị song vong chi lực. Chủng chủng hành loại tướng mạo giai tri giả, song chiếu chi lực dă” (Nhất Tâm Tam Quán xuất phát từ Thích Luận. Luận dạy: “Thật ra, Tam Trí do từ nhất tâm mà đắc. Chỉ là một phép Quán mà thành Tam Quán, quán nơi một Đế mà trọn Tam Đế. V́ vậy, gọi là Nhất Tâm Tam Quán”. Giống như nhất tâm mà có ba tướng là sanh, trụ, diệt như thế trong nhất tâm. Khi phép Quán này thành, sẽ chứng nhất tâm tam trí, c̣n gọi là Nhất Thiết Chủng Trí, tướng tịch diệt, các thứ hạnh loại, tướng mạo đều biết. Tướng tịch diệt là do sức song vong. Các thứ hành loại, tướng mạo đều biết là do sức của song chiếu vậy). Đoạn văn này do Long Thọ Bồ Tát giảng trong Đại Trí Độ Luận. Nhất Tâm Tam Quán là pháp môn cũng như phương pháp tu học thù thắng nhất; nhưng trước hết, phải biết Thật Tướng của vũ trụ và nhân sinh th́ mới có thể khởi lên Nhất Tâm Tam Quán. Trong đoạn này, cuối cùng đă nói rất rơ ràng, cũng là nhằm giải thích v́ sao người ấy có thể thành tựu ba trí. [Ba trí] là Nhất Thiết Trí, Đạo Chủng Trí, và Nhất Thiết Chủng Trí. Nói cách khác, trí huệ Bát Nhă trong bản tánh đă thấu lộ viên măn. V́ tâm pháp và sắc pháp, nay chúng ta gọi là tinh thần và vật chất, cho đến toàn thể hư không pháp giới đều từ nhất tâm biến hiện. Đó là sự thật, mà cũng là căn cứ lư luận của Nhất Tâm Tam Quán. Nói thật ra, tâm chỉ là một, há có tam tâm, nhị ư? Tam tâm, nhị ư là hư vọng. Cớ sao biến thành hư vọng? Do có phân biệt, chấp trước. Hễ khởi lên phân biệt, chấp trước, sẽ biến thành vô lượng vô biên. Ĺa khỏi hết thảy phân biệt, chấp trước, tâm ấy là nhất tâm. Nhất tâm trọn đủ hết thảy các pháp; Tam Đế và Tam Quán là hết thảy các pháp được cô đọng lại.

      Tam Quán (Không Quán, Giả Quán, Trung Quán) là Năng Quán (chủ thể thực hiện sự quán tưởng), Tam Đế (Chân Đế, Tục Đế và Đệ Nhất Nghĩa Đế) là Sở Quán (đối tượng được quán), Năng và Sở là một, không hai. Nói đơn giản, tâm Năng Quán là tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là tướng tịch diệt, có tác dụng Chiếu Kiến. Đoạn văn này đă giảng ư nghĩa ấy rất viên măn, nói rất hay, nhưng kinh văn rất ngắn. “Tịch diệt tướng giả, thị song vong chi lực” (Tướng tịch diệt là do sức của song vong), “vong” () là ĺa khỏi, mà cũng là “chân tâm lư thể chẳng lập một pháp”. Lục Tổ nói “vốn chẳng có một vật”, đó là chân tâm. Chân tâm là nhất tâm. Hễ có một vật, sẽ chẳng phải là chân tâm, mà biến thành vọng tâm. V́ vậy, trong chân tâm chẳng thể có mảy may vật ǵ trong ấy. Chân, giả, tà, chánh, đúng, sai, thiện, ác đều là Nhị. Nay chúng ta nói “song” () là tương đối. Nếu triệt để ĺa khỏi [tương đối] th́ sau đó, hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian không ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng thể. Điều này được diễn tả là “chủng chủng hành, loại, tướng mạo giai tri” (các thứ hành, loại, tướng mạo[1] đều biết). V́ sao đều biết? Do tâm thanh tịnh khởi tác dụng giác chiếu, đó là Chiếu Kiến. Điều này nhằm phân biệt rơ: Chẳng phải là t́nh kiến, mà là Chiếu Kiến.

      Thật ra, Nhất Tâm Tam Quán là pháp tu của bậc thượng thượng căn, kẻ b́nh phàm chẳng có cách nào tu tập pháp này được. Kẻ b́nh phàm chỉ đành nương theo Thứ Đệ Tam Quán để tu tập; [Nhất Tâm Tam Quán] dành cho bậc thượng thượng căn. Trong pháp môn Tịnh Tông, Đại Kinh dạy “phát Bồ Đề tâm, một mực chuyên niệm”; thưa cùng quư vị, “một mực xưng niệm” là Nhất Tâm Tam Quán. V́ sao? V́ cái tâm năng niệm là Thỉ Giác, Phật hiệu được niệm là Bổn Giác; Thỉ Giác và Bổn Giác đều trọn đủ viên măn Tam Đế và Tam Quán, những kẻ niệm Phật b́nh phàm như chúng ta chẳng biết chuyện này! V́ lẽ đó, không riêng ǵ các vị tổ sư đại đức từ xưa đă tán thán Tŕ Danh niệm Phật, mà chư Phật, Bồ Tát cũng đều tán thán. Ai cũng đều có thể tu, nhưng chẳng biết pháp được tu ấy chính là pháp môn viên măn rốt ráo. Dẫu hoàn toàn chẳng thông đạt giáo lư, chỉ cần có thể thật thà niệm Phật, niệm đến lúc kha khá sẽ đắc Định. Niệm đến khi phiền năo chẳng thể dấy lên hiện hành, sẽ thành tựu Niệm Phật tam-muội; bất tri bất giác tự nhiên thành tựu tam-muội, chẳng cần quyết ư tu tập. Đó gọi là “nước chảy thành khe suối”, tự nhiên thành tựu. Sau khi thành tựu tam-muội, vẫn tiếp tục niệm, niệm đến một mức độ kha khá, sẽ hoát nhiên khai ngộ, giống như Đại Thế Chí Bồ Tát đă dạy: “Bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai” (chẳng nhờ vào phương tiện mà tâm được mở mang). Tâm khai bèn kiến tánh, Nhất Tâm Tam Quán liền đạt được, liền viên măn. V́ vậy, pháp môn này đúng là chẳng thể nghĩ bàn, vượt trỗi hết thảy các pháp môn. Tu tập dễ, thành công cao! Nói thông thường, Nhất Tâm Tam Quán là sự chứng đắc viên đốn của Bồ Tát và Phật, nào ngờ lũ phàm phu chúng ta cũng có thể tu pháp môn viên măn, rốt ráo dường ấy. V́ lẽ đó, sau khi chư vị đọc bộ kinh này, biết chân tướng sự thật này, chúng ta mới chịu khăng khăng một mực thật thà niệm Phật. Đối với người tu Tịnh Độ chúng ta, bản kinh này có cống hiến lớn nhất, dạy chúng ta hăy khăng khăng thật thà niệm Phật.

      Chúng ta lại lật qua xem trang năm mươi, ḍng thứ ba đếm từ dưới lên: “Thử Quán vi diệu, tức nhất nhi tam, tức tam nhi nhất. Nhất quán, nhất thiết quán. Nhất thiết quán, nhất quán. Phi nhất, phi nhất thiết. Như thử chi quán, nhiếp nhất thiết quán dă” (Phép Quán này vi diệu, một chính là ba, tuy ba mà một. Quán một là quán hết thảy, quán hết thảy chính là quán một. Chẳng phải là một, chẳng phải là hết thảy. Phép Quán như thế gồm trọn hết thảy các phép Quán). Nói thật ra, câu này đă nói theo kinh Hoa Nghiêm, “một chính là hết thảy, hết thảy chính là một, một chính là vô lượng, vô lượng chính là một”, có ư nghĩa ấy. V́ lẽ đó, cổ đức xưng tụng một câu Di Đà là “vạn đức hồng danh”. Vạn là hết thảy, là vô lượng, bốn chữ A Di Đà Phật là một. Trong một có vô lượng, vô lượng là một, toàn bộ đều kết quy vào danh hiệu. Nếu xét theo ư nghĩa rơ rệt của kinh này th́ “một” là nói đến Nhất Tâm Tam Quán, “hết thảy” là mười sáu phép Quán được giảng trong kinh này. Mỗi phép Quán trọn đủ mười sáu phép Quán, mười sáu phép Quán có thể dung nhiếp trong một phép Quán. Bất cứ phép Quán nào trong mười sáu phép Quán đều trọn đủ mười lăm phép Quán kia, chẳng có điều nào là ngoại lệ! Trong mười sáu phép Quán, thực hiện dễ dàng nhất là phép Quán thứ mười sáu dạy về Tŕ Danh niệm Phật, nói chung, chúng ta [tu tập tŕ danh niệm Phật] chẳng gặp vấn đề ǵ! Mỗi phép Quán đều nhiếp trọn vẹn mười lăm phép Quán kia. V́ vậy, quư vị quán Vô Lượng Thọ Phật th́ cũng nhiếp mười lăm phép Quán kia. Quư vị quán Nhật Quán, quán Thủy Quán, cũng nhiếp mười lăm phép Quán kia, nhưng các phương pháp Quán ấy rất khó thành tựu, v́ cảnh vi tế, tâm chúng ta thô lậu, quán chẳng thành tựu. Đối với phương pháp Tŕ Danh này, tâm thô cũng chẳng sao cả, vẫn có thể dụng công, vẫn có thể đắc lực, vẫn đầy đủ mười lăm phép Quán kia y hệt. Đó gọi là “một tu, hết thảy tu; hết thảy tu, một tu”.

      Chúng ta đă hiểu rơ ràng đạo lư này, chẳng c̣n nghi hoặc. V́ thế, [trong pháp môn] niệm Phật thường nói: “Chẳng hoài nghi, chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp”. Đối với chuyện chẳng hoài nghi th́ do chẳng hiểu rơ bèn có hoài nghi. Tự nói “chẳng hoài nghi”, nhưng nói thật ra, chính ḿnh thật sự hoài nghi, chưa hiểu rơ ràng. Nếu thật sự chẳng hoài nghi, bản thân người ấy nhất định sẽ khăng khăng một mực tu tập, hành tŕ. Nếu chính kẻ ấy vẫn chẳng chịu hành, có thể thấy là kẻ ấy vẫn chưa hiểu rơ, chắc chắn là hoài nghi! Đối với chuyện này, học theo cách nói ngoài miệng của kẻ khác dễ dàng, nhưng nếu muốn lư giải nghĩa chân thật trong ngôn ngữ sẽ chẳng dễ! Kinh điển toàn là lời lẽ của Phật, chúng ta niệm niệm học hiểu những lời lẽ ấy, nhưng trong bài kệ Khai Kinh có câu “nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”, mấy ai biết nghĩa chân thật ấy? Khó lắm! Ư nghĩa của tôi quư vị chẳng biết, ư nghĩa của quư vị tôi chẳng biết, làm sao biết ư nghĩa chân thật của Như Lai? Nhưng kinh dạy chúng ta nguyên tắc sau đây, [nương theo nguyên tắc ấy], chúng ta có thể hiểu nghĩa chân thật của Như Lai, mà cũng biết tâm ư của hết thảy chúng sanh. Chỉ cần tâm quư vị thanh tịnh th́ sẽ biết. V́ hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian đều sanh từ tâm thanh tịnh. Tâm sanh th́ mọi pháp sanh. Nếu quư vị t́m được chân tâm, chân tâm khởi tác dụng, tận hư không khắp pháp giới quư vị đều biết. V́ thế, kinh Vô Lượng Thọ nói người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới ai nấy đều có năng lực sau đây: Hết thảy chúng sanh trong mười phương thế giới trong tâm nghĩ tưởng điều ǵ họ đều biết. Phàm phu chúng ta thấy [năng lực ấy] là thần thông, thần thông ấy do đâu mà có? Từ tâm thanh tịnh mà có. V́ thế, chư vị đồng tu phải biết: Toàn thể cương lănh và nguyên tắc tu hành được giảng trong Phật pháp là tâm thanh tịnh; không đổ công dốc sức nơi đó th́ trật mất rồi!

      Tiếp theo đó là giải thích chữ Vô Lượng Thọ. Đây là đoạn chủ yếu nhất trong đề mục bộ kinh này, [hăy xem] trang năm mươi mốt, ḍng thứ năm từ dưới đếm lên. “Tứ thích Vô Lượng Thọ, chánh thị Tam Quán sở quán cảnh dă. Tiền minh Tam Quán, thả dĩ Tam Đức, Tam Nhân, nhi vị đế cảnh. Cái thị sở quán dung tức, dụng hiển năng quán tuyệt diệu. Tu tri tánh trung Tam Đức, Thể thị chư Phật tam thân, tức thử Tam Đức tam thân, vi ngă Nhất Tâm Tam Quán, diệc khả Di Đà tam thân, dĩ vi Pháp Thân, ngă chi Tam Quán, dĩ vi Bát Nhă. Quán thành kiến Phật, tức thị Giải Thoát” (Bốn là giải thích từ ngữ Vô Lượng Thọ, đó chính là cảnh được quán bởi Tam Quán. Tam Quán như đă được nói trong phần trước, lại c̣n lấy Tam Đức và Tam Nhân làm cảnh để quán chắc thật. Ấy là v́ cảnh được quán dung thông, chính là lẫn nhau, dùng điều đó để hiển thị sự tuyệt diệt của Năng Quán. Cần phải biết Thể của Tam Đức trong Tánh là ba thân của chư Phật, dùng ngay Tam Đức và Tam Thân làm Nhất Tâm Tam Quán của ta. Cũng có thể lấy ba thân của Phật Di Đà làm Pháp Thân, lấy Tam Quán của ta làm Bát Nhă. Quán thành tựu sẽ thấy Phật, đó chính là Giải Thoát). Chúng ta chỉ xem đoạn này. Phần trước đă nói nhiều như vậy, nhằm giảng rơ Năng Quán và Sở Quán là ǵ. Phải hiểu rơ ư nghĩa của Năng Quán và Sở Quán, cảnh giới vô cùng nhiều, chúng ta quán cảnh giới nào là tốt nhất? Trong mười sáu phép Quán, A Di Đà Phật là chủ, nói A Di Đà Phật th́ y báo và chánh báo trang nghiêm trong thế giới Tây Phương đều được bao gồm. V́ thế, tựa đề kinh này đă lấy phép trọng yếu nhất trong mười sáu phép Quán là [quán tưởng] Vô Lượng Thọ Phật. Ngài chẳng nói Phật Thuyết Quán Nhật Quán Kinh, quư vị nói như vậy cũng được; mà Phật Thuyết Quán Thủy Quán Kinh hoặc trong mười sáu phép Quán tùy tiện chọn lấy một phép Quán nào [để đặt tên kinh] cũng đều được! Ngài chẳng dùng mười lăm tên gọi kia, mà lấy phép Quán thứ chín, phép Quán thứ chín là quán Vô Lượng Thọ Phật, nên tựa đề kinh là Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh. Chư vị phải biết: Mười sáu phép Quán tùy tiện chọn lấy một pháp nào [để tu tập] đều được; tuy vậy, trong mười sáu phép ấy, A Di Đà Phật là chủ, là trọng yếu nhất. Thế nhưng chư vị phải hiểu: Trong mười sáu phép Quán, quán A Di Đà Phật khó nhất, chẳng dễ dàng nhất. V́ thế, đề mục kinh nêu ra điều này, trên thực tế là để khuyên chúng ta tŕ danh, niệm danh hiệu A Di Đà Phật. A Di Đà Phật là Vô Lượng Thọ Phật. Niệm danh hiệu Ngài, chẳng cần phải tưởng tướng hảo và quang minh của Ngài. Chúng ta chẳng thể tưởng tướng hảo và quang minh của Ngài được, tưởng thế nào cũng tưởng chẳng ra. Ư nghĩa là ở chỗ này! Điều quan trọng trong câu này là “Di Đà tam thân”, tức là Pháp Thân, Báo Thân, và Ứng Thân của A Di Đà Phật. Nói thật ra, ba thân là một thân, một mà ba, tuy ba mà một, nên mới nói “dĩ vi Pháp Thân” (dùng làm Pháp Thân), tức là Pháp Thân Lư Thể của chính chúng ta. Nay đối với Tam Quán, chúng tôi vừa thưa cùng quư vị: Cái tâm Năng Niệm trong niệm Phật là Nhất Tâm Tam Quán, đức Phật được niệm là Nhất Tâm Tam Đế. Tam Quán của chúng ta là Bát Nhă, những điều được nói ở đây đều tương ứng với lời dạy của cổ đức. Cổ nhân nói: Tâm năng niệm là Thỉ Giác, đức Phật được niệm là Bổn Giác. Thỉ Giác và Bổn Giác đều là Bát Nhă. “Quán thành kiến Phật” (quán thành tựu sẽ thấy Phật): Công phu thành tựu sẽ đạt được Giải Thoát, Giải Thoát là tự tại, trong tự tại bao gồm cả thần thông. Mắt chúng ta chẳng thể thấy khắp pháp giới, tai ở nơi đây chẳng thể nghe thấu âm thanh thuyết pháp của Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật th́ chưa thể coi là giải thoát. Lục Thông trọn đủ mới là tự tại. Trong tâm quư vị khởi tâm động niệm, tôi đều biết, đó là Giải Thoát. Nói cách khác, bản năng (năng lực sẵn có) trong tự tánh hoàn toàn khôi phục; đó là Giải Thoát.

      Tiếp đó, lời Sớ giải thích [danh hiệu] Vô Lượng Thọ nơi hàng thứ hai trong trang năm mươi hai. Vô Lượng Thọ là ǵ? “Vô Lượng Thọ giả, Thiên Trúc xưng A Di Đà” (Vô Lượng Thọ được người Thiên Trúc gọi là A Di Đà). Thiên Trúc (Sindhu) là nói tới người Ấn Độ. Tiếng Phạn là A Di Đà, dịch sang tiếng Hán thành Vô Lượng Thọ. Nếu thật sự chiếu theo tiếng Phạn để dịch, th́ A là Vô, có nghĩa là không có, Di Đà là Lượng. A Di Đà có ư nghĩa thật sự là Vô Lượng. Trong Vô Lượng, bao hàm ư nghĩa vô cùng sâu rộng, chỉ nêu đơn giản mấy thí dụ để nói: Vô lượng trí huệ, vô lượng đức năng, vô lượng tài nghệ, vô lượng phước báo, vô lượng thọ mạng, thứ ǵ cũng đều là vô lượng, đúng là vô lượng vô biên. Trong hết thảy các thứ vô lượng, điều ǵ quan trọng nhất? Thọ mạng quan trọng nhất. Nếu chẳng có thọ mạng, tất cả những thứ vô lượng khác đều rỗng tuếch! Ví dụ như nói quư vị có vô lượng của cải, báu vật, nhưng chẳng có thọ mạng, tiền tài, báu vật để cho người khác dùng, bản thân quư vị chẳng sử dụng được! V́ lẽ đó, trong hết thảy các thứ vô lượng, khẩn yếu nhất là vô lượng thọ. Do có vô lượng thọ, chính ḿnh mới có thể thật sự hưởng thụ hết thảy các thứ vô lượng. Chẳng có vô lượng thọ, những thứ vô lượng khác hoàn toàn vô ích, đều chẳng phải là vô lượng thật sự! V́ thế, A Di Đà được dịch thành ư nghĩa chủ yếu là Vô Lượng Thọ. [Danh hiệu] A Di Đà tuyệt đối chẳng phải là chỉ có một ư nghĩa là Vô Lượng Thọ, chư vị phải biết: Ư nghĩa của danh hiệu ấy chẳng thể nói trọn hết, trọn hết kiếp vẫn nói chẳng tận.

      Tiếp theo đó, nêu ra chân tướng: “Phật bổn vô thân, vô thọ, diệc vô ư lượng” (Phật vốn chẳng có thân, chẳng có thọ mạng, mà cũng chẳng có số lượng). Thân thể, thọ mạng, số lượng thảy đều chẳng nói được. Trước hết, phải hiểu Phật là ǵ? Nay chúng ta vừa thấy chữ Phật đă nghĩ đến một người; người th́ lẽ nào chẳng có thân thể? Chẳng có thân thể, làm sao có thể gọi là người? Chư vị phải biết: Phật có nghĩa là Giác. Giác tánh chẳng có thân thể, mà cũng chẳng có thọ mạng, cũng chẳng thuộc vào phạm vi số lượng. Giác tánh là ǵ? Giác tánh là bản tánh của chính chúng ta, được gọi là Chân Như bản tánh; [trong Chân Như bản tánh], những thứ ấy (thân thể, thọ mạng, số lượng) đều chẳng có. Chân Như bản tánh to cỡ nào? Chẳng có cách nào nghĩ bàn! Tận hư không khắp pháp giới đều do Chân Như bản thể biến hiện. Bản tánh là cái có thể biến (năng biến), hư không pháp giới là cái được biến (sở biến). Nếu quư vị hỏi nó lấy ǵ làm thân ư? Chỉ là chẳng có thân th́ nó mới có thể biến ra hư không pháp giới; nếu có thân, làm sao nó biến được? Nó bất sanh bất diệt; do bất sanh bất diệt, nên chẳng có thọ lượng. Không ǵ lớn mà ở ngoài nó, không ǵ nhỏ mà ở trong nó, tuyệt đối chẳng rơi vào số lượng!

      Lũ phàm phu chúng ta rất đáng thương. Là phàm phu th́ quư vị t́m một thầy bói cao minh, ông ta có thể đoán vận mạng cả đời quư vị chẳng trật tí nào! Vận mạng cá nhân, vận mạng gia đ́nh, vận mạng quốc gia, vận mạng thế giới đều có thể tiên đoán rất chuẩn xác. V́ sao? Rơi vào số lượng, nên mới có thể tính toán. V́ sao có số lượng? V́ quư vị có phân biệt, chấp trước; hễ có phân biệt, chấp trước, bèn rớt trong số lượng. Ngày nào quư vị chẳng phân biệt, chẳng chấp trước hết thảy các pháp, sẽ vượt khỏi số lượng, ai đoán mạng cho quư vị cũng chẳng chuẩn xác. V́ sao? Đă vượt thoát! “Vượt thoát” là trong hết thảy các pháp chẳng khởi tâm, không động niệm, bèn vượt thoát. Hễ tâm vừa động niệm th́ c̣n có số lượng, không động niệm th́ chẳng có số lượng. V́ vậy, chân tâm ly niệm, [tức là] trong chân tâm chẳng có niệm, nên nó chẳng có thân, chẳng có tuổi thọ, mà cũng chẳng có hạn lượng. Tận hư không khắp pháp giới và chính ḿnh là một. Lời lẽ này nói ra đúng là rất khó hiểu, đó là chân tướng, là sự thật, là Thật Tướng của các pháp. Chân tướng của hết thảy các pháp là như thế.

      V́ rất khó thấu hiểu, chẳng phải là kiến thức thông thường đối với lũ b́nh phàm chúng ta. Chúng ta không chỉ chẳng thấy, mà c̣n chưa nghe nói tới, ngay cả mơ th́ cũng chưa mộng thấy, nên chư Phật, Bồ Tát thường dùng tỷ dụ, khiến cho chúng ta từ tỷ dụ mà thấu hiểu. Tỷ dụ thường được dùng là “mộng, huyễn, bọt, bóng”. Ví như nằm mộng th́ mỗi người chúng ta đều có kinh nghiệm nằm mộng. Mộng do đâu mà có? Chẳng thể nói mộng không có, nó xác thực là có, có chuyện ấy. Mộng là thật ư? Chúng ta biết mộng chẳng thật! Nếu mộng đă là chẳng thật, c̣n có những người nằm mộng, đến ngày hôm sau, hoặc ngày hôm sau nữa đến t́m tôi, hỏi: “Giấc mộng ấy rốt cuộc có ư nghĩa ǵ?” Mộng chẳng phải là thật, há c̣n có ư nghĩa ǵ? Ngay cả giấc mộng hư vọng mà c̣n chấp trước, c̣n muốn coi nó là thật, đó là nguyên cớ gây nên mê hoặc vậy! Mộng do tâm biến hiện, trong Phật pháp thường nói: “Chân Như bất thủ tự tánh” (Chân Như chẳng giữ lấy tự tánh). Tự tánh là thanh tịnh, chẳng thanh tịnh bèn bị động. Tâm đă động, tức là chân tâm hễ động liền hiện hư không pháp giới. Quư vị đêm ngủ không yên, vọng tâm dấy động, bèn nằm mộng, nên người có công phu định lực chẳng nằm mộng. Người có công phu định lực lúc ngủ tâm vẫn thanh tịnh, tâm người ấy chẳng động sẽ chẳng nằm mộng!

Khi Phật giáo chưa truyền đến Trung Quốc, cổ nhân Trung Quốc đă nói: “Trí nhân vô mộng” (người trí chẳng nằm mộng). Người trí tâm địa thanh tịnh, tâm địa chân thành, chẳng có chút hư giả, hạng người ấy rất ít mộng, không dễ ǵ nằm mộng. Nằm mộng nhiều là do suốt ngày từ sáng đến tối suy nghĩ loạn xạ, người ấy cũng rất dễ nằm mộng. Lại c̣n mộng thấy những giấc mơ lộn xộn, do suy nghĩ loạn xạ đó mà! Từ chỗ này, chứng tỏ: Cái tâm của quư vị, chúng tôi không nói đến chân tâm, mà nói tới vọng tâm. Quư vị thấy vừa mở đầu kinh Lăng Nghiêm, Thích Ca Mâu Ni Phật gọi tôn giả A Nan hỏi tâm tôn giả ở chỗ nào? Trọn chẳng hỏi Ngài là chân tâm hay vọng tâm. Bất luận chân tâm hay vọng tâm, tâm ở nơi đâu? Nay chúng ta đang nói đến vọng tâm, chúng ta thường nói vọng tâm là thức thứ sáu, tức ư thức, thức thứ bảy và thức thứ tám, những thức ấy ở đâu? Đến đêm nằm mộng, chúng sẽ hiển hiện. V́ sao? Vọng tâm hiện tướng. Nếu nó chẳng hiện tướng, chúng ta chẳng t́m thấy nó, chẳng biết nó ở chỗ nào! Nó vừa hiện tướng, chúng ta liền nắm bắt nó, cảnh trong mộng chính là [hiện tướng của nó]. Giả sử cái tâm có thể nằm mộng là chân tâm th́ mộng cảnh được biến hiện [bởi cái tâm ấy] là vọng tướng. Toàn thể chân chính là vọng, chân tâm của quư vị liền biến thành vọng cảnh. Toàn bộ vọng chính là chân, toàn thể mộng cảnh là vọng tâm của quư vị.

      Nếu trong cảnh giới đó, chúng ta hỏi: Ai là chính ḿnh? Nằm mộng nhất định có chính ḿnh! Có ai nằm mộng mà chẳng có chính ḿnh trong mộng? Có ai trong quư vị [nằm mơ mà thấy] trong mộng chẳng có chính ḿnh? Chẳng thể nào có chuyện ấy! Nhất định là có chính ḿnh, c̣n có người khác, c̣n có núi, sông, đại địa, c̣n có nhiều thứ nữa! Nếu quư vị thật sự hiểu rơ những thứ ấy đều do tự tánh biến hiện, trong mộng có thứ ǵ chẳng phải là chính ḿnh? Nguyên lai, thứ ǵ cũng đều chính ḿnh. Từ những sự tướng nông cạn, gần gũi này mà thấu hiểu sâu xa hơn, toàn thể hư không pháp giới hiện thời từ đâu mà có? Do Chân Như tự tánh chẳng giữ lấy tự tánh mà biến hiện ra. Hư không pháp giới, núi, sông, đại địa, chúng sanh đông đảo, toàn là tự tánh của chính ḿnh. Ngoài tâm chẳng có pháp, ngoài pháp chẳng có tâm, tự tánh của chúng ta ở chỗ nào? Quư vị mắt thấy, tai nghe, thân thể tiếp xúc đều là tự tánh. Ngày nào quư vị thật sự khẳng định hết thảy cảnh giới hoàn toàn là chính ḿnh, bèn chứng đắc Pháp Thân thanh tịnh. Nếu quư vị nói đó chẳng phải là ta, kẻ khác và ta chẳng có liên can ǵ! Đó là mê mất tự tánh.

      Đức Phật giảng rất rơ ràng, chúng ta hiểu rơ, có phải là thật sự hiểu rơ hay không? Vẫn mê hoặc, điên đảo. V́ sao? Ta chẳng phải là kẻ khác, kẻ khác vẫn chẳng phải là ta, chẳng có cách nào phá vỡ vọng tưởng chấp trước kiên cố ấy. Nếu phá vỡ vọng tưởng, chấp trước ấy, xin chúc mừng quư vị, quư vị đă thành Phật. Khi nào sẽ phá vỡ vọng tưởng kiên cố ấy? Mức độ thấp nhất là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo, hoặc Sơ Địa trong Biệt Giáo. Chỉ cần quư vị phá vỡ, khẳng định hư không pháp giới do một ḿnh ta biến hiện, quư vị chứng đắc quả vị Sơ Trụ trong Viên Giáo. Khi ấy, tâm địa quư vị thanh tịnh, b́nh đẳng, ḷng từ bi được kiến lập trên tâm thanh tịnh, b́nh đẳng, đại từ đại bi. Quư vị đối đăi Phật, đối đăi hết thảy chúng sanh, quyết định chẳng có cách nh́n nào khác, chúng sanh và Phật b́nh đẳng. Cung kính b́nh đẳng, tán thán thanh tịnh, lúc đó, quư vị đang tu hành mười đại nguyện vương của Phổ Hiền. Mười đại nguyện vương, người b́nh phàm chẳng làm được; trong Tịnh Độ, sau khi đă đắc Lư nhất tâm bất loạn th́ mới có thể tu. Nói thông thường, hạng người ấy chính là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo hoặc Sơ Địa Bồ Tát trong Biệt Giáo, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, tu hành khi đó chính là Phổ Hiền Hạnh. Chưa đạt đến cảnh giới ấy, chẳng có cách nào tu hạnh Phổ Hiền. V́ tâm của ngài Phổ Hiền là thanh tịnh, b́nh đẳng, tâm chúng ta chẳng thanh tịnh, bất b́nh đẳng, chẳng biết hết thảy vạn pháp là chính ḿnh. Trong [nội tâm] của quư vị có chướng ngại, có giới hạn, sẽ chẳng phải là Phổ Hiền Hạnh. Phổ Hiền Hạnh chắc chắn chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, chẳng có giới hạn, là một Thể với vạn pháp.

      Đây là nói tới Pháp Thân. Pháp Thân là tận hư không khắp pháp giới và chính ḿnh là một, lấy vạn pháp làm tự thân, giống như nằm mộng: Mộng cảnh, [tức là] toàn thể cảnh giới trong mộng là một thân tướng. Chẳng phải là nói thân tướng của một thân, mà là tận hư không khắp pháp giới là chính ḿnh, nó hiện thành tướng ấy, tướng ấy được gọi là Pháp Thân. Pháp Thân cũng chẳng có thân, chẳng có thọ mạng, cũng vượt ngoài số lượng. V́ vậy, Pháp Thân bất sanh bất diệt.

      Tiếp đó, sách viết: “Tùy thuận thế gian, nhi luận tam thân” (do tùy thuận thế gian, nên luận định Tam Thân), đó là cách nói quyền xảo phương tiện trong Phật pháp. Mục đích của phương tiện quyền xảo là khiến cho chúng ta ngộ nhập cảnh giới chân thật. Do vậy, ngàn vạn phần chớ nên chấp trước hết thảy các phương tiện do đức Phật đă nói. Nếu chấp trước, quư vị chẳng thể ngộ nhập, điều này vô cùng quan trọng! Do tùy thuận thế gian mà luận định ba thân. “Diệc tùy thuận thế gian, nhi luận tam thọ” (cũng do tùy thuận thế giới mà luận ba thứ thọ lượng). “Tam thọ” là Pháp Thân thọ, Báo Thân thọ, và Ứng Hóa Thân thọ. “Diệc tùy thuận thế gian, nhi luận tam lượng” (cũng tùy thuận thế gian mà luận tam lượng). Có thể thấy đức Phật nói đến thân, thọ mạng và số lượng đều v́ tùy thuận người thế gian mà nói. Trong tri kiến của Phật, chắc chắn chẳng có những điều ấy. Tâm Phật thanh tịnh chẳng lập một pháp. Quư vị đọc Đàn Kinh thấy pháp sư Ấn Tông lúc mới gặp Lục Tổ, bèn hướng về Lục Tổ thỉnh giáo chuyện ngài Hoàng Mai, Hoàng Mai là Ngũ Tổ. [Sư Ấn Tông hỏi]: “B́nh thường Ngũ Tổ có răn dạy người khác về Bát Nhă và giải thoát hay không? Ngài giảng Bát Nhă và Giải Thoát theo cách nào?” Lục Tổ trả lời vô cùng khéo léo: “Bát Nhă và Giải Thoát là hai pháp. Hai pháp chẳng phải là Phật pháp, Phật pháp là pháp môn Bất Nhị”. Chẳng nói với Sư rằng Tổ (Ngũ Tổ) đă giảng Bát Nhă là ǵ, Giải Thoát là ǵ, một câu nói ấy liền chặn lấp sạch [mọi tri kiến, đối đăi]. Có nghĩa là quư vị vẫn c̣n ở trong Phật pháp mà chấp trước và so đo những danh tướng ấy, sai mất rồi, phải ĺa tướng ngôn thuyết, ĺa tướng danh tự, ĺa tướng tâm duyên! Tâm duyên là ǵ? Khởi tâm động niệm nơi danh tướng của Phật; đó là tướng “tâm duyên”. Quư vị thảy đều ĺa khỏi những thứ ấy, tâm thanh tịnh hiện tiền, đó là Phật pháp. Phật pháp là tâm thanh tịnh; trong Phật pháp, thứ ǵ cũng đều chẳng có, đó là Phật pháp.

      Nhưng chư vị phải nghe cho rơ ràng! Nếu quư vị nghe nói “Phật pháp thứ ǵ cũng đều chẳng có”, [bèn tâm niệm]: “Được lắm! Ư niệm ǵ cũng đều đoạn sạch”, bèn biến thành Vô Tưởng Định. Quư vị tu thành tựu, nhưng cũng chẳng thành Phật, mà sanh làm chư thiên trong Tứ Thiền Thiên hoặc Vô Tưởng Thiên; khi thọ mạng đă hết, vẫn phải đọa trong tam ác đạo. V́ sao Vô Tưởng cũng chẳng phải là Phật pháp? Chư vị hăy suy nghĩ, trong tâm thanh tịnh có vô tưởng, tức là vẫn có một cái Vô tồn tại, cho nên Vô Tưởng cũng chẳng thể có. Có vô tưởng th́ đối lập của nó là hữu tưởng, nên vẫn là hai pháp. Pháp Bất Nhị là ǵ? Pháp Bất Nhị là trong tâm xác thực chớ nên có Tưởng, mà Vô Tưởng cũng chẳng nên có. Từ hữu tưởng và vô tưởng lại biến thành “cũng có hữu tưởng, cũng có vô tưởng”. “Cũng có hữu tưởng và cũng có vô tưởng” cũng là trật, “chẳng phải là hữu tưởng, chẳng phải là vô tưởng” cũng là trật. Đúng là “mở miệng liền trật, động niệm liền sai”, hăy từ những chỗ này mà thấu hiểu. V́ lẽ đó, đức Phật nói chớ nên chấp trước hết thảy các pháp; hễ quư vị chấp trước bèn sai, đó là nẩy sanh tác dụng phụ đáng sợ nhất.

      Tiếp theo là “Pháp Thân giả, sư quỹ Pháp Tánh, hoàn dĩ Pháp Tánh vi thân” (Pháp Thân là tuân thủ, vâng theo Pháp Tánh, lại c̣n lấy Pháp Tánh làm thân). Câu này nói hết sức hay. Pháp Thân là ǵ? Pháp Thân là Pháp Tánh, Pháp Tánh là Lư Thể, tức là nguyên lư có thể biến ra vạn pháp. Hiện thời, các nhà khoa học, triết học đều đang thăm ḍ vũ trụ từ đâu mà có? Sinh vật do đâu mà có? Con người do đâu mà có? Những câu hỏi ấy chẳng sai, có câu trả lời hay không? Thưa cùng chư vị, vĩnh viễn chẳng có câu trả lời! Từ xưa đến nay, các nhà khoa học, triết gia, kể cả các nhà tôn giáo xưa, nay, trong, ngoài nước măi cho đến hiện thời đều chẳng t́m được câu trả lời. Câu trả lời rất nhiều, học thuyết cũng lắm, nhưng đều chẳng thể khiến cho kẻ khác tâm phục khẩu phục. Câu trả lời thật sự nằm trong Đại Thừa Phật pháp, tức là Pháp Tánh. V́ sao họ chẳng t́m thấy câu trả lời? Họ dùng đầu óc để suy nghĩ, khảo cứu. Suy nghĩ, khảo cứu là rớt vào tâm ư thức, là suy tưởng loạn xạ; vọng tưởng th́ làm sao có thể t́m được câu trả lời? Chẳng thể nào! Khi nào câu trả lời sẽ hiện tiền? Đoạn hết vọng tưởng, câu trả lời bèn liền hiện tiền, thảy đều hiểu rơ. V́ thế, Phật pháp sử dụng phương pháp khiến cho quư vị đoạn hết suy xét.

Nhưng căn tánh của người thế gian không giống nhau, có người chẳng thích suy xét, sợ suy nghĩ sẽ đau đầu nhức óc. Đối với loại chúng sanh này, đức Phật dạy họ tu Thiền. Thiền chẳng dùng suy xét. Có người chuộng suy xét, thích suy xét th́ đức Phật dạy họ học Duy Thức. Duy Thức dạy họ suy xét hằng ngày, đó lại là một phương pháp. Lư luận Duy Thức gọi điều đó là “tư tận hoàn nguyên” (suy nghĩ đến tột cùng sẽ trở về nguồn), họ sẽ quay đầu. Quay đầu bèn thấy chân tánh. V́ thế, chẳng suy tưởng có thể kiến tánh, mà khi suy tưởng đến tột cùng bèn quay đầu th́ cũng có thể kiến tánh. Phương pháp của đức Phật rất xảo diệu, rất nhiều. Phương pháp Niệm Phật này cũng chẳng cần suy tưởng, cũng là chẳng dùng đến sự suy xét, có nguyên lư giống như Thiền và Mật, chỉ là phương pháp và cách thức khác nhau. Thiền nhất định là chẳng thể có thứ ǵ, c̣n Tịnh có A Di Đà Phật. V́ thế, Tịnh thuận tiện và dễ dàng hơn Thiền.   

Ở đây nói “sư quỹ Pháp Tánh” (師軌法性), câu nói ấy có nghĩa là ǵ? Trong chú giải có giải thích, nơi trang năm mươi ba, trong câu cuối cùng thuộc ḍng thứ ba: “Ngôn sư quỹ Pháp Tánh” (nói “sư quỹ Pháp Tánh”), “sư quỹ Pháp Tánh” là ǵ? “Thị xả Thông tùng Biệt. Thông tắc sanh Phật câu quỹ Pháp Tánh. Nhiên cửu giới tuy quỹ nhi vi, như nhân y sư, bất thuận sư giáo. Duy hữu chư Phật, tùng Sơ Phát Tâm quỹ pháp nhi tu, kim năng cứu cánh minh hợp Pháp Tánh” (Là bỏ Thông theo Biệt. Thông th́ chúng sanh và Phật đều noi theo Pháp Tánh; nhưng chín pháp giới tuy noi theo, vẫn trái nghịch, giống như người nương tựa thầy, nhưng chẳng tuân theo lời thầy dạy. Chỉ có chư Phật kể từ Sơ Phát Tâm đều tuân theo pháp để tu, nên nay có thể rốt ráo ngầm phù hợp Pháp Tánh). Pháp Tánh là có thể hiện, có thể biến (năng hiện, năng biến). Trong kinh Đại Thừa, đức Phật đă giảng nguồn gốc của vạn pháp trong vũ trụ: “Duy tâm sở hiện”, “tâm” ở đây là chân tâm; “duy thức sở biến”, “thức” là vọng tâm. Cảnh giới được hiện bởi chân tâm là cảnh giới b́nh đẳng, tức Nhất Chân pháp giới. V́ sao Nhất Chân pháp giới biến thành mười pháp giới? Do thức biến. Tuy thức biến Nhất Chân pháp giới thành mười pháp giới, chư vị phải biết: Chẳng phải là thật sự bị biến, cái thật sự biến bèn trái nghịch bản tánh, tức là biến thành hư vọng, chẳng phải là chân thật. Tuy hư vọng, tức là nói “cảm nhận sai lầm”, nhưng sự cảm nhận sai lầm ấy trọn chẳng biến đổi sự thật, chỉ là sự thọ dụng khác hẳn. Ví như kinh đă nói “chưng sa tác phạn” (nấu cát làm cơm): Để nấu cơm, chúng ta dùng gạo, nhưng kẻ đó hiểu lầm, ngỡ cát có thể nấu thành cơm, đó là nhận biết sai lầm. Cát vẫn là cát, gạo vẫn là gạo, tuyệt đối chẳng phải v́ quư vị nhận biết sai lầm mà cát biến thành gạo, chẳng có đạo lư ấy! Đây là nói rơ Nhất Chân pháp giới vĩnh viễn là Nhất Chân pháp giới, quư vị mong biến nó thành mười pháp giới, [điều ấy] trọn chẳng phải là sự thật. Sự thật, nó vẫn là Nhất Chân pháp giới; nhưng quư vị suy nghĩ sai lầm, nên thọ dụng cũng sai lầm, sự hưởng thụ cũng sai lầm, trong ấy có khổ và lạc khác biệt. Mười pháp giới có khổ và lạc khác biệt. Trong Nhất Chân pháp giới, chẳng có khổ mà cũng chẳng có lạc, nên gọi là “lạc chân chánh”. Khổ là khổ, lạc vẫn là khổ, lạc trọn chẳng phải là lạc thật sự, tuy là lạc mà vẫn là khổ.

      V́ lẽ đó, mười pháp giới thảy đều “sư quỹ Pháp Tánh” (vâng theo, tuân thủ Pháp Tánh), đều từ Chân Như bản tánh biến hiện. “Quỹ” là ǵ? Quỹ () là có quy tắc, chẳng rối loạn. Người thế gian thấy vũ trụ có trật tự, có quy tắc như vậy, giống như các tinh cầu vận hành trong vũ trụ đều có một quỹ đạo nhất định. Người thế gian chẳng hiểu đạo lư ấy, bèn nghĩ: Nhất định phải có người an bài, có ai đó lập hoạch định, trù tính! Người sắp đặt, trù tính là ai? Đại khái là Thượng Đế! Thượng Đế do đâu mà có? Là kẻ được biến hiện từ tưởng tượng; do như vậy mà có. Có phải là do Thượng Đế trù tính hay không? Tuyệt đối chẳng phải vậy, đó là nhận thức sai lầm, là hiểu lầm! V́ nó có tŕnh tự nhất định, tuân theo tŕnh tự chẳng sai chút nào, có thứ lớp, chẳng lộn xộn, nên gọi là Quỹ. “Quỹ” là quỹ đạo, chẳng rối loạn, do Pháp Tánh biến hiện. Chúng sanh trong chín pháp giới tuy “sư quỹ Pháp Tánh”, nhưng mê muội, nên nay chúng ta chẳng noi theo họ, mà noi theo Phật, Bồ Tát. Phật, Bồ Tát “sư quỹ Pháp Tánh”, đă ngộ, chẳng mê, nên Tha Thọ Dụng của các Ngài hoàn toàn khác hẳn phàm phu. Chúng ta tạm ngưng, nghỉ ngơi mấy phút.

 

Tập 10

 

Chúng ta xem trang năm mươi ba.

      Trong đoạn trên đây, tự thể của hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian là Pháp Tánh. Hết thảy các pháp quyết định chẳng thể ĺa khỏi tự thể, hễ ĺa khỏi tự thể, sẽ chẳng thể tồn tại. Vấn đề hiện tại là một đằng thuận tánh, một đằng nghịch tánh, nghĩa là: Thuận tánh là giác, nghịch tánh là mê, then chốt ở ngay chỗ này! Rốt cuộc thuận là ǵ? Nghịch là ǵ? Cũng có thể nói: Giác là ǵ? Mê là ǵ? Kinh luận thường dạy một nguyên tắc, chỉ cần quư vị nắm được nguyên tắc, vấn đề này sẽ trọn chẳng khó hiểu, mà cũng chẳng khó tu. Đức Phật thường dạy chúng ta: “Giác tâm bất động”. Nói cách khác, trong hết thảy cảnh giới, bất luận là hoàn cảnh nhân sự hay hoàn cảnh vật chất, chỉ cần chúng ta chẳng động tâm bởi cảnh giới th́ sẽ thuận tánh. V́ tánh là bất động, chúng ta có thể chẳng động tâm th́ sẽ tương ứng với tánh. Pháp Tánh và Phật Tánh là một tánh. Một tánh, chẳng phải là hai tánh! Cái gọi là “chẳng tuân thủ tự tánh” chính là quư vị khởi tâm động niệm trong cảnh giới, khởi tâm động niệm là trái nghịch tánh. Trái nghịch tánh, nhưng vẫn chẳng ĺa khỏi tánh, nên có khổ nạn. V́ lẽ đó, hết thảy khổ nạn do đâu mà có? Do chính ḿnh chuốc lấy!

      Con người chúng ta thường nói là rất khổ, rất đau khổ, nhưng đều chẳng chịu quay lại suy nghĩ. Nếu thật sự quay đầu, nỗi khổ ấy ở chỗ nào? Quư vị hăy t́m xem, khổ ở chỗ nào? Quư vị thật sự quay đầu lại t́m, chẳng t́m thấy! T́m không thấy, có thể thấy nó là giả, chẳng thật! Hễ là thật, nhất định là phải ở một nơi nào đó. Quư vị giải phẫu từng tế bào trong toàn thân, cũng chẳng t́m thấy khổ trong đó. Khổ và lạc đều là giả, đều là chẳng thật, cớ ǵ phải so đo nó? Cớ ǵ phải khắt khe? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước trái nghịch Pháp Tánh, nên là phàm phu. Trong hết thảy cảnh giới, chư Phật, Bồ Tát tuyệt đối chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, nên vĩnh viễn là thanh tịnh vô nhiễm, giống như hư không. Trong hư không, hiện ra hết thảy vạn pháp, nhưng hư không trước nay chưa hề dính mắc! Bản tánh, hoặc là Pháp Tánh như đang nói ở đây, có thể hiện hết thảy vạn pháp thế gian và xuất thế gian, nhưng hết thảy vạn pháp trọn chẳng hoen ố bản tánh, bản tánh vẫn là một mực thanh tịnh. Không chỉ chẳng bị hoen ố, mà c̣n chẳng bị trở ngại, đúng như kinh Hoa Nghiêm đă nói “Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”, xác thực là chẳng bị trở ngại. Hết thảy ô nhiễm và trở ngại đều do quan niệm sai lầm tạo thành, đều do cảm nhận sai lầm tạo thành, trái nghịch Pháp Tánh. Kinh này nói là “cửu giới tuy quỹ nhi vi” (chín pháp giới tuy nương theo nhưng trái nghịch [Pháp Tánh]). Không chỉ là lục đạo phàm phu, ngay cả Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát cũng trái nghịch. Các Ngài trái nghịch ít v́ mê cạn. Do trái nghịch ít, nên chúng ta thoạt nh́n, sẽ thấy dường như các Ngài rất tự tại. Chư Phật Như Lai hoàn toàn chẳng trái nghịch, nên đắc đại tự tại.

      Tiếp theo đó là nêu tỷ dụ, tỷ dụ ấy cũng rất hay. “Như nhân y sư” (như người nương tựa thầy), giống như học tṛ theo học với thầy. Sánh ví thầy như Pháp Tánh, học tṛ ví như chúng sanh. Nương tựa thầy, nếu có thể thuận theo sự răn dạy của thầy, đó là tùy thuận Pháp Tánh, giống như trong phần trước đă nói là “sư quỹ Pháp Tánh”. Nếu tuy theo thầy, mà chẳng nghe theo sự răn dạy của thầy, “theo thầy” là quư vị chẳng rời Pháp Tánh; tuy chẳng rời khỏi Pháp Tánh, nhưng quư vị trái nghịch Pháp Tánh. Hai người cùng theo thầy, một người nghe lời thầy, một người chẳng nghe lời thầy, hai người ấy đều gọi là học tṛ của thầy. Đây là nói rơ chúng sanh trong chín pháp giới thế gian và xuất thế gian, kể cả Phật pháp giới th́ là mười pháp giới, tứ thánh lục phàm đều noi theo Pháp Tánh, nhưng có kẻ nương theo và tuân thuận, có kẻ chẳng tuân thuận. Nói nghiêm ngặt, chín pháp giới đều chẳng tuân thuận, thật sự tuân thuận chỉ là Phật [pháp giới]. Nếu nới lỏng tiêu chuẩn một chút để nói th́ lục phàm hoàn toàn trái nghịch, tứ thánh thuận theo Pháp Tánh. Chúng ta biết ư nghĩa trái nghịch và tuân thuận là như vậy.

      Tiếp đó là nói: “Tùng Sơ Phát Tâm, quỹ pháp nhi tu” (từ Sơ Phát Tâm đă vâng theo pháp để tu), đó là nói “duy hữu chư Phật” (chỉ có chư Phật), “kim năng cứu cánh minh hợp Pháp Tánh” (nay có thể rốt ráo ngầm phù hợp Pháp Tánh). “Chỉ có chư Phật” th́ Phật mà vẫn c̣n phải tu hành ư? Phải tu hành! Phật được nói ở đây chẳng phải là Cứu Cánh Phật, mà là Phần Chứng Phật. Từ Sơ Trụ trong Viên Giáo trở lên đều gọi là “chư Phật”. Nếu quư vị đọc bộ Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa của cư sĩ Giang Vị Nông, [sẽ thấy] ông ta giải thích chữ “chư Phật” là từ Sơ Trụ của Viên Giáo cho đến quả vị viên măn rốt ráo, gồm bốn mươi hai địa vị. Bốn mươi mốt địa vị là từ [Sơ Trụ] Bồ Tát cho đến Đẳng Giác, địa vị bốn mươi hai là Phật. Bốn mươi hai địa vị ấy đều là Phật, cho nên gọi là “chư Phật”. Chư Phật” chỉ bốn mươi hai địa vị ấy. Đến địa vị cuối cùng, chẳng phải tu nữa, chứ bốn mươi mốt địa vị trước đó đều phải tu, v́ sao? Chưa viên măn, nhưng hoàn toàn là tu thuận tánh, nên mới nói là “từ Sơ Phát Tâm”.

      Sơ Trụ có tên là Phát Tâm Trụ, thật sự phát tâm tu hành là địa vị Sơ Trụ, tức Sơ Trụ trong Viên Giáo. Chúng ta đều chưa phát tâm [Bồ Đề], nhưng đă phát tâm ǵ? Phát tâm tham, sân, si, mạn, phải biết điều này! Nhưng chúng ta đang thuộc địa vị phàm phu, thật sự là đáng thương! Nếu phàm phu thật sự phát tâm cầu sanh Tịnh Độ, vừa phát tâm, tuy công đức chẳng bằng Sơ Trụ Bồ Tát, thần thông và đạo lực cũng thua kém Sơ Trụ Bồ Tát, nhưng thưa cùng chư vị, xét theo trí huệ và nhân quả, tuyệt đối chẳng thua Sơ Trụ Bồ Tát! Sơ Trụ Bồ Tát cũng là Tín, Nguyện, Hạnh văng sanh Tây Phương Tịnh Độ, chúng ta cũng là Tín, Nguyện, Hạnh văng sanh Tây Phương Tịnh Độ, nên nói theo cơ duyên, nhân quả, sẽ chẳng hai, chẳng khác với hàng đại Bồ Tát! Nhưng mọi người phải hiểu rơ, trong vô lượng pháp môn, chỉ có một môn này đặc biệt, những môn khác chẳng được! Xét theo các môn khác, thứ ǵ cũng đều chẳng bằng, chẳng thể so sánh! Tu Tịnh Độ, phát tâm cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là đặc biệt, chẳng thể sánh cùng những pháp thông thường để bàn luận được!

      Phải thật sự phát tâm, quyết định văng sanh! Có thể sanh về thế giới Tây Phương [hay không], tùy thuộc cái tâm của quư vị có kiên cố hay không! Quư vị nói “tôi đă phát tâm, tôi rất mong văng sanh”, nhưng có thể văng sanh hay không, vẫn chưa nắm chắc. Tôi đă gặp rất nhiều người đến hỏi tôi, họ nói: “Thưa pháp sư! Tôi có thể văng sanh Tịnh Độ hay không?” Tôi liền bảo người ấy: “Không thể! Chắc chắn là quư vị không thể!” Người ấy hỏi v́ sao? Quư vị chẳng có tín tâm, vẫn c̣n hoài nghi, đánh dấu hỏi, làm sao có thể văng sanh cho được? Nếu quư vị đến hỏi tôi: “Tôi quyết định phải văng sanh, tôi chẳng văng sanh sẽ không được, nhất định phải văng sanh”, đến hỏi tôi [như thế], tôi nói quư vị nhất định sẽ văng sanh, v́ sao? Tâm quư vị rất kiên quyết, lẽ đâu chẳng văng sanh? V́ thế, chớ nên hoài nghi chuyện này, hễ hoài nghi th́ chính ḿnh bị thiệt tḥi to lớn. Quyền văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới do chính ḿnh nắm giữ, chẳng do người khác thao túng. Hiểu giáo nghĩa hay không là chuyện thứ yếu, vấn đề là quư vị có tín tâm kiên định hay không? Then chốt ở chỗ này! Ngẫu Ích đại sư nói rất hay, có thể văng sanh hay không là do có tín nguyện hay không quyết định! Sanh về thế giới Tây Phương, phẩm vị văng sanh cao hay thấp được quyết định bởi công phu sâu hay cạn. Công phu là ǵ? Phục đoạn[2] phiền năo là công phu. Ngài chẳng nói niệm Phật nhiều hay ít! Niệm Phật nhiều hay ít chẳng liên quan ǵ hết! Mỗi ngày niệm một câu A Di Đà Phật và mỗi ngày niệm mười vạn tiếng A Di Đà Phật chẳng phải là chuyện khẩn yếu, không sao cả! Người ta niệm một tiếng A Di Đà Phật bèn hàng phục phiền năo, quư vị niệm mười vạn câu A Di Đà Phật nhưng chẳng thể hàng phục phiền năo th́ mười vạn câu chẳng bằng người ta niệm một tiếng! Do đó, có thể chế phục phiền năo hay không, có thể đoạn sạch phiền năo hay không, đó là công phu. Chế phục phiền năo là công phu nông cạn, đoạn trừ phiền năo là công phu sâu xa. Chế phục phiền năo là công phu thành phiến, đoạn trừ phiền năo là nhất tâm bất loạn. Điều này quyết định phẩm vị văng sanh Tây Phương thế giới, chớ nên không biết chuyện này.

      Thật thà niệm Phật là thuận theo Pháp Tánh, chẳng thật thà niệm Phật là trái nghịch Pháp Tánh. Quư vị thấy đối với người niệm Phật chúng ta mà nói, rất nhiều giáo nghĩa rất sâu, rất khó lư giải, nhưng giảng theo Tịnh Độ th́ rất dễ dàng, chẳng khó hiểu. Ngay như kinh Kim Cang là một bộ kinh điển rất sâu, tôn giả Tu Bồ Đề hướng về Thích Ca Mâu Ni Phật thưa hỏi hai vấn đề, một là “nên trụ như thế nào?” và điều kia là “nên hàng phục cái tâm như thế nào?”, hai vấn đề to lớn ấy. Vấn đề lớn thứ nhất là tâm phải an trụ nơi đâu? Ngài Tu Bồ Đề hướng về đức Thế Tôn nêu ra câu hỏi ấy. Ở Trung Quốc, Huệ Khả đại sư cũng hỏi Đạt Ma tổ sư câu sau đây: “Tâm con bất an, phải an cái tâm bằng cách nào? Phải an trụ nơi đâu?” Gần như rất giống với câu hỏi của ngài Tu Bồ Đề. Hàng phục cái tâm như thế nào? Tâm ấy là vọng niệm; vọng niệm rất nhiều, dùng phương pháp ǵ để hàng phục? Một bộ kinh Kim Cang là lời giải đáp của Thích Ca Mâu Ni Phật cho ngài Tu Bồ Đề về hai vấn đề ấy.

      Người Hoa niệm kinh Kim Cang rất đông, người học Phật đều từng niệm kinh Kim Cang. Sau khi đă niệm, quư vị có biết an trụ cái tâm ở đâu hay không? Quư vị có biết hàng phục vọng niệm như thế nào hay chăng? Đức Phật nói nhiều ngần ấy, chúng ta vẫn không hiểu, vẫn chẳng thể thọ dụng. Nếu là người tu Tịnh Độ th́ dễ thực hiện lắm, hăy nên trụ như thế nào ư? [Trụ nơi] A Di Đà Phật, trụ nơi A Di Đà Phật là được rồi. Hàng phục cái tâm như thế nào ư? [Trụ tâm nơi] A Di Đà Phật, tâm liền bị hàng phục. Hễ vọng niệm dấy lên, ngay lập tức [niệm] A Di Đà Phật để xóa bỏ vọng niệm. Cần ǵ phải phiền phức dường ấy? Một câu A Di Đà Phật thảy đều giải quyết, quư vị mới biết câu A Di Đà Phật chẳng thể nghĩ bàn, vấn đề là quư vị có biết sử dụng hay không? Nếu quư vị biết dùng, sẽ cao minh hơn phương pháp trong kinh Kim Cang rất nhiều. Nói thật thà, phương pháp trong kinh Kim Cang chỉ có hàng Đại Bồ Tát kiến tánh mới dùng được, mới hữu hiệu. Đối với cùng một vấn đề, chúng ta dùng [danh hiệu] A Di Đà Phật cũng có hiệu quả giống hệt. Chúng sanh Ngũ Nghịch Thập Ác dùng phương pháp này đều có hiệu quả, đều có thể đạt tới cùng một mục tiêu giống như hàng Pháp Thân đại sĩ, thu được hiệu quả giống hệt. Do vậy mới biết pháp môn này thù thắng.

      Tiếp đó, dẫn kinh Đại Thừa để giải thích Pháp Thân. “Đại kinh vân, dĩ pháp thường cố, chư Phật diệc thường. Thuận Pháp Tánh cố, danh pháp vi sư. Thật phi sở sư dữ năng thể biệt, cố tức sở sư pháp, nhi vi kỳ thân. Tuy danh vi thân, dĩ xuất Ngũ Ấm, cố phi sắc chất tâm trí” (Kinh Đại Thừa nói: “Do pháp là thường, nên chư Phật cũng là thường”. Do thuận theo Pháp Tánh, nên gọi pháp là thầy. Thật ra, chẳng phải là Thể của cái được tôn làm thầy và Thể của chủ thể [thực hiện hành động tôn đối tượng ấy làm thầy] có khác biệt. V́ lẽ đó, lấy pháp được tôn làm thầy để làm thân. Tuy gọi là thân, [thân ấy] đă thoát khỏi Ngũ Ấm, nên chẳng phải là sắc chất hay tâm trí”). Đoạn này giải thích rất hay. Phải biết: Pháp Thân là Lư Thể, Sự nhất định nương theo Lư mà có, cũng có nghĩa là hiện tượng chính là cái được biến hiện. Pháp Thân là cái Thể có thể biến [ra các hiện tượng]. Tất cả muôn pháp do đâu mà có? Nhất định là có nguồn gốc, trong Phật pháp gọi nguồn gốc ấy là Pháp Thân. Pháp Thân chẳng phải là vật chất, chẳng phải là sắc chất, mà cũng chẳng phải là tâm trí, nay chúng ta gọi “tâm trí” là “tri thức”. Pháp Thân chẳng phải là tri thức, mà cũng chẳng phải là vật chất, nhưng tâm pháp và sắc pháp thảy đều do nó biến hiện, nhưng chính nó th́ thứ ǵ cũng chẳng phải! Do đó, nh́n từ phương diện vật chất, chẳng t́m thấy nó, nh́n từ tâm trí cũng chẳng t́m thấy nó! Các khoa học gia và triết học gia hiện thời vận dụng hết sạch tâm trí cũng t́m chẳng được nó, v́ nó chẳng phải là tâm trí. Ắt phải bỏ sạch cả hai thứ ấy (vật chất và tâm trí) th́ sẽ t́m được nó, nó bèn hiện tiền. Ở chỗ nào? Chẳng có một pháp nào không phải là nó, pháp nào cũng đều là nó, pháp nào cũng đều như, chẳng có một pháp nào chẳng phải [là nó], chẳng có một pháp nào chẳng như! Sắc lẫn tâm ắt đều phải ĺa khỏi. Có như vậy th́ mới có thể thấy cái bản thể năng biến trong sắc và tâm. Ngài sử dụng văn tự chẳng nhiều, nhưng nói khá tường tận.

Pháp Thân được giới thiệu tới đây [mà thôi]. Tiếp đó, chúng ta lại xem Báo Thân trong ḍng in theo lối “đảnh cách” trong trang năm mươi tư. Pháp Thân là Lư. Nó vốn sẵn tồn tại, bất sanh, bất diệt: “Báo Thân giả, tu hành sở cảm” (Báo Thân là do tu hành mà cảm được). Báo Thân và Ứng Hóa Thân là tướng, tướng là sở biến (cái được biến). Pháp Thân là Lư, nó có thể biến (năng biến). Do có thể biến, nên nó chẳng có thân, mà cũng chẳng có thọ mạng, cũng chẳng có số lượng, thảy đều chẳng thể nói được; nhưng Báo Thân và Ứng Thân có thân, có thọ mạng, mà cũng có số lượng, v́ chúng là cái được biến. “Pháp Hoa vân, cửu tu nghiệp sở đắc. Niết Bàn vân: - Đại Bát Niết Bàn, tu đạo đắc cố” (Kinh Pháp Hoa nói: “[Báo Thân] do tu nghiệp đă lâu mà đạt được”. Kinh Niết Bàn nói: “Đại Bát Niết Bàn là do tu đạo mà đạt được”). Pháp Thân là ǵ? Pháp Thân là trí huệ, nên gọi là Trí Thân. “Như Như Trí chiếu như như cảnh, Bồ Đề trí huệ, dữ Pháp Tánh tương ứng, tương minh. Tương ứng, như hàm cái tương ứng. Tương minh giả, như thủy nhũ tương minh” (Trí như như chiếu cảnh như như, trí huệ Bồ Đề tương ứng và ngầm hợp Pháp Tánh. Tương ứng là như rương và nắp rương khớp nhau. Ngầm hợp là như nước và sữa ngầm ḥa hợp); đó là Báo Thân. Kinh giảng Báo Thân có hai loại: Một loại là Tự Thọ Dụng Báo Thân, loại kia là Tha Thọ Dụng Báo Thân. Tự Thọ Dụng Báo Thân có khởi đầu, chẳng có kết thúc; cũng có thể nói là “có sanh, chẳng có diệt”, cũng là ư nghĩa bất sanh, bất diệt. Sau khi đă hiện ra, vĩnh viễn chẳng bị diệt. Tha Thọ Dụng Báo Thân có sanh, có diệt, v́ sao? Nhằm hiện ra cho người khác. Kinh thường nói như thế này: Đáng nên dùng thân Phật để đắc độ, bèn thị hiện thân Phật. Trong các thân Phật, nên lấy Báo Thân để độ, bèn hiện Báo Thân; nên dùng Ứng Thân để độ, liền hiện Ứng Thân. V́ vậy, Tha Thọ Dụng Thân có thân, có thọ mạng, có hạn lượng, c̣n Tự Thọ Dụng Thân th́ chẳng có thọ lượng.

      Đây là nói đến Trí. Như Như Trí là chân trí. Trong Phật pháp nói Như (, Tathā) th́ Như là ǵ? “Như” là chân tướng sự thật đúng như vậy, chẳng phải do tạo tác, nên gọi là Như. Nếu là tạo tác, sẽ chẳng được gọi là Như. V́ vậy, Như là một thứ tự nhiên, vốn sẵn là như vậy. Kinh điển nhà Phật vừa mở đầu liền nói: “Như thị ngă văn”. “Như thị”: Đức Phật muốn nói với chúng ta, Ngài nói với chúng ta điều ǵ? Trạng huống vốn sẵn có của vũ trụ và nhân sinh, tuyệt đối chẳng phải là tạo tác, mà cũng chẳng phải là do Ngài tưởng tượng. Trạng huống ấy được gọi là Như. Thích Ca Mâu Ni Phật suốt đời giảng cho chúng ta những ǵ? Giảng những điều như thế đó! Nếu quư vị hiểu hai chữ Như Thị, sẽ chẳng cần phải đọc kinh Phật, v́ đă hiểu toàn bộ, nhất định là đă hoàn toàn thông đạt pháp thế gian và xuất thế gian. V́ vậy, hết thảy các kinh được mở đầu bằng hai chữ này, nhằm nêu rơ tiêu chuẩn của lời Phật dạy ở ngay chỗ đó, tuyệt đối chẳng nói lung tung một câu nào!

      Như Như Trí là trí huệ như thế, chiếu cảnh giới như thế. Trí là Năng Chiếu, cảnh là Sở Chiếu. Trước kia, tiên sinh Âu Dương Cánh Vô đă nói: “Phật pháp chẳng phải là tôn giáo, mà cũng chẳng phải là triết học”. “Chẳng phải là tôn giáo” th́ dễ hiểu, v́ sao “chẳng phải là triết học?” Trong triết học, có Năng và Sở (chủ thể và khách thể, chủ quan và khách quan v.v…). Trong Phật pháp, cũng nói có Năng và Sở, Trí là Năng Chiếu, cảnh là Sở Chiếu. Có Năng và Sở, nhưng Năng và Sở được nói trong Phật môn khác với Năng và Sở trong triết học. Năng và Sở trong triết học là đối lập, c̣n Năng và Sở của Phật pháp là một, chẳng phải là đối lập; nên nó chẳng phải là triết học. Trong triết học chẳng nói Năng và Sở là một, c̣n Năng và Sở trong Phật pháp là một. Kế đó, sách nói “Bồ Đề trí huệ” chính là Như Như Trí, là trí huệ vốn sẵn có trong bản tánh, chẳng phải do tu được, mà là vốn có, tương ứng với Pháp Tánh, tương ứng với cảnh giới được biến hiện bởi Pháp Tánh. Như Như Trí là một phần của Pháp Tánh, cảnh giới Như Như cũng là một phần của Pháp Tánh, Thể của chúng là một. Thể đă là một, nên Sự có thể dung thông. V́ vậy, nó có thể tương ứng và ngầm hợp cùng Pháp Tánh, v́ chúng là một Thể. Tiếp đó, sách nêu tỷ dụ, tương ứng là ǵ? Như cái rương và nắp rương tương ứng. Giống như ở đây có chén trà, chén trà có nắp đậy, đúng là cái nắp ấy đậy vừa khít. “Rương và nắp rương” có ư nghĩa như vậy. Thế nào là “ngầm hợp”? Chúng ta nói nước và sữa ḥa lẫn vào nhau. Chúng ta ḥa lẫn sữa vào nước, nước và sữa hợp thành một thể, chẳng thể phân ra giới hạn. Năng và Sở là một, chẳng hai; đó là điều khác biệt giữa Phật pháp và học thuật hay triết học. Do đó, chư vị phải hiểu: Tận hư không khắp pháp giới là một Thể.

      Cuối đoạn chú giải này là: “Cảnh ngoại vô trí, trí ngoại vô cảnh” (ngoài cảnh chẳng có trí, ngoài trí chẳng có cảnh). Chúng ta nói “mắt thấy” th́ mắt có năng lực to cỡ nào? Chỗ quư vị có thể thấy được đều là [năng lực] của tánh Thấy. Nếu chẳng có tánh Thấy, làm sao quư vị có thể thấy được? Tánh Thấy to cỡ nào? Tận hư không, khắp pháp giới! Tánh Thấy là như vậy, mà tánh Nghe, tánh Cảm Nhận, tánh Nếm, không ǵ chẳng phải là như vậy. V́ thế, người trong thế giới Tây Phương “Thiên Nhăn đỗng thị, Thiên Nhĩ triệt thính, Tha Tâm biến tri” (Thiên Nhăn thấy thấu suốt, Thiên Nhĩ nghe thông suốt, Tha Tâm biết trọn khắp), chẳng có chút ǵ hiếm hoi, lạ lùng! Đó là trí và cảnh tương ứng, ngầm hợp, năng lực hoàn toàn khôi phục. Nay chúng ta nh́n th́ cách tường bèn chẳng thấy, v́ sao chẳng thấy? Do v́ quư vị có phân biệt, chấp trước: “Ở đây có vách tường, đương nhiên chúng ta chẳng thấy”, cho nên quư vị chẳng thấy. Nếu ngày nào đoạn sạch ư niệm ấy, “vách tường ấy chẳng ngại Sự, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”, t́nh h́nh bên kia tường ra sao, quư vị đều trông thấy. V́ thế, chướng ngại ấy là chướng ngại trong tâm lư, chẳng phải là chướng ngại nơi h́nh tướng của sự vật. Tất cả hết thảy chướng ngại thảy đều ở trong tâm. “Tâm sanh tắc chủng chủng pháp sanh, tâm diệt tắc chủng chủng pháp diệt” (tâm sanh ắt các pháp sanh, tâm diệt ắt các pháp diệt). “Các thứ pháp diệt” chẳng phải là pháp chẳng c̣n nữa, mà là chẳng có chướng ngại, bèn nhập cảnh giới Hoa Nghiêm, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, mới biết hết thảy chướng ngại sanh từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chúng ta, đều chẳng phải là sự thật. Tuy chẳng phải là sự thật, nhưng nó khởi tác dụng, đem lại cho chúng ta rất nhiều đau khổ.

      Trước kia, thầy Lư giảng kinh đến chỗ này, thầy dạy chúng tôi làm thí nghiệm. Để thí nghiệm th́ thí nghiệm trên sự tướng rất khó, thầy bèn nói: Nếu các anh nằm mộng, thầy tạo một ấn tượng cho chúng tôi. Trong khi nằm mộng, có khi tự ḿnh biết là đang nằm mộng; trong khi quư vị biết chính ḿnh đang nằm mộng, quư vị nói cảnh giới trong mộng đều là giả, ta nhất định đi xuyên qua vách tường kia th́ nhất định sẽ đi xuyên qua được, chẳng gặp chướng ngại. Có một lần, một bạn học của chúng tôi là ông Châu Gia Lân, Châu Gia Lân nay đang giảng kinh Hoa Nghiêm vào mỗi thứ Tư tại Từ Quang Đồ Thư Quán. Sau khi thầy Lư văng sanh, ông Châu thay thầy giảng kinh Hoa Nghiêm. Châu Gia Lân kể với chúng tôi: Có một hôm, ông ta nằm mộng, đă nghĩ thầy nói “mộng là giả, vách tường cũng là giả”, ta nhất định có thể xuyên qua, bèn thử xem. Kết quả là đi qua được, chẳng bị chướng ngại. Châu Gia Lân đă làm thí nghiệm, xác thực là như vậy.

      Chúng ta lại xem bộ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa của pháp sư Viên Anh. Trong lời Tựa, Ngài có kể một câu chuyện là chuyện của chính Ngài. Có một hôm, Ngài tĩnh tọa trong liêu pḥng, bỗng nhớ có chuyện cần phải làm, bèn bước khỏi chỗ ngồi đi ra ngoài. Sau khi ra khỏi pḥng, Ngài chợt nghĩ: “Cửa pḥng đă đóng, chưa mở, làm sao đi ra được?” Sau khi đă trở ra, quay lại đẩy cửa th́ đă gài then bên trong. Trong một niệm ấy, Ngài chẳng nghĩ cửa ấy đă đóng, liền đi ra được. Niệm thứ hai, [nghĩ là] cửa đă đóng, trở lại đẩy cửa, chẳng vào được, phải t́m người lấy ch́a khóa mở cửa mới có thể vào pḥng. Một niệm quên bẵng, bèn đi qua được; do vậy, tất cả chướng ngại đều do vọng niệm tạo thành.

Quư vị lại đọc Hư Vân Lăo Ḥa Thượng Niên Phổ, trong đó có chép câu chuyện, chuyện ấy là sự thật. Có một lần, lăo ḥa thượng xuống núi, chẳng biết đi đến nơi đâu. Ngài đi đường, tâm thanh tịnh, cũng trụ trong Định. Trên đường, gặp mấy người cũng là người xuất gia, cầm đèn lồng. Trên đường, họ đụng phải lăo ḥa thượng Hư Vân, bèn hỏi: “Thưa lăo ḥa thượng! Trời đă tối thế này, Ngài đi đường một ḿnh sao chẳng có đèn đuốc ǵ?” Lăo ḥa thượng vừa nghe câu ấy, ngay lập tức trời tối đen. Khi Ngài c̣n chưa nghe lời ấy th́ trời sáng ngời, chẳng tối tăm. Ngài ra đi lúc ba giờ, vĩnh viễn trụ trong ba giờ, nên bầu trời một mực sáng ngời. Kết quả là người ta vừa nhắc nhở “trời đă tối”, Ngài nghe nói vậy, ngay lập tức trời đen kịt. Hết thảy duy tâm tạo! Những vị ấy đều là người trong hiện thời, cách chúng ta chẳng xa cho mấy, đă chứng minh cho chúng ta: “Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là nhân tố căn bản”; đó là điều đức Phật dạy trong kinh Hoa Nghiêm, những người tu hành trong hiện thời cũng đă chứng tỏ cho chúng ta.

      Trong đoạn tiếp theo, chúng ta xem tới Ứng Thân, xem ḍng thứ hai đếm từ dưới lên trong trang năm mươi lăm. Đoạn văn này là lời Sớ, chẳng phải là Sao, ở chỗ này bị in lầm, in thấp xuống một chữ, phải in theo lối đảnh cách th́ mới đúng. “Ứng Thân giả, ứng đồng vạn vật vi thân dă, ứng đồng liên tŕ vi thọ dă, ứng đồng trường đoản vi lượng dă” (Ứng Thân là ứng hiện thân giống như muôn vật, ứng hiện ngay cả có cùng thọ mạng, ứng hiện có thân lượng cao hay thấp giống như họ), cho đến đây là lời Sớ, chẳng phải là chú giải. Kế đó là “như cổ đáp hưởng, đại tiểu tùy thân” (như cái trống phát ra tiếng [khi bị gơ], tùy thuộc thân trống [lớn hay nhỏ mà tiếng trống phát ra] to hay nhỏ), đó là lời chú giải. Ứng Thân là do cảm ứng đạo giao cùng chúng sanh mà hiện. Chúng sanh có cảm, Phật, Bồ Tát có ứng, nên Ứng Thân cũng giống như Hóa Thân; nhưng Ứng và Hóa vẫn khác nhau. Ứng Thân là ǵ? Giống như người ấy cũng đầu thai, giống như Thích Ca Mâu Ni Phật đến thế gian này, thị hiện hoàn toàn giống như loài người chúng ta, sống trên thế gian này tám mươi năm, đó là Ứng Thân. Hóa Thân là bỗng dưng hiện tiền, sau khi làm xong chuyện bèn chẳng c̣n nữa, đó là Hóa Thân. Như xưa kia phu nhân Châu Bang Đạo gặp Địa Tạng Bồ Tát, đó là Hóa Thân, bà ta gặp Ngài ở Nam Kinh. Lần này, tôi đến Nam Kinh, có đến viếng căn nhà cũ của bà. Căn nhà bà đă ở rất lớn, hiện thời hơn một nửa được dùng làm nhà trẻ (ấu trĩ viên, kindergarten), [phần đất dùng làm] nhà trẻ ấy chẳng thể trả lại cho bà ta. Con trai lớn của bà ta nay c̣n đang sống ở Nam Kinh, họ trả lại cho con bà một phần ba căn nhà ấy, sân cũng rất lớn.

      Bà ta đang ở trong nhà, bỗng dưng có một người xuất gia đến hóa duyên, nói là từ Cửu Hoa Sơn đến. Thuở ấy, Châu phu nhân c̣n chưa tin Phật, chẳng cho, chẳng tặng vật phẩm hóa duyên cho vị ấy, người xuất gia đó bèn bỏ đi. Sau khi vị ấy đi rồi, bà mới nghĩ: Từ cửa lớn c̣n phải qua tầng cửa thứ hai, tầng cửa thứ ba, cả ba tầng cửa, cửa đều chẳng mở, sao vị ấy có thể bước vào được? Sau khi bước ra, cũng chẳng có ai mở cửa cho vị ấy, làm sao vị ấy đi ra được? Ngờ vực chẳng giải quyết được! Câu hỏi ấy măi cho đến khi sang Đài Loan, gặp thầy Lư tại Đài Trung, bà ta đem chuyện ấy kể với thầy Lư. Thầy Lư bảo: “Địa Tạng Bồ Tát đến hóa duyên với bà, đó chẳng phải là phàm nhân, mà là Hóa Thân”. Bà ta mới hiểu, nên mới niệm kinh Địa Tạng, mỗi ngày thờ phượng Địa Tạng Bồ Tát. Bà có viết bài Ngộ Địa Tạng Bồ Tát Kư kể câu chuyện ở Nam Kinh ấy. Đó gọi là Hóa Thân, nói thật ra cũng là đến độ bà ta. Tuy khi ấy chẳng độ, bà ta đến Đài Loan mới học Phật, nhưng đó là cái nhân. Nếu chẳng có chuyện ấy, đến Đài Loan, bà ta cũng chưa chắc chịu học Phật. Gặp chuyện như thế, chuyện này rất rơ ràng.[Trong cuộc gặp gỡ ấy, bà ta cùng vị tăng đó] hỏi đáp, tṛ chuyện, nói rất nhiều câu, tuyệt đối chẳng phải là nằm mộng, tuyệt đối chẳng phải là giả, nên [bà ta có] ấn tượng hết sức sâu đậm. Nghĩ đến chuyện này mới biết Phật, Bồ Tát trong Phật pháp là thật, chẳng phải là giả. Bà ta vô cùng hối hận: “Khi đó, Bồ Tát chỉ hóa duyên mấy cân dầu mè, nhưng chúng tôi chẳng biếu tặng”.

      Đó là nói về Ứng và Hóa. Ứng và Hóa sai biệt ở chỗ này. Ứng Thân c̣n có thọ lượng, giống như ba ngàn năm trước, Thích Ca Mâu Ni Phật đă xuất hiện trong thế gian, đó là Ứng Thân. Ngài trụ trong thế gian này tám mươi năm bèn nhập diệt. Đó là thọ lượng của Ngài, thọ lượng của Ngài là tám mươi tuổi. “Ứng đồng trường đoản” (ứng hiện cao hay thấp giống như nhau). Theo kinh điển ghi chép, Thích Ca Mâu Ni Phật thân cao trượng sáu, tức là một trượng sáu thước, đó là thân thể cao lớn; nhưng chư vị phải hiểu, chẳng phải là tính theo thước hiện thời. Theo thước tấc hiện thời, một trượng sáu th́ kinh khủng quá, quá cao! Thước thuở ấy ngắn hơn thước hiện thời rất nhiều, đại khái một thước [thuở đó] c̣n chưa đến sáu tấc hiện thời, dài hơn năm tấc một chút. Nh́n từ chỗ này, chúng ta sẽ chẳng cảm thấy rất kỳ quái, vóc dáng Phật tuy cao, vẫn chẳng phải là rất cao. Thước thuở ấy khác với thước hiện tại. Nói đến Ứng Thân bèn có thân tướng, thọ mạng, vóc dáng cao thấp, những thứ ấy đều có. Giới thiệu đơn giản cùng chư vị ba thân đến chỗ này.

      Chúng ta lại xem đoạn văn kế tiếp, trong trang năm mươi sáu, ḍng thứ năm từ dưới đếm lên. “Năng vi thân, phi thân” (có thể làm thân hoặc chẳng phải là thân), chữ Năng phải đọc liên tiếp một mạch, tức là “năng vi thân, năng vi phi thân”. “Năng vi thường thọ, vi vô thường thọ, năng vi vô lượng, năng vi hữu lượng” (có thể có thọ mạng thường hằng, hoặc tuổi thọ chẳng thường hằng. Có thể là vô lượng hoặc là có hạn lượng). Đây là nói Pháp Thân có thể tùy ư tự tại thị hiện, nhưng “tùy ư” chẳng phải là thuận theo ư của chính ḿnh, v́ chính nó chẳng có ư. Nếu chính ḿnh có ư, sẽ biến thành phàm phu, hữu ư sẽ chẳng tự tại. Tùy ư là tùy theo ư của chúng sanh. Kinh Lăng Nghiêm nói rất hay: “Thuận theo tâm chúng sanh mà ứng với khả năng tiếp nhận của họ”. Đó là chánh xác. Hiện thời, chúng ta chẳng thể tự tại biến hóa giống như Phật, Bồ Tát là v́ chúng ta hữu ư. Hễ hữu ư sẽ chẳng có cách nào, chẳng thể hiện. Khi nào đạt đến vô ư, bèn có thể tùy thuận chúng sanh, chứ hữu ư th́ chẳng có cách nào!

      Pháp Thân đại sĩ chẳng dùng tâm ư thức; không chỉ chẳng có ư, mà cũng chẳng có tâm. Tâm ư thức đều chẳng có, sử dụng Chân Như bản tánh, nên có thể tùy loại hóa thân, có thể “thuận theo tâm chúng sanh, ứng với khả năng tiếp nhận của họ”. Chúng ta gặp phiền phức v́ có tâm ư thức, tâm ư thức là pháp hữu vi. Theo cách liệt kê danh mục trong Bách Pháp, khoa mục đầu tiên trong pháp hữu vi là tám thức, tám thức là tâm ư thức. Tâm ư thức là giả, chẳng thật. Tương ứng với tám thức, nay chúng ta nói là “tác dụng tâm lư”, hoặc “hiện tượng tâm lư”, là năm mươi mốt Tâm Sở, những thứ này đều gọi là pháp hữu vi. Trong Bách Pháp, chỉ có sáu pháp cuối cùng là pháp vô vi. Những pháp trước đó như Tâm, Tâm Sở, Sắc Pháp, Tâm Bất Tương Ứng Hành Pháp, tổng cộng chia thành chín mươi bốn loại, toàn là pháp hữu vi. Kinh Kim Cang đă nói: “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Nay phàm phu chúng ta coi những pháp hữu vi ấy đều là thật, phân biệt, chấp trước, so đo trong ấy, khổ khôn xiết kể! Phật thấy chúng sanh làm như vậy, gọi họ là “kẻ đáng thương xót”, v́ sao là “đáng thương xót?” Vốn chẳng có, mà cứ tự ḿnh khăng khăng biến thành có. Chẳng khổ mà chính họ khổ sở ngần ấy, nên mới nói là “đáng thương”. Nếu thật sự có khổ, Phật sẽ chẳng gọi quư vị là “đáng thương”. Chẳng có khổ mà chính ḿnh t́m khổ, đó là “đáng thương”. Vốn chẳng có khổ mà chính ḿnh khư khư t́m khổ; ngỡ giả là thật, đáng thương thay! V́ thế, các pháp hữu vi là giả, chẳng thật!

      V́ lẽ đó, quư vị phải giác ngộ, thật sự giác ngộ sẽ ĺa khổ, được vui, từ nay trở đi sẽ chẳng c̣n khổ nữa. V́ sao? Chẳng c̣n chấp trước, chẳng c̣n so đo. Người với người qua lại với nhau chớ nên coi là thật, v́ sao? Giả trất! Người khác nói thích ta, yêu mến ta thế này thế nọ, quư vị nghe lời ấy đừng ngỡ là thật, giả trất, chẳng thật! V́ sao? Tam tâm, nhị ư. Tam tâm là ǵ? Tâm ư thức, thức thứ tám, thức thứ bảy, và thức thứ sáu gọi là “tam tâm”. Nhị ư: Thức thứ sáu là ư thức, thức thứ bảy là ư căn, nên gọi là “nhị ư”. Tam tâm nhị ư chẳng phải là thật. Chúng ta đối với người khác cũng là tam tâm nhị ư, cũng chẳng thật! Hôm nay tôi đối với quư vị tốt đẹp dường ấy, nói không chừng ngày mai liền giở quẻ, đâu là thật? Chính ḿnh đối với chính ḿnh c̣n chưa thể bảo đảm, há c̣n có thể bảo đảm những lời người khác nói là thật? Há cái tâm ấy là thật? Nếu quư vị ngỡ là thật, sẽ hoàn toàn bị lừa gạt. Bị ai lừa gạt? Chẳng phải là bị kẻ khác lừa gạt, mà là tự ḿnh lừa gạt chính ḿnh.

      Ngày nào chẳng dùng tâm ư thức, mà dùng chân tâm, sẽ là thật, chẳng giả. Đến khi nào? Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo phá một phẩm vô minh, chứng một phần chân tánh, chân tánh là chân tâm; từ đó trở đi bèn dùng chân tâm, chẳng dùng tâm ư thức, đó là thật. V́ lẽ đó, chúng ta qua lại với hết thảy mọi người, trong tâm hiểu rơ, toàn là giả! Bất luận họ nói như thế nào, chúng ta cười cười mà thôi, quư vị thấy chúng ta vui sướng lắm, tự tại lắm, đă hiểu rơ chân tướng sự thật. Ai là thật? Người nào thật sự yêu thương chúng ta? Phật, Bồ Tát thật sự yêu thương chúng ta. Chẳng phải là Phật, Bồ Tát th́ toàn bộ đều là giả! [Kẻ khác] nói dễ nghe đến mấy, hăy nghe xong rồi thôi, ngàn vạn phần đừng ngỡ là thật. Sự thật ấy là chân tướng sự thật, phải hiểu rơ ràng: Chúng ta chẳng có phiền năo, ưu lự cũng chẳng có, đau khổ cũng chẳng có, ĺa khổ được vui. Nếu hiểu rơ chân tướng sẽ ĺa khổ được vui, hễ mê nơi chân tướng sẽ khổ chẳng thể nói nổi! Chúng ta thấy có rất nhiều người v́ cảm t́nh, v́ tài vật, v́ mọi thứ mà lo lắng, đáng thương! Chúng ta thấy [những kẻ ấy] đúng là đáng thương xót. V́ sao? Toàn là giả, chẳng có ǵ là thật. Thế gian có ǵ là thật? Thân thể đều là giả, sanh chẳng đem theo đến, chết chẳng mang theo đi, ngay cả thân thể cũng là giả, huống hồ vật ngoài thân! V́ thế, đối với thân thể c̣n chớ nên chấp trước, huống hồ vật ngoài thân!

Có được mất hay không? Chẳng có được hay mất! Quư vị nói ta đạt được, giả trất! Quư vị đạt được thứ ǵ? Đêm ngủ nhắm mắt lại, khi đă ngủ say, người ta khiêng thân thể quư vị đi, cũng chẳng biết, có thứ ǵ là của chính ḿnh? V́ lẽ đó, phải giác ngộ, chẳng có ǵ là của chính ḿnh, thứ ǵ cũng đều chẳng đạt được. Đă là thứ ǵ cũng đều chẳng đạt được th́ thứ ǵ cũng chẳng mất đi, về căn bản chẳng có được thứ ǵ th́ lấy đâu ra mất? Lo được, lo mất đem lại bao nhiêu nỗi phiền năo. Sau khi quư vị đă hiểu rơ, vốn chẳng có được, mà cũng chẳng có mất, lẽ nào chẳng tự tại? Đạt được thứ ǵ đều giống như nằm mộng. Trong mộng có được một mớ tiền của, giả trất. Mất đi cũng giống như nằm mộng. Trong mộng mất một món tiền lớn, cũng là giả, chẳng có ǵ là thật. Để giảng với mọi người về chân tướng trong vũ trụ, kinh Phật thường nói đến Thật Tướng của các pháp, Thật Tướng là như thế đó. Không chỉ là trong lục đạo, Thật Tướng là như thế, mà Thật Tướng trong tứ thánh pháp giới cũng chẳng phải là ngoại lệ, thảy đều là như thế đó. “Phàm những ǵ có tướng, đều là hư vọng”. Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng được bao gồm trong ấy, chẳng thể nói Tây Phương Cực Lạc thế giới là ngoại lệ, chẳng có, nó cũng là hư vọng. Chỗ bất đồng là: Nó là cảnh giới được hiện bởi tâm thanh tịnh, c̣n cơi này là cảnh giới do tâm ô nhiễm hiện ra, khác nhau ở chỗ này! V́ vậy, chớ nên chấp trước lục phàm, mà tứ thánh cũng chớ nên chấp trước. Nếu quư vị chấp trước Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ cũng sai. Hết thảy đều chẳng chấp trước sẽ là đúng.

 

Tập 11

 

Xin mở kinh bổn, trang năm mươi sáu.

      Phần trước là nói Pháp Thân “thuận theo tâm chúng sanh, ứng với khả năng nhận lănh của họ”. Trong đoạn văn này có nói Ứng Thân của A Di Đà Phật ở Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng là có hạn lượng. Đoạn văn này nằm trong trang năm mươi sáu, nơi ḍng thứ ba từ dưới đếm lên, nói về “hữu lượng chi lượng” (số lượng có hạn lượng). Xem từ câu thứ hai:

      “Như A Di Đà thật hữu kỳ hạn, nhân thiên mạc số, thị hữu lượng chi vô lượng” (như A Di Đà Phật thật sự có kỳ hạn, nhưng trời người chẳng thể tính toán được, tức là vô lượng trong hữu lượng). Vấn đề này hết sức trọng yếu, v́ rất nhiều người thấy kinh nói A Di Đà Phật là vô lượng thọ, lại thấy trong kinh đức Phật có nói A Di Đà Phật trong tương lai sẽ nhập diệt, Quán Âm Bồ Tát [nối ngôi] thành Phật. Sau khi Quán Âm Bồ Tát thành Phật, hóa độ chúng sanh cũng là vô lượng thọ. Sau khi Ngài nhập diệt, Đại Thế Chí Bồ Tát thành Phật. Điều này xác thực là có nói trong kinh. Nói như vậy, thọ lượng của A Di Đà Phật là hữu lượng (có hạn lượng), làm sao có thể gọi là vô lượng? Ở đây đă giải thích, giải thích rất hay. Trong kinh Vô Lượng Thọ đă nói, giả sử mười phương chúng sanh, đây là nói giả sử, chẳng thật, mười phương tất cả hết thảy chúng sanh đều chứng quả Bích Chi Phật, Bích Chi Phật c̣n cao hơn A La Hán, thần thông đều giống như Mục Kiền Liên, Mục Kiền Liên thần thông bậc nhất, thọ mạng đều là luận bằng nhiều kiếp, người đông như thế, trọn hết tuổi thọ hợp sức cùng nhau tính toán thọ lượng của A Di Đà Phật, đều tính chẳng ra! Kinh sánh ví [con số] có thể tính được giống như một giọt nước trong biển cả, tính không ra, giống như nước trong biển cả! Chúng ta có thể suy nghĩ: Thọ lượng của A Di Đà Phật là vô lượng hay là có hạn lượng? Do tính không ra, nên là vô lượng. V́ thế, “vô lượng” nói ở đây là “vô lượng trong hữu lượng”. Tuy là hữu lượng, nhưng chẳng ai có thể tính toán ra, nên có thể nói là vô lượng. Chư vị phải biết kinh nói điều này là nói tới Ứng Thân của A Di Đà Phật, A Di Đà Phật ở Tây Phương Cực Lạc thế giới là Ứng Hóa Thân. Đương nhiên, đối với Báo Thân, các kinh thường có nói là “hữu thỉ vô chung” (có khởi đầu, nhưng chẳng có kết thúc), sau khi chứng đắc bèn vĩnh viễn chẳng diệt. Báo Thân là thân trí huệ, là vô lượng; đó là vô lượng trong vô lượng. Đối với Pháp Thân, chẳng bàn tới hữu lượng hay vô lượng v́ nó chẳng thuộc vào số lượng, nên thảy đều chẳng thể nói được. Có khi sẽ gặp phải câu hỏi này!

      Ngoài ra c̣n có một câu hỏi khác nơi ḍng thứ hai trong trang năm mươi tám. Trong Đại Luận, tức là Đại Trí Độ Luận, có một đoạn như thế này: “Đại luận tam thập lục vân” (Đại Luận, quyển ba mươi sáu có chép). Trong quyển ba mươi sáu, chúng ta biết Đại Trí Độ Luận gồm một trăm cuốn; trong quyển ba mươi sáu có một đoạn chép như thế này: “Đương tri Thích Ca cánh hữu thanh tịnh quốc độ” (Hăy nên biết Phật Thích Ca cũng có cơi nước thanh tịnh). “Thích Ca” là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật cũng có Tịnh Độ, “như A Di Đà Phật quốc” [nghĩa là Tịnh Độ của Thích Ca Mâu Ni Phật] giống hệt thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật. “A Di Đà Phật diệc hữu bất nghiêm tịnh quốc” (A Di Đà Phật cũng có cơi nước chẳng nghiêm tịnh), [ư nói Ngài] cũng có cơi nước chẳng phải là Tịnh Độ, cũng có uế độ, “như Thích Ca Văn Phật quốc” (giống như cơi nước của Thích Ca Mâu Ni Phật), [tức là] giống như thế giới Sa Bà của chúng ta trong hiện thời. Đă đọc Đại Trí Độ Luận, người ấy chẳng mong sanh về Tây Phương Tịnh Độ nữa, v́ sao? Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cũng có Tịnh Độ chẳng khác ǵ Tây Phương Cực Lạc thế giới, cớ sao lại phải sang bên ấy (cơi Cực Lạc)? V́ sao phải đến nơi xa xôi ngần ấy, qua khỏi mười vạn ức cơi Phật, sang bên đó để làm ǵ? Đại Luận nói không sai, nếu chúng ta hỏi: Tâm địa của Thích Ca Mâu Ni Phật có thanh tịnh hay không? Thanh tịnh th́ đương nhiên hiện Tịnh Độ, đó là đạo lư nhất định. V́ thế, chuyện này nói theo Lư sẽ thông suốt, về Sự th́ vẫn có thể. Vấn đề hiện thời là chúng ta phải làm như thế nào th́ mới có thể sanh về Tịnh Độ của Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật?

      Chuyện này vẫn là điều được nói trong phần trước. Trong phần trước đă có tỷ dụ, học tṛ theo thầy, nhưng có nghe theo giáo huấn của thầy hay không? Nếu thật sự nghe theo giáo huấn của thầy, thầy dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới chính là sanh về thế giới Cực Lạc của Thích Ca Mâu Ni Phật! V́ sao? Kinh đă nói rất rơ ràng, sanh về một cơi Phật tức là sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, chính là sanh trong hết thảy các cơi Phật. “Hết thảy chư Phật” đương nhiên bao gồm Thích Ca Mâu Ni Phật. Thấy A Di Đà Phật, thấy một vị Phật là thấy hết thảy chư Phật. Chúng ta biết điều này, có thể khăng khăng một mực niệm A Di Đà Phật, bất luận đọc kinh luận thấy đức Phật thuyết pháp như thế nào đều chẳng c̣n hoài nghi nữa! V́ sao Thích Ca Mâu Ni Phật không dạy chúng ta sanh về Tịnh Độ của Ngài, mà dạy chúng ta sanh về Tịnh Độ của A Di Đà Phật? Thưa cùng chư vị, sanh về Tịnh Độ của A Di Đà Phật dễ dàng! Đó là do bổn nguyện của đức Di Đà đă phát trong lúc tu nhân: Chỉ cần chấp tŕ danh hiệu, Ngài liền đến tiếp dẫn. Đối với Tịnh Độ của Thích Ca Mâu Ni Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng phát nguyện ấy, chẳng nói quư vị niệm danh hiệu của Ngài, Ngài liền đến tiếp dẫn quư vị sanh về Tịnh Độ. T́m khắp Đại Tạng Kinh cũng chẳng t́m thấy lời ấy. Điều này nói rơ: Văng sanh Tây Phương Tịnh Độ dễ hơn hết thảy các cơi Tịnh Độ khác của chư Phật. Sanh về Tây Phương Tịnh Độ giống như sanh về Tịnh Độ của hết thảy chư Phật, v́ sau khi quư vị đă đến Tây Phương Tịnh Độ, muốn đến Tịnh Độ của vị Phật nào bèn đến Tịnh Độ của đức Phật ấy; đó gọi là “một sanh, hết thảy sanh”.

      Trong đoạn lớn này, chúng tôi giới thiệu phần Thích Danh (釋名:giải thích tên kinh) đến đây, lại xem đoạn lớn thứ hai. Đoạn lớn thứ hai là Biện Thể (辨體: biện định bản thể của bộ kinh này) ở trong trang năm mươi chín, [xem từ] ḍng thứ năm. “Tiền văn giải thích năng thuyết, sở thuyết, năng quán, sở quán, giai năng thuyên danh” (Đoạn văn trên đây đă giải thích người nói, đối tượng được nói, người quán, đối tượng được quán, đều là giải thích về danh xưng của bộ kinh). Đoạn lớn trên đây nhằm giải thích những diệu nghĩa được bao hàm trong tựa đề kinh này, c̣n đoạn này nhằm hiển Thể. Thể là nói đến tánh chất của nó, cũng có nghĩa là căn cứ lư luận mà đức Phật đă dùng để giảng bộ kinh này. Đức Phật đă dựa vào đâu để nói Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh? Nhất định phải biết căn cứ lư luận của nó th́ tín tâm của chúng ta mới có thể thật sự kiến lập. Nếu không biết căn cứ lư luận của nó mà tin tưởng, chỉ có thể nói là người ấy thiện căn sâu dầy. Được lắm! Người ấy có thể thành tựu. Có những người mà nếu quư vị chẳng có căn cứ lư luận, họ sẽ chẳng tin, chẳng thể tiếp nhận, nên phần Biện Thể hết sức trọng yếu.

      Trong phần giải thích có câu: “Tầm danh, ư tại vong danh hiển Thể” (t́m hiểu ư nghĩa của tên gọi với dụng ư quên đi cái tên gọi để hiển lộ cái Thể), câu này rất quan trọng. Nói thật ra, trong kinh luận thường dạy chúng ta: “Nghe giáo”, cổ nhân nói là “thính giáo”, c̣n nay chúng ta nói là “nghe kinh” hoặc “nghe khai thị”, cổ nhân dùng chữ “thính giáo”, thính giáo phải tiêu quy tự tánh. Để tiêu quy tự tánh, nhất định phải ĺa tướng ngôn thuyết, ĺa tướng danh tự, ĺa tướng tâm duyên th́ mới có thể tương ứng với tâm tánh. Nếu chấp trước những thứ ấy, sẽ không tương ứng. Đức Phật nói ra tên kinh cũng là nói đến Giáo; nếu chúng ta có thể ĺa tướng ngôn thuyết, ĺa tướng danh tự, ĺa tướng tâm duyên, bèn kiến tánh. Tánh là ǵ? Tánh là Thể của kinh. Do vậy, có thể biết: Đức Phật đă dựa vào đâu để nói kinh? Dựa trên Chân Như bản tánh. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới được kiến lập trên bản tánh, đức Phật nói hết thảy các kinh cũng do từ trong tâm tánh lưu lộ, nên có thể tin tưởng điều này.

      Tiếp theo đó, sách giải thích ư nghĩa của việc Biện Thể, phần này nằm trong phần Chánh Văn, trang sáu mươi mốt, hàng thứ hai: “Thứ Biện Thể giả, Thể thị chủ nghĩa” (Kế đến là Biện Thể, Thể là nghĩa lư chủ yếu). “Thứ” () là đoạn thứ hai, “Sơ” (: đoạn đầu tiên) là Thích Danh (giải thích tên kinh), là đoạn lớn thứ nhất. Đây là đoạn lớn thứ hai, tức Biện Thể trong năm tầng Huyền Nghĩa. Biện () là biện định, phân biệt, Thể () là tánh thể của bản kinh. Trước hết giải thích chữ Thể theo cách nào? Thể là “chủ nghĩa” (主義: nghĩa lư chủ yếu), Chủ là “tân chủ” (賓主: khách và chủ). Trong phần trước, giảng về Danh (tên kinh) th́ Danh chẳng phải là Chủ. Ví như tôi xuất gia, sư phụ đặt cho tôi pháp danh là Tịnh Không, Tịnh Không có phải là tôi hay không? Chẳng phải! Con người này mới là tôi. Danh tự th́ ta đổi tên chẳng sao cả; ta có thể đổi tên, chẳng thể đổi cái thân. Thân là một, là chủ, ta thích tên ǵ cũng đều được cả. Quư vị thấy khi Hoằng Nhất đại sư viết văn hay vẽ vời, con dấu khắc tên của Ngài nói chung có đến tám chín mươi loại, sợ rằng chính Ngài cũng chẳng biết rơ [chính ḿnh thật sự có bao nhiêu con dấu]! Danh là giả danh, “tầm danh” là phải t́m Chủ của nó th́ mới được, Chủ chính là Thể. “Danh bàng thị Tân”, [nghĩa là] xét theo mối quan hệ giữa chủ và khách, Danh (tên kinh) là khách. “Thể chánh thị Chủ” (Thể đúng là Chủ), dùng Danh để hiển Thể. “Danh thị giả danh, Thể thị thực chất, nhất thiết danh hạ, giai hữu kỳ Thể” (Danh là giả danh, Thể là thực chất. Trong hết thảy các tên gọi đều có Thể của chúng). Nếu danh ấy chẳng có Thể, danh cũng chẳng thể tồn tại. Trong kinh Phật thường dùng tỷ dụ “quy mao, thố giác” (龜毛兔角: lông rùa, sừng thỏ), đó là có Danh, nhưng chẳng có Thể. Con thỏ chẳng có sừng, nói “sừng thỏ” chính là có Danh nhưng chẳng có Thể, chẳng có ư nghĩa ǵ! Có Danh, nhất định phải có Thể, phải có thật thể. Đó là nói về ư nghĩa của Thể.

      Tiếp đó, chánh thức giải thích chữ “chủ chất”. “Thích Luận vân, trừ chư pháp Thật Tướng, dư giai ma sự” (Thích Luận viết: “Trừ Thật Tướng của các pháp ra, những thứ khác đều là ma sự”), đây là căn cứ trên những điều được giảng trong kinh Đại Thừa, đó là ư nghĩa được nói trong kinh Hoa Nghiêm. “Ma sự” là ǵ? Ma là vùi dập, phiền năo, đau khổ. Phàm những ǵ chẳng tương ứng với Thật Tướng đều có khổ. Tư tưởng, kiến giải, và hành vi của lục đạo phàm phu đều trái nghịch Thật Tướng, nên tam giới đều đau khổ. Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát chưa thể hoàn toàn tương ứng với Thật Tướng, chỉ tương ứng một phần, chưa thể hoàn toàn tương ứng, các Ngài vẫn c̣n có những nỗi khổ nhỏ, ít hơn chúng ta rất nhiều. Chỉ có viên thật Bồ Tát, [tức là] các vị Bồ Tát chân thật trong Viên Giáo, là những vị Bồ Tát đă chứng đắc Pháp Thân mới thật sự ĺa khổ được vui, vĩnh viễn chẳng có ma sự, có thể tương ứng với Thật Tướng. Chúng ta nên biết sự thật này, biết giống như chính ḿnh có gốc bệnh ấy, biết chính ḿnh mắc loại bệnh ǵ. Đă biết bệnh, chúng ta sẽ có thể t́m bác sĩ, t́m thuốc, mới có thể trị khỏi bệnh ấy. Sợ nhất là chính ḿnh mắc bệnh nhưng chẳng biết, chuyện ấy đáng sợ nhất! V́ lẽ đó, người tu hành phải biết những ǵ? V́ sao phải tu? Trong tương lai, hy vọng sẽ đạt được kết quả như thế nào? Phải hiểu rành rẽ, rơ ràng chuyện này. Quyết định chớ nên hồ đồ, mê muội tu tập, chớ nên như thế, lăng phí thời gian, lăng phí tinh thần, chẳng đạt được kết quả!

“Đại Thừa kinh dĩ Thật Tướng vi ấn, vi kinh chánh thể” (Kinh Đại Thừa lấy Thật Tướng làm ấn, làm chánh thể của kinh). Hết thảy các kinh Đại Thừa do đức Phật đă giảng đều lấy Thật Tướng làm Thể. Thật Tướng là chân tướng của vũ trụ và nhân sinh. Nói cách khác, hết thảy các kinh đều nhằm nói rơ chân tướng của vũ trụ và nhân sinh, căn cứ trên Thật Tướng của các pháp để nói. Có thể thấy mỗi câu trong kinh đều là chân thật, chẳng có câu nào là nói hư giả. Những điều kinh nói dường như mâu thuẫn với kiến thức thông thường của chúng ta, t́nh h́nh ấy rất nhiều, đó là v́ chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay đă tích lũy kinh nghiệm từ các tư tưởng và kiến giải sai lầm, [nên nhận thấy những ǵ kinh điển đă dạy] chẳng tương ứng với kinh nghiệm của chúng ta. Thật ra vẫn là do chúng ta sai lầm, chẳng phải là đức Phật nói sai, mà do chính chúng ta sai quấy. Bản thân chúng ta nghĩ sai, thấy sai. Người biết tu hành nhất định phải nương theo lư luận và phương pháp do đức Phật đă nói để uốn nắn những sai lầm của chính ḿnh, đó gọi là tu hành. Có rất nhiều đồng tu, mới học cũng như học đă lâu đều có [căn bệnh như thế này]: Xem kinh Phật, ta nghĩ như thế này, thế nọ, ta có cách nh́n thế này, thế nọ. Cái [quan điểm] “theo cách nghĩ, cách nh́n của ta” ấy chính là kinh nghiệm sai lầm tích lũy từ vô thỉ kiếp. Đức Phật giảng cho họ, họ vẫn chẳng tin, vẫn phải đưa ra cách nghĩ, cách nh́n của chính ḿnh, vậy th́ khó thể thành tựu được ǵ! Kinh bảo chuyện ấy là “thiện căn của các chúng sanh đó chưa chín muồi, vẫn chưa thể hoàn toàn tiếp nhận”.

      Thật Tướng của các pháp đến tột cùng là như thế nào? Nếu quư vị hỏi là như thế nào th́ t́nh h́nh ngay khi ấy chính là nó đó. Những ǵ quư vị thấy, nghe, tiếp xúc là Thật Tướng của hết thảy các pháp. Đức Phật giảng cho chúng ta những tướng chân thật ấy. Đó là Thật Tướng. Thật Tướng ở ngay trước mặt chúng ta, v́ sao chúng ta chẳng thấy? Chúng ta đă xen tạp rất nhiều khái niệm hư vọng vào tướng chân thật, rối loạn tướng chân thật, biến chân tướng thành sai lầm. Nói cách này mọi người vẫn rất khó hiểu, [tôi phải dùng một thí dụ để nói]. Như trong hội Lăng Nghiêm, đức Phật đă nêu một thí dụ, Ngài nêu [thí dụ] mắt thấy sắc. Đoạn kinh văn ấy rất dài, [tức là phần] “mười phen hiển lộ cái Thấy”, chỉ rơ tánh Thấy của chúng ta, thấy Thật Tướng. Thật Tướng là sắc tánh, tánh Thấy thấy sắc tánh, đó là chân thật, là sở kiến của đức Phật và các vị đại Bồ Tát. Tánh Nghe nghe thanh tánh. Tánh tương ứng với Tánh, Tánh và Tánh dung thông, Năng và Sở là một, chẳng hai, nên Tánh và Tướng như một. Thiền gia nói “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật” là do họ thấy như vậy.

      Đức Phật nói lũ phàm phu chúng ta thấy như thế nào? Nhăn Thức của phàm phu chúng ta thấy Sắc Trần, chẳng thấy Sắc Tánh. Thức là ǵ? Thức là phân biệt, chấp trước. Quư vị thấy sắc, sắc chẳng phải là tánh, sắc biến thành trần, trần () là bụi bặm, bụi bặm có thể nhuốm bẩn, do như vậy mà bị nhuốm bẩn. Nhuốm bẩn do trong tâm của chính ḿnh biến hiện. Vốn chẳng bị nhuốm bẩn, nay lại biến hiện thành nhuốm bẩn. Ngay khi chúng ta mở banh mắt, niệm thứ nhất là thấy bằng tánh Thấy, niệm thứ hai liền biến chất, biến thành thấy bằng Nhăn Thức. Niệm thứ nhất có thời gian rất ngắn, ngắn đến mức độ nào? Trong kinh, đức Phật thường dùng tỷ dụ để nói: “Một cái khảy ngón tay”. Một cái khảy ngón tay có sáu mươi sát-na, một sát-na là một phần sáu mươi của thời gian khảy ngón tay. Một sát-na có chín trăm lần sanh diệt, nên một niệm là một phần chín trăm của một sát-na; một niệm là như vậy đó. Quư vị nói xem: Tốc độ này quá nhanh chóng! Thông thường, đại khái là trong một giây chúng ta khảy ngón tay bốn lần, chẳng có vấn đề ǵ! Bốn nhân với sáu mươi, lại nhân với chín trăm thành hai mươi vạn tám ngàn; một phần trong hai mươi vạn tám ngàn của một giây là một niệm. Niệm thứ hai liền biến thành Thức, liền phân biệt, chấp trước.

      Nếu nói rơ ràng hơn một chút, cái thấy thứ nhất là cái thấy b́nh đẳng, v́ sao? Chẳng có phân biệt, chấp trước, vạn pháp b́nh đẳng, tâm thanh tịnh. Trong cái thấy thứ hai, do một niệm đă bất b́nh đẳng, nên trong hết thảy tướng bèn dấy lên phân biệt. Hễ dấy lên phân biệt, sẽ chẳng b́nh đẳng. Thuận theo phân biệt, lại nổi lên sự ưa ghét trong ấy. Thuận theo ư nghĩ của chính ḿnh bèn dấy lên tâm tham, trái nghịch ư ḿnh bèn dấy tâm sân khuể, càng nhiễm càng nghiêm trọng hơn, chuyện là như vậy đó. V́ thế, hoàn toàn ǵn giữ niệm thứ nhất, vĩnh viễn ǵn giữ niệm thứ nhất chẳng để mất th́ sẽ thành Phật, cái tâm ấy chẳng biến đổi. Niệm thứ nhất là chân tâm, chẳng thay đổi sẽ thành Phật; hễ biến đổi sẽ biến thành phàm phu, biến đổi quá nhanh, biến đổi quá tự nhiên, biến đến nỗi ngay cả chính ḿnh cũng chẳng biết. V́ thế, Thật Tướng của các pháp xác thực là ở trước mặt chúng ta, nhưng chúng ta chẳng thấy, v́ vẫn chưa đến một sát-na, bị biến chất trong một phần hai mươi vạn của một sát-na, cho nên mê!

      Chúng ta xem chú giải nơi trang sáu mươi mốt, ḍng thứ hai từ dưới đếm lên. Trong lời chú giải, câu thứ hai viết: “Vị chư pháp đương xứ bất sanh, bất diệt, phi hữu, phi không, vô năng, vô sở” (nghĩa là các pháp ở ngay nơi đây, chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng có, chẳng không, chẳng có năng, chẳng có sở), câu này nói về Thật Tướng của các pháp. Thật Tướng nào vậy? Thưa cùng chư vị, chúng ta thấy sắc, nghe tiếng, những tướng ấy (sắc tướng, âm thanh v.v…) đều là nó cả. Quư vị đọc đến đoạn văn này bèn cảm thấy kỳ quái, ta thấy rơ ràng con người có sanh, lăo, bệnh, tử, cớ sao nói bất sanh, bất diệt? Thưa thật cùng quư vị, chẳng có sanh diệt! Thưa thật cùng quư vị, chẳng có Không và Hữu. Đạo lư này được nói cặn kẽ và đích xác nhất trong kinh Lăng Nghiêm. Kinh Lăng Nghiêm dạy: Tất cả hết thảy hiện tượng giống như thế nào? “Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận” (Sanh ra ngay từ nơi đây, sẽ diệt tận ngay tại nơi đây), sanh diệt đồng thời, trong ấy chẳng có giới hạn. Quư vị hăy suy gẫm, đức Phật nói “sanh diệt” là bất đắc dĩ nói phương tiện, trên thực tế, chẳng có sanh diệt. Hiện tượng (h́nh tượng được biến hiện) của hết thảy các pháp chẳng phải là chân thật, nên những hiện tượng ấy là huyễn tướng. Chẳng có sanh diệt, nếu chúng ta dùng tỷ dụ th́ tỷ dụ cũng chỉ có thể sánh ví phảng phất, chẳng có cách nào sánh ví phù hợp khít khao được!

      Giống như chúng ta xem phim, các h́nh ảnh trong phim cũng có động tác. Bất sanh bất diệt bèn chẳng có động tác, như vậy th́ rốt cuộc nó là động hay bất động? Tôi thưa cùng quư vị, phim ảnh bất động, h́nh tướng được chiếu ra bởi phim ảnh là bất diệt, nhưng chúng ta nh́n chẳng ra. V́ sao nói là bất sanh, bất diệt? Quư vị thấy phim, tức cuộn phim được đặt trong máy chiếu là bất sanh bất diệt. Sự sanh diệt như quư vị đă thấy chính là xem tấm phim trước được chiếu xong, lại thấy tấm phim thứ hai [được chiếu lên màn bạc], thấy [có một h́nh ảnh liên tục biến đổi] như vậy, nhưng thật ra mỗi tấm phim đều là độc lập. Phải biết: Tướng được hiện bởi Chân Như bản tánh giống như cuốn phim được chiếu trong điện ảnh, chẳng có sanh diệt. Hết thảy các pháp chẳng sanh, lấy đâu ra diệt? Chúng ta xem phim, hiện thời phim xi-nê được chiếu với tốc độ hai mươi bốn tấm mỗi giây, chúng ta tưởng nó là thật, đă bị nó lừa gạt. Tôi vừa mới nói tâm sanh diệt, đó là sự sanh diệt của thức thứ tám tức A Lại Da, trong một giây có đến hai mươi vạn tám ngàn [lần sanh diệt, giống như những] tấm [phim được chiếu]. V́ thế, rất giống như thật, [nên chúng ta] chẳng biết nó là giả. Đây là nói cho quư vị biết Thật Tướng của các pháp, chân tướng của hết thảy các pháp là như vậy đó. Giống như xem phim, chân tướng như thế nào? Quư vị thấy cuộn phim mới là thấy chân tướng, những ǵ quư vị thấy trên màn bạc là giả tướng, thấy cuộn phim đặt trong máy chiếu phim mới là chân tướng.

      Nay đức Phật dạy chúng ta chân tướng: Hết thảy các pháp chẳng phải có, chẳng phải không. Quư vị nói nó là không th́ nó hiện tướng. Quư vị nói nó là có, th́ bản thể của chính cái tướng ấy đă tiêu mất. “Sanh từ nơi đâu, bèn diệt mất ngay nơi đó”, giống như máy chiếu phim, [h́nh ảnh] được sanh ra ngay từ nơi đó và cũng diệt mất ngay tại đó. Xưa kia, đúng là đức Phật nói những lời này, chúng tôi nghĩ người xưa nghe xong có thể khai ngộ, quả thật chẳng đơn giản. Hiện thời, khoa học kỹ thuật phát triển, đích xác là có nhiều thứ trong khoa học có thể giúp chúng ta lănh ngộ, trước kia chẳng có những thứ đó. Không có Năng, không có Sở, nên sanh diệt. Không, Hữu, Năng, Sở, hết thảy tương đối đều chẳng thể được; đó là Thật Tướng.

      Tiếp đó, sách dạy chúng ta làm thế nào th́ mới có thể thấu hiểu. “Ly ngôn thuyết tướng”: Đức Phật giảng kinh, thuyết pháp, chúng ta ngàn muôn phần đừng chấp trước ngôn ngữ của Ngài, xem kinh đừng chấp trước văn tự. Văn tự là phù hiệu ngôn ngữ, ĺa tướng ngôn thuyết cũng là ĺa tướng văn tự, chớ nên chấp trước văn tự. “Ly tâm duyên tướng”, quyết định đừng nên tưởng tượng, chớ nên tư duy: “Đức Phật nói lời này có nghĩa là ǵ?”. Chớ nên suy nghĩ, hễ suy nghĩ liền trật. Nay chúng ta giảng kinh, giảng hay cách mấy vẫn chẳng bằng Phật, v́ sao? Chúng ta giảng kinh, trước hết bèn suy tưởng kinh này phải giảng theo cách nào, vậy th́ làm sao được nữa! Đức Phật giảng kinh chẳng thông qua tư duy. Hễ thông qua tư duy bèn rơi vào ư thức. Rơi vào ư thức là tà tri tà kiến, là ma sự. Người ta không qua tư duy. “Ly danh tự tướng”, “danh tự” là danh từ, thuật ngữ. Thí dụ như trong kinh nói Phật, nói Bồ Tát, nói Lục Độ, nói Tứ Nhiếp, những điều ấy đều là danh từ, thảy đều chẳng chấp trước. “Ly thử đẳng tướng, danh vi Thật Tướng” (ĺa những tướng giống như vậy, gọi là Thật Tướng), đối với hết thảy những thứ ấy, quư vị đều không chấp trước, Thật Tướng ở ngay trước mắt. Quư vị thấy sắc, nghe tiếng, không ǵ chẳng phải là Thật Tướng, quư vị đạt được sự thọ dụng chân thật trong Thật Tướng. Sự thọ dụng chân thật được hiển thị trong cuộc sống th́ vô lượng trí huệ và vô lượng phước đức mới có thể thật sự hưởng thụ. V́ sao? V́ hết thảy các pháp, chẳng có pháp nào không xứng tánh. Tánh là bất sanh, bất diệt, Tánh là viên măn, chẳng có khiếm khuyết; chân tánh biến hiện hết thảy các vật cũng giống như chân tánh. Cổ nhân nói: “Dùng vàng làm đồ vật, món nào cũng đều là vàng”, ví vàng như chân tánh, coi các món vật như Thật Tướng của các pháp. Từ trong hết thảy các món đồ, đều thọ dụng vàng.

      V́ thế, trong hết thảy các pháp, lục căn tiếp xúc lục trần, trong hết thảy các pháp đều đạt được tác dụng của tự tánh, hiểu tất cả đều là vật được biến hiện bởi tự tánh. Tánh và Tướng như một, Tánh và Tướng bất nhị, Tánh là Tướng, Tướng là Tánh. Giống như sáng sớm hôm nay, tôi đă nêu lên chuyện nằm mộng, mộng là tâm, tâm là mộng. Mộng và tâm là một, chẳng hai. Từ thí dụ gần gũi, rơ rệt này, nếu chúng ta suy luận thêm một bước nữa, cảnh giới trước mắt chúng ta do Chân Như bản tánh biến hiện, tất cả hết thảy cảnh giới là tự tánh, tự tánh đă biến thành cảnh giới, cảnh giới là tự tánh. V́ thế, “toàn vọng tức chân”, “vọng” là nói đến sự tướng, nói tới các pháp. “Chân” là nói đến bản tánh. “Toàn”: Toàn thể vọng cảnh là tâm, là chân tánh. Toàn thể chân tánh là cảnh giới hư vọng, chân và vọng là một, không hai. V́ lẽ đó, kiến tướng là kiến tánh, giống như thấy đồ vật là thấy vàng, vàng và đồ vật là một, chẳng hai!

      Hai câu tiếp đó nói rất hay: “Vô tướng chi tướng dă, thùy nhân bất cụ, hà pháp bất nhiên” (Tướng vô tướng có ai là chẳng trọn đủ, có pháp nào chẳng phải là như vậy). Hai câu ấy nói rất hay! Hết thảy chúng sanh trong mười pháp giới, ai nấy đều trọn đủ. Hết thảy vạn pháp, chúng ta nói là khoáng vật, thực vật, hư không, thế giới, không pháp nào chẳng phải là như vậy. Chẳng có một pháp nào không do tự tánh biến hiện, pháp nào cũng đều như vậy. Đó là Thật Tướng, là chân tướng, nhưng người biết chân tướng này quá ít. Tiếp đó, sách viết: “Nhược luận chứng tri, duy hữu chư Phật” (nếu luận về sự chứng biết, chỉ có chư Phật), “chứng” () là chứng minh, “tri” () là biết. Nếu chúng ta nói người nào chứng thực chuyện này, người nào biết rơ ràng? Chỉ có chư Phật! V́ vậy, kinh Pháp Hoa có nói: “Duy Phật dữ Phật năi năng cứu tận chư pháp Thật Tướng” (chỉ có Phật và Phật th́ mới có thể thấu hiểu rốt ráo Thật Tướng của các pháp). “Cứu cánh” (究竟) là hiểu rơ triệt để. Triệt để hiểu rơ chân tướng sự thật th́ chỉ có Phật và Phật. Nói cách khác, hàng Đẳng Giác Bồ Tát đều chẳng thuộc trong số ấy. V́ sao? Đẳng Giác Bồ Tát có một phẩm sanh tướng vô minh chưa phá. Một phẩm sanh tướng vô minh ấy là ma chướng và ma sự của Đẳng Giác Bồ Tát.

      Đẳng Giác Bồ Tát c̣n có ma chướng th́ các ma chướng mà chúng ta đang có há thấm vào đâu! Nhất định là có ma chướng, v́ sao? Quư vị chưa thành Phật. Tôi vừa mới nói Đẳng Giác Bồ Tát c̣n có ma chướng, ma chướng nhất định phải có. Tuy có, quư vị chớ sợ nó, phải mong biến ma thành Phật. Nói thật ra, ma và Phật là một, chẳng hai. Quư vị mê, Phật liền biến thành ma; hễ giác ngộ, ma liền biến thành Phật. Hiểu rơ đạo lư này, có Phật và ma hay không? Chẳng có! Không Phật, mà cũng không ma. Phật và ma biến hóa tùy thuộc tâm địa của chính chúng ta là mê hay giác. Đă mê bèn thành chướng, chướng ngại là vùi dập, đó là ma. Hễ giác ngộ bèn vô ngại, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, bèn gọi là Phật. Ma và Phật xuất hiện như vậy đó! Nói đi, nói lại, nói chung đều quy vào ư niệm của chính ḿnh. Một niệm tà, quần ma quay cuồng loạn xạ; một niệm chánh, ắt chư Phật xuất thế; nhưng chư vị phải hiểu: Chánh niệm là vô niệm. Nói “vô niệm”, cổ nhân sợ quư vị lại hiểu lầm ư nghĩa, ngỡ vô niệm là “ư niệm ǵ cũng chẳng có”, tức là lại biến thành Vô Tưởng Định, lại sai mất rồi! V́ thế, c̣n phải chú giải thêm: Vô tà niệm, “vô niệm” là vô tà niệm; nói cách khác, hăy c̣n có niệm. Nói thật ra, có niệm là đă có vấn đề to lớn. V́ có niệm bèn có chấp trước, có phân biệt. Trong phần trước, chẳng phải là tôi đă nói quư vị phải ĺa hết thảy phân biệt, chấp trước ư? Ĺa hết thảy phân biệt, chấp trước, thứ ǵ cũng hiểu rơ, thứ ǵ cũng minh bạch, bèn gọi là “chánh niệm”. Nếu ĺa hết thảy phân biệt, chấp trước, nhưng thứ ǵ cũng không biết, bèn gọi là vô minh. Vô minh chẳng phải là chánh niệm. Chánh niệm phân minh, chánh niệm chẳng phải là vô minh. Những chỗ này đều phải phân biệt rơ ràng, rành rẽ.

      Đoạn kế tiếp nói rất hay: “Bẩm viên thuyết giả, sơ tâm tức dụng Phật trí chiếu cảnh, cố năng tín giải chư pháp Thật Tướng. Kư giải Thật Tướng, diệc giải thật tánh, thật thể, năi chí thật bổn mạt cứu cánh đẳng. Thập pháp kư thật, tức thị thật sanh, thật Phật, thật y, thật chánh, nhất sắc, nhất hương, vô phi Trung Đạo, nhất thiết chư pháp giai thị Phật pháp” (Nếu nói với người có căn tánh Viên Giáo th́ sơ tâm bèn dùng Phật trí để chiếu cảnh, nên có thể tin hiểu Thật Tướng của các pháp. Đă hiểu Thật Tướng th́ cũng hiểu thật tánh, thật thể, cho đến gốc ngọn rốt ráo thật sự v.v… Mười pháp[3] đă là thật, tức là chúng sanh thật sự, Phật thật sự, y báo thật sự, chánh báo thật sự, mỗi sắc, mỗi hương, không ǵ chẳng phải là Trung Đạo, hết thảy các pháp đều là Phật pháp). Đoạn này hay lắm, xác thực là đă giảng rất rơ chân tướng sự thật, ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu. “Viên” là căn tánh Viên Giáo. Căn tánh của hết thảy chúng sanh khác nhau; tông Thiên Thai chia căn tánh thành bốn loại lớn là Tạng, Thông, Biệt, Viên, tức là nói hết thảy các căn tánh bất đồng [được quy nạp lại], chia thành bốn loại lớn. V́ sao mà có căn tánh [khác biệt]? Cổ nhân nói “do tập quán thành tựu”, nên gọi nó là “tập tánh” (習性), chẳng phải là bản tánh. Trong Luận Ngữ, Khổng lăo phu tử cũng nói về vấn đề này rất hay, hết sức chánh xác! Lăo nhân gia nói: “Tánh tương cận, tập tương viễn” (tánh th́ gần giống như nhau, do huân tập mà trở thành khác xa nhau). Trong Luận Ngữ, Khổng lăo phu tử đă nói như thế hai lượt. Phật pháp gọi “tánh” là Chân Như bản tánh, [tánh và Chân Như bản tánh] giống như nhau. Chư Phật Như Lai và hết thảy chúng sanh đều giống nhau, nhưng do tập tánh sai biệt to lớn, mà biến thành mười pháp giới. Thói quen trở thành tự nhiên, tập tánh chẳng phải là một đời, mà là đời đời kiếp kiếp, vô lượng kiếp đến nay dưỡng thành thói quen, rất phiền phức!

      Tập tánh của mỗi cá nhân cũng khác nhau. Đức Phật thuyết pháp chỉ có thể phân loại tổng quát, chẳng thể phân chia tỉ mỉ. Phân chia tỉ mỉ th́ đích xác là mỗi người đều khác biệt, phân chia tổng quát sẽ là bốn loại Tạng, Thông, Biệt, Viên. Có kẻ là căn tánh Tiểu Thừa, căn tánh được gọi là Tiểu Thừa vô cùng cố chấp, chuyện ǵ cũng đều rất chấp trước. Đức Phật thuyết pháp cho loại chúng sanh này liền nói theo kiểu chấp trước, cũng làm ra vẻ rất chấp trước. Họ thấy Ngài chí đồng đạo hợp nên rất hoan hỷ, như vậy th́ mới có thể dạy họ. Nếu tập tánh tương đối cởi mở hơn một chút, chẳng chuộng câu nệ, dè dặt như vậy, thứ ǵ cũng thích tương đối tự do một chút, tùy tiện một chút, đó là điều khiến cho người Tiểu Thừa nh́n chẳng thuận mắt nhất. Đối với những người ấy, đức Phật liền thị hiện tác phong cởi mở, khiến cho những người ấy thấy vậy cũng hoan hỷ. Đức Phật xuất hiện tại Ấn Độ, người Ấn Độ thuở đó rất câu nệ, dè dặt, nên khi đức Phật xuất hiện trên thế gian, giới luật rất nghiêm ngặt, họ thấy vậy rất bội phục, rất hoan hỷ. Nay trong thế giới này, có những người trông thấy hàng Tiểu Thừa đều cảm thấy không chịu nổi: “Chúng tôi chẳng có cách nào tiếp nhận”. V́ thế, trong kinh Pháp Hoa, đức Phật mới nói: Trong thời kỳ Mạt Pháp, để độ hết thảy chúng sanh, nhất định phải dùng Đại Thừa, v́ sao? Thế giới hiện thời cởi mở, dân chủ, tự do, quư vị cần phải phù hợp với h́nh thái ư thức của họ th́ người ta mới thích tiếp nhận. Nếu c̣n định ra nhiều quy củ bó buộc con người, cái này cũng chẳng thể động, cái kia cũng chẳng thể động, Phật pháp sẽ không thể thực hiện trôi chảy được. Phật pháp tốt đẹp, nhưng người ta chẳng cần quư vị th́ quư vị cũng chẳng có cách nào!

      V́ lẽ đó, ắt là phải trong một thời đại nào đó th́ phải có cách giảng và cách làm của thời đại đó, h́nh thức thiên biến vạn hóa, nhưng nguyên lư và nguyên tắc hoàn toàn bất động. Nguyên lư và nguyên tắc là “khiến cho chúng ta phá mê, khai ngộ, ĺa khổ, được vui”, nhưng h́nh thức th́ thiên biến vạn hóa. Nhất định phải thích hợp với con người, tư tưởng, bối cảnh văn hóa và phương thức sinh hoạt của người nơi ấy th́ mới có thể thúc đẩy và lợi ích chúng sanh. Lợi ích là nói theo phía chúng sanh ở nơi ấy, lúc ấy; luận theo nơi ấy, khi ấy, chẳng phải là nói tới những khu vực khác, đó gọi là “khế cơ” th́ mọi người mới hoan hỷ. Hiện thời, chẳng dễ ǵ cổ động Phật pháp, nguyên nhân chủ yếu là v́ chẳng khế cơ, do bản thân chúng ta đă giảng kinh chết cứng, giảng sai lầm. À! Chúng ta nghỉ ngơi mấy phút!

 

Tập 12

 

Xin mở trang sáu mươi hai. Trong bản Sớ Sao này, chúng ta dùng tác phẩm do pháp sư Đế Nhàn trích lục từ bộ Sớ Sao, gần như là nguyên văn, chính pháp sư Đế Nhàn thêm [những lời chú giải] rất ít, tối đa chỉ là giới thiệu từ ngữ mà thôi. Bản trích lục của lăo nhân gia cũng là phần rất trọng yếu trong bộ Sớ Sao, chúng tôi vẫn hiềm thời gian quá ngắn, chẳng có cách nào giới thiệu tường tận cùng quư vị được! Chỉ là trong các phần trọng yếu, chọn lựa những điểm trọng yếu nhất đối với sự tu học b́nh thường của chúng ta, đặc biệt có quan hệ với sự niệm Phật, để giới thiệu đơn giản, ngắn gọn cùng mọi người.

      Từ Sớ Sao, chúng ta hiểu rơ Phật pháp đích xác là sống động, hoạt bát. Trong Viên Giáo, tư tưởng, kiến giải và hành tŕ của người căn cơ viên đốn rất gần với Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại. Trong vô ngại pháp giới, điều cần phải chú ư nhất là sự khác biệt giữa tà và chánh. Một niệm chánh th́ là Phật pháp, một niệm tà bèn biến thành ma sự. Tạng, Thông, Biệt, Viên đều chẳng ĺa khỏi nguyên tắc này, trong pháp Tiểu Thừa cũng là như thế. Chọn lấy điều thiện để cố chấp là tốt, nhưng nếu chẳng hiểu rơ lư luận, chẳng biết mục đích th́ có những sự cố chấp ấy sẽ là sai lầm, đạt được hiệu quả trái ngược. Đối với những chỗ này, nếu chúng ta đọc nhiều kinh luận Đại Thừa sẽ có thể hiểu rơ. Đây là nói tới người thuộc Viên Giáo, tư tưởng tương đối cởi mở, hễ dốc công tu tập sẽ có thể dùng giáo nghĩa Viên Giáo để làm căn cứ tu học cho chính ḿnh. Nói cách khác, họ có thể dùng phương pháp tu hành của chư Phật và chư đại Bồ Tát làm phương pháp tu hành của chính ḿnh. Đă nhanh chóng, lại c̣n đơn giản hơn mấy thứ trên đây, đó là như cổ đức thường nói: “Viên nhân thuyết pháp, vô pháp bất viên” (người căn cơ viên măn thuyết pháp, không pháp nào chẳng viên). Nói, nghe, và học tập đều chẳng ra ngoài lệ ấy. Mấy câu kế đó (như “thật tánh, thật thể, năi chí thật bổn mạt cứu cánh đẳng”) xuất phát từ Thập Như Thị của kinh Pháp Hoa. Thập Như Thị là nói về Thật Tướng của các pháp từ bản thể cho đến hiện tượng, cho đến tác dụng đều được bao gồm [trong mười món Như Thị ấy]. Thập Như Thị cũng có các cách giảng sâu, cạn, rộng, hẹp khác nhau, do căn tánh của mỗi người mỗi khác. Nhưng trong kinh Pháp Hoa, chánh thuyết (điều được giảng chủ yếu) đương nhiên là giáo nghĩa Viên Giáo, Pháp Hoa thuần viên mà! Hoa Nghiêm là toàn viên, Pháp Hoa là thuần viên, kinh điển Đại Thừa Viên Giáo chỉ có hai bộ ấy. Nói theo giáo nghĩa Viên Giáo, hết thảy các pháp đều là Phật pháp, chẳng có một pháp nào không phải là Phật pháp.

      Chúng ta lại đọc phần tiếp theo. “Kư nhất thiết giai thật, thật ngoại vô dư” (hết thảy đă đều là thật; nên ngoài thật ra, chẳng có ǵ khác), ngoài chân thật ra, chẳng có thứ ǵ khác nữa. “Phục vân dư giai ma sự giả hà dă?” (lại nói “những thứ khác đều là ma sự”, là v́ cớ nào?). V́ sao lại nói những thứ khác đều là ma sự? Hết thảy đều là chân thật, há có ma sự ǵ? Đấy là chỗ đáng nghi vấn. Tiếp theo đó là lời giải thích. “Ưng tri thử thuyết, thị dĩ lư giản t́nh” (hăy nên biết: Nói như vậy là dùng lư để phân biệt t́nh), hoàn toàn nói theo lư trí th́ phải là chân thật, trong hết thảy các pháp, chẳng có một pháp nào chẳng phải là Phật pháp. “Nhược ly tâm duyên năng sở đẳng tướng, danh vi Thật Tướng” (nếu ĺa các tướng như tâm duyên, năng, sở v.v… th́ gọi là Thật Tướng), đó là lư tánh thuần túy, trí huệ thuần túy, dùng trí huệ để quán chiếu. “Giới nhĩ hữu tướng, tức vi ma sự” (hễ có một tướng nhỏ nhoi th́ chính là ma sự). “Những điều khác” vừa nói trên đây chính là chỉ điều này! “Giới nhĩ” (介爾) là một mảy tơ tóc. Hễ có mảy may chấp trước, bèn gọi là “ma sự”. V́ thế, một mảy may cũng đừng nên chấp trước. Ở chỗ này, quư vị nhất định phải hiểu rơ ràng: Ly tướng hoặc chấp trước đều từ trong nội tâm của chính chúng ta. Trong tâm chớ nên chấp trước, tâm địa phải thanh tịnh; nhưng xử sự, đăi người, tiếp vật, điều ǵ đáng nên chấp trước th́ vẫn phải chấp trước, chỗ đừng nên chấp trước sẽ chẳng chấp trước, đó là ứng dụng. Nội tâm thanh tịnh, ứng dụng tự như. Ứng dụng là đối với người khác, họ có chấp trước th́ chúng ta tùy thuận sự chấp trước của họ mà chấp trước. Họ chẳng chấp trước, chúng ta cũng có thể tùy thuận sự chẳng chấp trước của họ mà cũng không chấp trước. Như vậy th́ mới có thể dung ḥa, tương tức với pháp thế gian, mới có thể chung sống ḥa thuận, chẳng đến nỗi đối lập pháp thế gian. [Nếu đối lập] th́ sai mất rồi. Phật pháp thường gọi điều này là: “Phật pháp tại thế gian, bất hoại thế gian pháp” (Phật pháp trong thế gian, chẳng hoại pháp thế gian).

      Pháp thế gian là ǵ? Pháp thế gian là phân biệt, chấp trước, chúng ta trọn chẳng phá hoại nó. V́ người thế gian có phân biệt, chấp trước, từ phân biệt và chấp trước mà kiến lập trật tự xă hội, giống như pháp luật, quan niệm đạo đức, phong tục và tập quán trong thế gian đều sanh từ phân biệt và chấp trước. Chúng đă có, chúng ta là người thật sự giác ngộ, tâm địa thanh tịnh, nhưng vào trong cảnh giới của họ th́ cũng phải thuận theo thói tục, chẳng thể không thuận theo thói tục. Chẳng thuận theo thói tục, sẽ phá hoại h́nh tượng xă hội, họ sẽ chẳng thể tiếp nhận, chẳng cho phép! V́ lẽ đó, phải tùy thuận thế gian, trong mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát có “hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức”. Tùy hỷ, nhưng trong nội tâm của chính ḿnh vẫn chẳng phân biệt, không chấp trước, không khởi tâm, không động niệm, đó là công đức. Bên ngoài vẫn phân biệt, chấp trước giống như mọi người, nhưng bên trong xác thực là chẳng có phân biệt, chấp trước. Bên ngoài là tùy hỷ, bên trong là công đức; đó là phương pháp tu học của Bồ Tát.

      V́ lẽ đó, phải chú ư “giới nhĩ hữu tướng, tức vi ma sự” (hễ có mảy may tướng th́ chính là ma sự) đang được nói ở đây, “giới” () là mảy may. Nói nghiêm ngặt, “mảy may” chính là Đẳng Giác Bồ Tát hăy c̣n có đôi chút chưa thể buông xuống, đó là ma sự của Ngài. Ma sự ấy chính là sanh tướng vô minh, [tức là] một phẩm sanh tướng vô minh cuối cùng, huống hồ những kẻ khác? V́ lẽ đó, Phật pháp chẳng có ǵ khác, [chỉ là] phá sạch hết thảy phân biệt, chấp trước mà thôi. Phá sạch hết thảy phân biệt, chấp trước, chẳng phải là phá người khác! Nếu quư vị phá người khác th́ trật mất rồi. Phá chính ḿnh, chẳng dính dấp ǵ đến người khác! Phá phân biệt và chấp trước của chính ḿnh, khiến cho chính ḿnh được thật sự giải thoát, đạt được trí huệ Bát Nhă chân chánh và Pháp Thân thanh tịnh. Đích thực ĺa khỏi hết thảy phân biệt, chấp trước th́ Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát, quư vị thảy đều chứng đắc. Tuy chứng đắc, chẳng hoại pháp thế gian, cùng bất luận kẻ nào cũng đều có thể đối xử hoan hỷ, v́ sao? Có thể hằng thuận chúng sanh. Hằng thuận chúng sanh là đối xử hoan hỷ với mọi người, quyết định chẳng trái nghịch hết thảy chúng sanh. V́ Bồ Tát hiểu hết thảy đều là giả, việc ǵ phải khắt khe? Họ muốn như thế nào liền tùy thuận họ là được rồi, chẳng cần phải riết róng so đo, như vậy th́ mới có thể tùy hỷ, mới có thể hằng thuận.

      Chúng ta cũng phải ghi nhớ hai câu kế tiếp nơi ḍng thứ ba đếm từ dưới lên trong trang sáu mươi hai, xem từ chữ cuối cùng. “Dĩ t́nh phân biệt, nhất thiết giai tà, ly t́nh phân biệt, nhất thiết giai chánh” (dùng t́nh để phân biệt, hết thảy đều tà. Ĺa t́nh phân biệt, hết thảy đều chánh), nay chúng ta gọi “t́nh” là cảm t́nh. Thứ này rất phiền, người thế gian coi nó rất nặng: Con người chẳng có t́nh cảm th́ đáng sợ quá, như vậy là không được rồi! Chúng ta thấy vấn đề này rất nghiêm trọng, chẳng biết tất cả hết thảy phiền phức đều do t́nh chiêu cảm. Phiền phức to lớn là luân hồi sanh tử trong lục đạo. Nếu chẳng có thứ này, thưa cùng chư vị, tất cả phiền năo đều chẳng có, sanh tử luân hồi cũng chẳng có. Nó chẳng phải là thứ tốt đẹp, cớ sao lại coi trọng nó dường ấy, chẳng chịu buông xuống. Có những kẻ chẳng hiểu rơ chân tướng sự thật này, nghe nói đức Phật dạy phải đoạn t́nh, bèn nẩy sanh một quan niệm sai lầm: “Chớ nên học Phật, người học Phật vô t́nh, biến thành phường ‘vô t́nh vô nghĩa’ như thế tục thường nói, chẳng thể học Phật!” Thật ra, tôi thưa cùng chư vị, cái t́nh như người thế gian chấp trước là giả t́nh, giả ư. Chân t́nh của Phật, Bồ Tát là chân t́nh thật ư. V́ sao? T́nh và trí là một thứ, đă mê bèn gọi là T́nh, hễ giác ngộ th́ gọi là Trí. Thay đổi tên, nhưng trên thực tế là cùng một chuyện. Trí là ǵ? Trí là T́nh chân thật, vĩnh viễn không thay đổi. Cái T́nh như quư vị vừa nói chính là Trí bị mê hoặc, nên nó chẳng phải là thứ tốt đẹp.

      Phật pháp đặt cho nó một tên gọi, Phật pháp nói “từ bi” th́ từ bi là lư trí. T́nh ái thế gian là mê hoặc, điên đảo. Nói thật ra, từ bi và ái t́nh là cùng một chuyện, làm sao có thể nói Phật vô t́nh? Phật mới có cảm t́nh chân thật. Trước kia, khi tôi theo học Triết với tiên sinh Phương Đông Mỹ, cụ đă bảo tôi: “Một triết gia là người có cảm t́nh phong phú nhất. Chẳng có cảm t́nh sẽ không thể học triết học”. Lại thưa cùng quư vị, chẳng có cảm t́nh chân thật sẽ không thể thành Phật, không thể thành Bồ Tát, cùng một đạo lư. Giả t́nh, giả ư chẳng thể học Phật, học Phật phải là cảm t́nh chân thật. Cảm t́nh chân thật, thay đổi tên gọi bèn thành “trí”. V́ vậy, Trí và T́nh là một, chẳng hai, một đằng giác, một đằng mê. Ở đây nói “dùng t́nh để phân biệt”, đó là mê t́nh. Dùng t́nh chấp để phân biệt hết thảy các pháp th́ hết thảy các pháp đều tà. Rời ĺa mê t́nh, quư vị phân biệt hết thảy các pháp, hết thảy các pháp đều chánh, phải biết điều này.

      Do vậy, kế tiếp đó bèn nói: “Kim giản t́nh thủ lư” (Nay loại riêng t́nh ra để giữ lấy lư), “giản” () là phân biệt, là bỏ riêng ra. Mê t́nh là ǵ? Lư trí là ǵ? “Thị vi kinh Thể” (là Thể của kinh), đức Phật nói kinh là do căn cứ trên đạo lư này để nói. “Ưng tri Thật Tướng toàn thể chiếu minh, xưng vi chân tâm, diệc danh Bổn Giác. Giác thể biến cố, chư pháp giai thật” (Hăy nên biết: Toàn thể Thật Tướng chiếu sáng, được gọi là chân tâm, c̣n gọi là Bổn Giác. Do giác thể trọn khắp, nên các pháp đều là thật), mấy câu này dễ hiểu. Chân trí là chân tâm, là Bổn Giác. Giác thể là tự tánh, là chân tâm. Chân tâm trọn khắp pháp giới, hết thảy muôn tướng trong pháp giới đều do chân tâm biến hiện; do đó, các pháp đều là thật, chẳng có ǵ không phải là chân thật. Đă giác ngộ th́ sẽ nói tương phản với kinh Kim Cang: “Phàm những ǵ có tướng đều là Thật Tướng”. Khi mê, quư vị có t́nh chấp, “phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng”. T́nh chấp vừa đoạn, phàm những ǵ có tướng đều là Thật Tướng. Một niệm sai lệch, chân và vọng bèn hiển lộ.

      “Nhược chỉ kỳ yếu, bất ly hiện tiền phân biệt chi niệm, niệm tức Bổn Giác, giác tức kinh Thể. Vô biệt kinh Thể dĩ vi sở thuyên, dĩ thử giác tâm, quán ư y chánh, năng sở tức tuyệt, đăi đối tư vong, diệu quán chi tông, tự tư nhi lập” (Nếu chỉ ra điểm trọng yếu th́ chẳng ĺa cái niệm phân biệt hiện tiền. Niệm chính là Bổn Giác, giác chính là Thể của kinh. Chẳng có cái Thể của kinh nào khác để diễn nói. Dùng ngay cái giác tâm này để quán y báo và chánh báo, Năng và Sở liền dứt tuyệt, đối đăi do đó bị mất. Tông chỉ Diệu Quán từ đó mà thành lập). Không chỉ là cái Thể của kinh này, mà Thể của hết thảy các kinh Đại Thừa đều là như vậy. Hiểu đạo lư này, chúng ta mới thật sự phát khởi tín tâm thanh tịnh kiên cố đối với kinh Đại Thừa, hiểu căn cứ lư luận của kinh Đại Thừa là chân thật nhất. “Chỉ yếu” (指要) là chỉ ra điều khẩn yếu nhất, điều trọng yếu mấu chốt nhất, nó chính là ư niệm hiện tiền của chúng ta. Mắt chúng ta có thể thấy, tai có thể nghe, cái “có thể”, [tức là] cái có thể thấy, có thể nghe chính là Bổn Giác, [thấy, nghe] tức là chân tánh nơi tâm khởi tác dụng, chân tánh khởi tác dụng có thể thấy và có thể nghe. Nếu đối với thấy, nghe, hay, biết mà khởi phân biệt và chấp trước, bèn là sai lầm. Do tùy thuận chúng sanh, bèn dấy lên phân biệt, chấp trước, nhưng chính ḿnh chẳng có phân biệt, chấp trước, đó là Phật, Bồ Tát. Trong nội tâm của chính ḿnh thật sự dấy lên phân biệt, chấp trước, đó là phàm phu, là mê. Nội tâm thanh tịnh chẳng có phân biệt, chấp trước, do tùy thuận chúng sanh mà phân biệt, chấp trước, đó là đại từ đại bi phổ độ chúng sanh. Đức Phật nói kinh đă dựa trên nguyên lư ấy để nói.

      Những phần kế tiếp chúng ta có thể tỉnh lược. Trong đoạn kế đó, nơi trang sáu mươi lăm, có hai câu mà chúng ta nhất định phải ghi nhớ kỹ lưỡng, hai câu ấy nằm trong ḍng thứ nhất của trang sáu mươi lăm: “T́nh tưởng phả vong, bản tánh nan hiển” (Nếu chẳng quên t́nh tưởng, bản tánh sẽ khó hiển lộ), có nghĩa là nếu chẳng vứt bỏ t́nh tưởng, quư vị sẽ chẳng có cách nào kiến tánh. Phải ghi nhớ kỹ càng hai câu ấy. Chúng ta học Phật, nói theo phía người niệm Phật, v́ sao chúng ta chưa thể đắc nhất tâm bất loạn? Chướng ngại lớn nhất chính là hai chữ “t́nh tưởng”. T́nh quá nặng, suốt ngày từ sáng đến tối suy nghĩ lung tung, làm sao có thể đắc nhất tâm cho được? Tất cả hết thảy các phương pháp tu hành, không ǵ chẳng nhằm đoạn hết t́nh tưởng mà thôi, [để đạt mục đích ấy] các tông, các phái, vô lượng pháp môn có phương pháp và cách thức khác nhau. Trong Tịnh Độ, nay chúng ta giữ lấy cách tŕ danh niệm Phật, dùng phương pháp này để xóa sạch [t́nh tưởng]. Người biết dụng công th́ t́nh tưởng vừa mới dấy lên, ngay lập tức đổi nó thành Phật hiệu, chẳng cho niệm ấy tiếp tục tăng trưởng, đó gọi là “dụng công”. Một niệm khởi là mê, chế phục niệm vừa dấy lên th́ là giác, giác nhằm đối trị mê. Do đó, chẳng sợ mê. Cổ nhân thường nói: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”, quư vị phải giác ngộ nhanh chóng, đừng để vọng tưởng tiếp tục tăng trưởng! Vọng tưởng vừa dấy lên, liền ngay lập tức cảm nhận, dùng câu Phật hiệu để thay thế nó, biến vọng niệm thành A Di Đà Phật, phải thay đổi nhanh chóng! Phương pháp này nhằm khuất phục phiền năo. Sử dụng công phu lâu ngày, tự nhiên t́nh tưởng ít đi; khi nó tự nhiên ít đi, công phu bèn đắc lực, tâm đă thanh tịnh, trí huệ bèn tăng trưởng. Quư vị xử sự, đăi người, tiếp vật, chẳng mê hoặc, điên đảo giống như trước kia, nh́n sự việc cũng có thể thấy rơ ràng, làm việc cũng chẳng thường làm sai như trước kia, sai lầm ít đi. Đó là đạt được lợi ích trong hiện tiền. Tâm phải thanh tịnh, tâm thanh tịnh sẽ sanh trí huệ. Kinh Kim Cang nói rất hay: “Tín tâm thanh tịnh, tắc sanh Thật Tướng” (Tín tâm thanh tịnh bèn sanh Thật Tướng), sanh Thật Tướng là sanh trí huệ, là thấy chân tướng của hết thảy vạn pháp. V́ vậy, hai câu này rất khẩn yếu!

      Đoạn kế tiếp nêu lên ư nghĩa thứ hai của Thể. “Thư gia giải, lễ giả, huấn Thể dă. Thể hữu tôn, ty, trưởng, ấu. Quân phụ chi thể tôn, thần tử chi thể tiện. Đương tri Thể lễ chi thích, thị quư cực chi pháp dă” (theo cách giải thích của các nhà chú giải kinh sách Nho gia, Lễ nhằm giải thích Thể. Thể có tôn, ty, lớn, bé. Thể của vua và cha là tôn quư, thể của bầy tôi và con cái là kém cỏi hơn. Hăy nên biết: Dùng Lễ để giải thích Thể th́ Thể là pháp tôn quư tột bậc). Điểm quan trọng trong cách giải thích này nằm trong câu cuối cùng: Thể là pháp tột bậc tôn quư. V́ sao? V́ hết thảy các pháp đều từ đây mà ra; nó là mẫu thể (cái bản thể chánh yếu, cội nguồn); tất cả hết thảy các  pháp đều được biến hiện từ nó. Thể là Chân Như bản tánh; nói theo thuật ngữ hiện đại, [Thể] là bản thể của vạn hữu trong vũ trụ. V́ thế, dùng Lễ để giải thích Thể, “huấn” () là giải thích. Lễ là tôn quư nhất, v́ nó nhấn mạnh tôn, ty, trên, dưới. Trong chú giải, chúng ta xem từ hai chữ cuối trong trang ấy: “Thể chỉ Pháp Thân, chư Phật sở sư, vạn pháp triều hội. Thể phi tu chứng, Lư tuyệt ngôn tư, dục sử tiêu tâm, cưỡng xưng ‘quư cực’. Tư thị Bổn Giác, phi tịch, phi chiếu, hựu thị Pháp Tánh, phi quảng, phi thâm. Đệ Nhất Nghĩa danh vi bản tánh, Pháp Thân đức dă” (Thể chỉ Pháp Thân, [Pháp Thân] là khuôn mẫu để chư Phật noi theo, là chỗ để muôn pháp hướng về. Thể chẳng do tu chứng [mà ḥng đạt được], Lư dứt bặt ngôn từ, suy nghĩ. V́ muốn nêu bày cái tâm, nên cưỡng gọi là “tôn quư tột bậc”. Đó là Bổn Giác, chẳng phải là tịch, chẳng phải là chiếu. Lại là Pháp Tánh, chẳng rộng, chẳng sâu. Đệ Nhất Nghĩa được gọi là bản tánh, là phẩm đức của Pháp Thân), mấy câu này đă giảng rất rơ ràng. Thể là ǵ? Là Pháp Thân. “Sư”“sư phạm” (師範: khuôn mẫu để noi theo, học theo), là tấm gương để học tập theo. Chư Phật học theo ai? “Thuận Pháp Tánh”: Thuận theo Pháp Tánh sẽ thành Phật. V́ thế, thuận theo Pháp Tánh bèn có ư nghĩa “sư”, tức là “sư pháp” (師法: noi theo pháp), ư nghĩa này cũng đă được nói trên đây. V́ lẽ đó, nó chính là Bổn Giác như kinh điển đă nói, hoặc c̣n gọi là bản tánh, hay Pháp Tánh, rất nhiều danh từ, trên thực tế đều là nói cùng một chuyện. Tuy cùng nói về một chuyện, nhưng danh từ khác nhau th́ ư nghĩa có khác biệt đôi chút. V́ bản tánh là vạn đức vạn năng, thường là một danh từ chẳng thể bao hàm toàn thể đức năng của nó; v́ vậy, kiến lập rất nhiều danh từ nhằm tỏ rơ nó có vô lượng đức năng, có ư nghĩa này.

      Cuối cùng, sách viết: “Linh tu quán giả, dĩ thử Thể đức, thể bỉ y chánh, nhất nhất quư cực, thành diệu tông hỹ” (khiến cho người tu quán do đức của cái Thể ấy mà thấu hiểu y báo và chánh báo của cơi kia mỗi mỗi đều tôn quư tột bậc, nên thành diệu tông). Người học Phật nhất định phải biết căn cứ lư luận để đức Phật thuyết pháp là Chân Như bản tánh. Đă biết căn cứ lư luận ấy, sau đó, dựa trên nguyên lư ấy để nh́n tất cả hết thảy các pháp, hết thảy các pháp đều là Tánh Đức, chúng ta mới có thể thực hiện “lễ kính chư Phật” trong mười nguyện Phổ Hiền. V́ sao? Sự lễ kính của Phổ Hiền được kiến lập trên quan niệm thanh tịnh b́nh đẳng, quan niệm thanh tịnh b́nh đẳng ấy do đâu mà có? Do quư vị thật sự biết Thật Tướng của các pháp, nên nó tự nhiên hiện tiền. V́ nó là Tánh Đức, chẳng phải là Tu Đức, cậy vào tu tập sẽ tu chẳng được, nhất định là kiến tánh th́ nó sẽ tự nhiên hiện tiền. Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo phá một phẩm vô minh, thấy một phần chân tánh, nên kể từ Sơ Trụ trong Viên Giáo trở đi, những điều tu hành của bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ được gọi là Phổ Hiền Hạnh. Phổ Hiền Hạnh được quy nạp thành cương lănh gồm mười đại nguyện vương, đó là pháp tu của bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ, mà cũng là pháp tu của các vị Bồ Tát trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Trong thế giới Tây Phương, từ hạ hạ phẩm văng sanh cho đến thượng thượng phẩm thảy đều tu mười nguyện Phổ Hiền, từ kinh Vô Lượng Thọ chúng ta đă thấy điều này.

      Đoạn tiếp theo là giải thích Thể bằng cách dùng ư nghĩa “để” (). Chúng ta xem lời Sớ. “Phục thứ, Thể thị Để dă, cùng nguyên cực để, lư tận uyên phủ, cứu sướng Thật Tế, năi danh vi Để. Thích Luận vân, trí độ đại hải duy Phật cùng để. Cố dĩ Để thích Thể dă” (Lại nữa, Thể là đáy. Tột cùng nguồn, thấu tận đáy, lư tột cùng chỗ sâu thẳm, thấu đạt rốt ráo Thật Tế, nên gọi là Đáy. Thích Luận viết: “Biển cả trí độ chỉ có Phật thấu tột tận đáy”, nên dùng chữ Đáy để giải thích Thể). Để là ǵ? Tục ngữ Trung Hoa có câu: “Đả phá sa oa vấn đáo để” (đập vỡ cái nồi bằng đất nung để t́m tận đáy)[4], đó là căn nguyên, xét tận nguồn, truy tận đáy. Nói cách khác, [Để] là căn nguyên của vạn hữu trong vũ trụ. Căn nguyên vẫn là Pháp Tánh, vẫn là bản tánh, cho nên nó có ư nghĩa là “đáy”, t́m thấu tột nguồn tận đáy chính là thật sự đạt đến tận cội nguồn. Kinh nói rất hay: “Duy Phật dữ Phật cứu cánh cùng để” (Chỉ có Phật và Phật là thấu đạt rốt ráo tận nguồn cội), triệt để hiểu rơ, chẳng có mảy may nghi hoặc. Nói cách khác, Đẳng Giác Bồ Tát vẫn chưa rốt ráo, vẫn thua kém một chút. Ắt phải thấu đạt rốt ráo tận đáy th́ mới là thật sự hiểu rơ, thông đạt vạn pháp trong vũ trụ. “Đạt” có nghĩa là thấu hiểu đến tột cùng sâu thẳm. V́ thế, Tây Phương Cực Lạc thế giới bất luận là xét về lư luận, phương pháp hay cảnh giới, thảy đều chưa hề được nói trong tất cả hết thảy các kinh Đại Thừa. Đúng là rất khó khiến cho kẻ khác tin tưởng, v́ lư ấy quá sâu, một mực thấu tận đáy. Đẳng Giác Bồ Tát mà c̣n chưa hiểu rơ rệt cho lắm, quư vị nói xem: Làm sao có thể khiến cho người ta tin tưởng? “Khó tin” th́ chẳng phải là phàm nhân than “khó tin”, mà là lời cảm thán “khó tin” của mười phương chư Phật! Chư Phật nói “khó tin”, chẳng phải là nói chính các Ngài khó tin, mà là nói những kẻ ngoài các Ngài ra: Từ Đẳng Giác trở xuống [đều cảm thấy pháp môn Tịnh Độ] khó tin, thật đấy! Đẳng Giác Bồ Tát không tin pháp môn này rất nhiều! Nếu Ngài tin tưởng th́ đă văng sanh Tịnh Độ. C̣n chưa văng sanh Tịnh Độ, tức là hoàn toàn chẳng tin. V́ thế, đây là pháp khó tin!

      Nhưng [pháp môn này] tu hành rất dễ dàng, khó tin, dễ hành, [kẻ thấy khó tin là v́] chưa thể thấu hiểu tột cùng cội nguồn. V́ lẽ đó, người b́nh phàm tiếp xúc pháp môn này mà có thể tin tưởng sâu đậm, chẳng nghi ngờ, chúng ta cũng chẳng biết do duyên cớ nào! Nếu đức Phật không dạy trong kinh Vô Lượng Thọ, làm sao chúng ta có thể hiểu được? Đức Phật nói: Người ấy trong vô lượng kiếp thời quá khứ đă từng cúng dường vô lượng vô biên chư Phật Như Lai, thiện căn sâu dầy dường ấy, tiếp xúc pháp môn này bèn có thể tin tưởng, có thể phát nguyện. Đó là do thiện căn, phước đức, và nhân duyên trong quá khứ của người ấy chín muồi, nay lại được mười phương chư Phật, Bồ Tát âm thầm gia tŕ, thành tựu Tín, Nguyện, Hạnh trong đời này cho người ấy, nên đời này, người ấy văng sanh thành Phật, khó lắm! Kinh có nhắc tới vương tử A Xà (tức A Xà Thế). Vương tử A Xà trong đời quá khứ từng cúng dường bốn trăm ức Phật, [thế mà] gặp pháp môn này chỉ phát một nguyện, hy vọng trong tương lai, “tôi thành Phật giống như A Di Đà Phật”, vẫn chẳng phát nguyện niệm Phật văng sanh. Phát một nguyện như thế, trong đời này có thể văng sanh hay không? Vẫn là chẳng nhất định, v́ ông ta chẳng phát nguyện tu hành, mới biết cúng dường bốn trăm ức Phật là “ít thiện căn”, cúng dường vô lượng vô biên chư Phật Như Lai mới là nhiều thiện căn, nhiều phước đức. Nay chúng ta gặp pháp môn này mà không tin, chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên! Gặp pháp môn này mà tin tưởng th́ mới đúng là đáng ngạc nhiên! Người ấy (người vừa nghe pháp môn bèn tin tưởng, phát nguyện, tu tŕ) trong đời quá khứ giống như đức Phật đă nói: Từng cúng dường vô lượng vô biên Như Lai.

      Chúng ta đọc mấy câu tiếp theo. Nơi trang sáu mươi bảy, ḍng thứ hai, xem từ cuối trang: “Kim viên nhân” (nay người căn cơ viên đốn); nói thật ra, “viên nhân” là người nhiều thiện căn, nhiều phước đức. Nếu chẳng phải là người nhiều thiện căn, lắm phước đức, chẳng thể nào là căn tánh viên đốn! V́ Tịnh Độ Tông là “viên nhất trong các pháp viên, đốn nhất trong các pháp đốn, chuyên nhất trong các pháp chuyên”, cổ đại đức tán thán như vậy. Chẳng phải là người căn tánh viên đốn, đích xác là rất khó thọ tŕ! “Tùng Danh Tự Tức, dĩ tín giải tâm cùng Trí Độ để, năi chí duy Phật dữ Phật, cứu cánh cùng để, dĩ thử Để nghĩa, thích ư kinh thể” (Từ địa vị Danh Tự Tức, dùng tâm tín giải thấu đạt tận đáy Trí Độ, cho đến chỉ có Phật và Phật thấu đạt rốt ráo tận đáy. Dùng cái nghĩa “đáy” ấy để giải thích cái Thể của kinh). Đây là nói thiện căn, phước đức, và nhân duyên trong Viên Giáo vô cùng sâu dầy, đúng như kinh Di Đà đă nói: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên đắc sanh bỉ quốc” (chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để sanh về cơi ấy), [phải là] nhiều thiện căn, nhiều phước đức, nhiều nhân duyên! V́ vậy, người ấy vừa tiếp xúc pháp môn này, vừa tiếp xúc là Danh Tự Phật. Gọi là Danh Tự v́ nghe nói pháp môn này bèn nghe hiểu, đă nghe hiểu bèn tin tưởng, phát nguyện, chịu nghiêm túc niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, đó là một loại. Loại người này tuy trí chưa thể rốt ráo thấu đạt đến tận đáy giống như chư Phật, nhưng cũng chẳng sai biệt cho mấy, [v́] người ấy chẳng hoài nghi mà! Chư Phật do thấu hiểu rốt ráo tận đáy, nên chẳng hoài nghi bất cứ chuyện ǵ, c̣n những người ấy tuy chẳng thấu đạt tận cùng, nhưng vẫn chẳng hoài nghi, nên cũng chẳng sai biệt cho mấy, trong một đời này, người ấy quyết định có thể thành tựu. Đây là dạy người tu hành biết độ sâu của pháp môn này; chỉ cần chúng ta tin sâu, nguyện thiết, tuy chưa đạt đến độ sâu ấy, nhưng đă tương ứng với độ sâu ấy, công đức lợi ích liền tự đạt được từng phần.

      Tiếp đó là ư nghĩa của chữ Đạt. “Đạt” là thông đạt, hiểu rơ, đó là đoạn thứ ba. “Phục thứ, Thể thị đạt nghĩa” (Lại nữa, Thể có nghĩa là đạt). Đạt () là thông đạt, “đắc thử Thể ư, thông đạt vô ủng” (hiểu ư nghĩa này của Thể, nên thông đạt, không có chướng ngại). “Ủng” () là chướng ngại, là trở ngại. [“Vô ủng” là] chẳng có chướng ngại, thông đạt vô ngại. “Như phong hành không trung, tự tại vô chướng ngại, nhất thiết dị danh biệt thuyết, giai dữ Thật Tướng bất tương vi bội. Thích Luận vân: “Bát Nhă thị nhất pháp, Phật thuyết chủng chủng danh, cố dĩ thể đạt thích kinh thể dă” (như gió lùa trong hư không, tự tại, chẳng chướng ngại. Hết thảy các tên gọi khác hay cách nói khác đều chẳng mâu thuẫn Thật Tướng. Thích Luận giảng: “Bát Nhă là một pháp, nhưng Phật nói ra các thứ tên gọi [khác nhau]”, nên dùng việc thông đạt Thể để giải thích Thể của kinh). Nói thật ra, chẳng có trí huệ th́ làm sao có thể thông đạt hết thảy các pháp? Chỉ có chân trí hiện tiền th́ mới thông đạt hết thảy vô ngại. Do lẽ đó, “đạt” cũng là Tánh Đức, đặc biệt phơi bày trí huệ trong Tánh Đức. Đó là giải thích ba ư nghĩa của Thể.

      Cuối đoạn này có một câu, chúng ta phải ghi nhớ. Xem từ chữ thứ ba trong ḍng thứ nhất của trang sáu mươi tám. “Nhược thức thử Thể, tắc ư chư pháp thông đạt tự tại, phục ư thế gian cập xuất thế gian nhất thiết dị danh, nhất trung giải đa, đa trung giải nhất” (Nếu biết Thể này, sẽ thông đạt tự tại nơi các pháp. Lại c̣n đối với hết thảy các tên gọi khác nhau của pháp thế gian và xuất thế gian, sẽ từ một mà hiểu nhiều, từ nhiều mà hiểu một). Chúng ta đọc đến chỗ này là được rồi, đây là một câu vô cùng quan trọng. Then chốt ở ngay chữ “Nhất”, Thiền Tông cũng nói “nhất”. Nếu đạt được “nhất”, sẽ đạt được hết thảy. “Nhất” là nhất tâm. Nhất chẳng phải là một con số, bất đắc dĩ cưỡng gọi là Nhất. Phương pháp của Tịnh Độ Tông trực tiếp, tu ǵ? Tu nhất tâm bất loạn, “nhất” ở đây là nhất tâm. Chỉ cần đạt đến nhất tâm, tự nhiên thông đạt hết thảy các pháp, pháp thế gian và xuất thế gian thảy đều thông đạt. Nay nói với kẻ sơ học, họ sẽ chẳng tin tưởng. V́ thế, bảo họ học một bộ kinh, họ chẳng cam ḷng, chẳng bằng ḷng, vừa bắt đầu bèn kinh luận ǵ cũng đều muốn học, học đạt được hiệu quả ǵ? Thứ ǵ cũng chẳng thông, thứ ǵ cũng chẳng đạt! V́ sao? Kẻ ấy chẳng thể tu nhất tâm, tâm tán loạn, học tạp loạn, vĩnh viễn chẳng thể thông đạt. Dạy học vào thời cổ kỵ nhất chuyện này. Người hiện thời có quan niệm chẳng giống tiền nhân, đó là nỗi bất hạnh của chúng ta. Hiện thời, người Hoa chịu khổ nạn to lớn dường ấy, vẫn phải tiếp tục hứng chịu nỗi khổ nạn ấy, vẫn chưa hứng chịu xong! Khi nào người Hoa mới chẳng hứng chịu khổ nạn? Đến khi nào người Hoa thật sự giác ngộ, lại đọc sách của Khổng lăo phu tử, lại sử dụng phương pháp học tập của cổ nhân, người Hoa sẽ không mắc nạn. Chúng ta vứt bỏ những cái của chính ḿnh, học theo ngoại quốc, ngoại quốc hoàn toàn chẳng hay! Nếu quư vị thường sang các nước trên thế giới, tôi đến rất nhiều nơi, thấy họ chẳng hay bằng Trung Quốc, thua kém chúng ta rất xa! V́ thế, nay tôi sang ngoại quốc, dạy người ngoại quốc đọc sách Khổng Tử, học theo phương pháp cổ xưa của Trung Quốc th́ bọn họ mới có thể đạt được hạnh phúc thật sự. Không đọc sách cổ sẽ không được!

      Trong phương pháp xa xưa, Nho và Phật dạy chúng ta dốc sức nơi nhất tâm. Trẻ nhỏ học tập, chưa hề nghe nói có chuyện học hai thứ cùng một lúc. Chẳng có! Muốn học đồng thời đôi ba thứ, thầy sẽ chẳng dạy, không nhận quư vị làm học tṛ. Học tṛ hiện thời th́ sao? Ông không cho tôi học tám thứ, mười thứ, tôi không theo ông học nữa! C̣n có cách nào nữa? V́ thế, hiện thời thầy chẳng t́m ra tṛ, mà tṛ cũng chẳng t́m thấy thầy! Trong quá khứ, tôi ở chỗ thầy Lư, thầy Lư theo đúng quy củ, học kinh chỉ có thể học một bộ. Học hai bộ chắc chắn là chuyện không thể được, thầy nhất định chẳng dạy quư vị! Tôi ở Đài Trung mười năm, chỉ học năm bộ kinh. Hiện thời, quư vị học trong Phật Học Viện, một năm không chỉ học năm bộ, tôi mười năm mới học năm bộ. Tiêu chuẩn của thầy Lư c̣n khoan dung hơn cổ nhân rất nhiều, chẳng nghiêm ngặt như cổ nhân, nên chúng tôi đạt được lợi ích cũng thua kém tổ sư đại đức xưa kia, do nghiêm khắc chẳng đủ mức mà! Nhưng nếu thầy nghiêm ngặt, chúng tôi sẽ bỏ đi hết, chẳng thể theo học với thầy. Cũng là v́ thầy nh́n thấy căn tánh của chúng tôi, chẳng có cách nào, nếu thầy nghiêm ngặt, chắc chắn chúng tôi sẽ bỏ đi hết. Theo học với thầy mà có lúc trong tâm chẳng phục, cảm thấy thầy ngang bướng, chuyên chế, không đếm xỉa lư lẽ! Thật ra, thầy đúng là hợp lư, lời thầy nói là chánh lư, nhưng chúng tôi ngỡ là ngụy biện, vẫn là do chúng tôi suy nghĩ sai quấy, chứ thầy chẳng sai trái! Măi tới sau này, chúng tôi mới tự ḿnh giác ngộ: Thầy [dạy bảo theo kiểu ấy là] chánh xác, lại c̣n cảm thấy thầy chưa nghiêm khắc đủ mức.

      V́ vậy, học ǵ th́ cũng nhất định là “thâm nhập một môn”, quyết định chẳng thể học hai môn, [học đồng thời] hai môn là điều kỵ húy rất lớn. Quư vị thấy trong chú sớ của tổ sư, trong kinh luận của chư Phật, đều nói giống như nhau: “Nhất trung giải đa, đa trung giải nhất” (trong một hiểu nhiều, trong nhiều hiểu một), nhất định phải huấn luyện từ phương pháp cơ bản. Nhất định là trước hết cầu Căn Bản Trí, Căn Bản Trí là vô tri, Bát Nhă vô tri. Trước hết tu vô tri rồi sau đó mới lại tu “không ǵ chẳng biết”, nên vừa bắt đầu học tập, chớ nên đọc hết thảy các kinh luận. Người hiện thời hoàn toàn tương phản với cổ nhân, hiện thời là vừa dụng công bèn đọc rất nhiều kinh luận, học ǵ vậy? Học “không ǵ chẳng biết”. Kết quả là học suốt đời, đúng là cái ǵ cũng chẳng biết! Nói thật ra, chuyện này hoàn toàn trái nghịch giáo huấn của đức Phật. Đức Phật dạy chúng ta: Theo thứ tự, trước hết là đoạn phiền năo, sau đấy sẽ học pháp môn. Tứ Hoằng Thệ Nguyện đă chỉ dạy tŕnh tự ấy. Thứ nhất là quư vị phải phát nguyện, “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Quư vị phải phát đại nguyện ấy, bỏ ḿnh v́ người khác, v́ Phật giáo, v́ chúng sanh. Thực hiện từ chỗ nào? Trước hết là đoạn phiền năo, “phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”. Sau khi đoạn hết phiền năo, sẽ lại là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.

      Chẳng hề nói chưa đoạn phiền năo mà đă học pháp môn. Chưa đoạn phiền năo mà học pháp môn, sẽ giống như trong phần trước đă nói: Đều là tà tri tà kiến, đều là ma sự. V́ sao? Trong tâm quư vị c̣n có một tí chưa buông xuống được, c̣n có t́nh chấp. Chỉ cần có t́nh chấp, những ǵ quư vị đă học đều là ma sự. Trong phần giảng về tựa đề kinh của tác phẩm chú giải kinh Hoa Nghiêm, Thanh Lương đại sư đă nói: Chẳng đoạn phiền năo mà muốn học pháp môn th́ đều là tà tri tà kiến, tăng trưởng tà kiến. Chẳng đoạn phiền năo và cũng chẳng học pháp môn, Thanh Lương đại sư bảo là tăng trưởng vô minh. Chẳng đoạn phiền năo mà học hết thảy các pháp môn là tăng trưởng tà kiến, quư vị liền biết: Đoạn phiền năo rất trọng yếu. Phiền năo là chướng ngại, trước hết, phải xóa bỏ chướng ngại. Sau khi đă xóa trừ chướng ngại, sẽ học pháp môn rất nhanh. Vừa thấy, vừa nghe, liền lập tức thông đạt. Giống như Lục Tổ đại sư tâm địa thanh tịnh, Ngài chưa hề nghe, chưa hề đọc kinh Pháp Hoa. Thiền sư Pháp Đạt niệm ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa, nhưng chẳng hiểu nghĩa kinh Pháp Hoa. Lục Tổ bảo: “Ông hăy niệm kinh Pháp Hoa cho ta nghe xem nào!” Sư chỉ niệm đến phẩm thứ hai. Kinh Pháp Hoa có hai mươi tám phẩm, Sư chỉ niệm đến phẩm thứ hai là phẩm Phương Tiện, Lục Tổ đại sư bảo: “Được rồi! Chẳng cần niệm nữa, ta đều biết trọn vẹn”, giảng giải cho Sư. Quư vị hăy nghĩ xem, đó là đă đạt nhất tâm liền thông đạt hết thảy các pháp, há cần phải xem hết cả bộ kinh! Vừa xem một chút, liền hiểu rơ toàn bộ, thông đạt toàn bộ.

      V́ vậy, hiện thời mọi người chẳng tu từ căn bản, mà tu nơi cành lá, vĩnh viễn chẳng tu thành tựu. Chúng tôi nói lời thật với họ, họ trách tôi lừa gạt họ, c̣n vặn hỏi ngược lại: “Chẳng phải là trước kia thầy cũng học rất nhiều đó sao?” Lại c̣n nói tôi lừa họ, nói tôi đố kỵ, sợ trong tương lai, họ học thành công vượt trỗi tôi! Quư vị nói có oan uổng hay không! Những điều tôi học trước kia, thưa cùng chư vị, là tu mù luyện đui. Tu luyện nhiều năm ngần ấy, đến nay mới t́m được đường. Tôi nói lời thật cùng quư vị, quư vị muốn học theo kiểu của tôi xưa kia, học ba mươi năm chưa chắc đă được như tôi, tôi dám nói như thế. Nay nếu quư vị nghe lời tôi, chẳng cần ba mươi năm, mà sau mười năm, nhất định quư vị vượt trỗi tôi. Tôi mong quư vị vượt trỗi tôi, v́ sao? Vượt trỗi tôi th́ Phật pháp mới có tiền đồ, chúng sanh mới có hy vọng, chứ đều giống như tôi th́ thôi rồi! Tôi hy vọng sau này các vị đều có thể vượt trỗi tôi, nhưng quư vị chẳng nghe tôi khuyến cáo, chẳng có cách nào! Chúng tôi thường nói: Người thế gian hiện thời nhận giả, chẳng nhận thật, nghe lừa, chẳng nghe khuyên. Nếu tôi lừa quư vị, [sẽ bảo]: “Quư vị kinh luận ǵ cũng đều phải nghiên cứu. Chẳng nghiên cứu sẽ không thể thành tựu!” Họ sẽ tin tưởng. Tôi bảo: “Quư vị thứ ǵ cũng đừng nghiên cứu, mỗi ngày niệm một quyển sách, cũng chẳng đ̣i hỏi phải hiểu nghĩa”, họ chẳng tin tưởng! Vậy là chẳng có cách nào, nói thật th́ họ chẳng tin. Được rồi, chúng tôi giới thiệu phần Biện Thể đến đây!

Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 3 hết



[1] “Hành, loại, tướng mạo” là cách phân chia chúng sanh trên hai phương diện tâm thức và sắc thân theo cách diễn giảng trong Đại Trí Độ Luận. Hành là ư hành (có thể hiểu thô thiển là tâm tư, ư tưởng, quan niệm, yêu ghét, ư niệm… của chúng sanh). Loại là chủng loại, “tướng mạo” là h́nh dáng.

[2] Phục đoạn: Chế ngự không cho phiền năo dấy lên, nhưng chưa hoàn toàn đoạn trừ.

[3] “Mười pháp” ở đây chính là Thập Như Thị được nói trong kinh Pháp Hoa (phẩm Phương Tiện). Mười món Như Thị chính là Như Thị Tướng, Như Thị Tánh, Như Thị Thể, Như Thị Lực, Như Thị Tác, Như Thị Nhân, Như Thị Duyên, Như Thị Quả, Như Thị Báo, Như Thị Bổn Mạt Cứu Cánh. Như Thị chính là đặc tánh của Thật Tướng, nên tương ứng với mười món Như Thị mà nói Thật Tánh, Thật Thể v.v…

[4] Đây là một câu tục ngữ (打破砂鍋問到底) nhằm chỉ thái độ kiên quyết truy t́m ư nghĩa hoặc căn nguyên của một vấn đề đến tột cùng, không khoan nhượng, không bằng ḷng với những giải thích hời hợt, nông cạn. Hiểu theo nghĩa rộng, tục ngữ này cũng được dùng để phê phán thái độ cố chấp cứ khăng khăng muốn biết một điều ǵ đó.