Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa
Phần 3
觀無量壽佛經疏鈔演義
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Thời gian: Khởi
giảng từ ngày 01 tháng 12 năm 1990
Địa
điểm: Hoa Tạng Đồ
Thư Quán, huyện Cảnh Mỹ, Đài Loan
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo
chánh: Minh Tiến, Đức Phong và Huệ Trang
Tập 9
Xin mở kinh bổn, trang bốn
mươi tám, ḍng thứ hai. Đây là dựa theo Đại Trí Độ Luận để giải thích Nhất Tâm Tam Quán:
“Nhất Tâm Tam Quán giả, thử
xuất Thích Luận. Luận vân, Tam Trí thật tại nhất
tâm trung đắc. Chỉ nhất quán nhi tam quán, quán ư Nhất
Đế nhi Tam Đế. Cố danh Nhất Tâm Tam Quán, loại
như nhất tâm, nhi hữu sanh, trụ, diệt, như thử
tam tướng, tại nhất tâm trung. Thử quán thành thời,
chứng nhất tâm tam trí, diệc danh Nhất Thiết Chủng
Trí, tịch diệt tướng, chủng chủng hành, loại,
tướng mạo, giai tri dă. Tịch diệt tướng
giả, thị song vong chi lực. Chủng chủng hành loại
tướng mạo giai tri giả, song chiếu chi lực
dă” (Nhất Tâm Tam Quán xuất phát từ Thích Luận. Luận
dạy: “Thật ra, Tam Trí do từ nhất tâm mà đắc.
Chỉ là một phép Quán mà thành Tam Quán, quán nơi một
Đế mà trọn Tam Đế. V́ vậy, gọi là Nhất
Tâm Tam Quán”. Giống như nhất tâm mà có ba tướng là
sanh, trụ, diệt như thế trong nhất tâm. Khi phép
Quán này thành, sẽ chứng nhất tâm tam trí, c̣n gọi là
Nhất Thiết Chủng Trí, tướng tịch diệt,
các thứ hạnh loại, tướng mạo đều
biết. Tướng tịch diệt là do sức song vong.
Các thứ hành loại, tướng mạo đều biết
là do sức của song chiếu vậy). Đoạn văn
này do Long Thọ Bồ Tát giảng trong Đại Trí Độ
Luận. Nhất Tâm Tam Quán là pháp môn cũng như
phương pháp tu học thù thắng nhất; nhưng
trước hết, phải biết Thật Tướng của
vũ trụ và nhân sinh th́ mới có thể khởi lên Nhất
Tâm Tam Quán. Trong đoạn này, cuối cùng đă nói rất
rơ ràng, cũng là nhằm giải thích v́ sao người ấy
có thể thành tựu ba trí. [Ba trí] là Nhất Thiết Trí, Đạo
Chủng Trí, và Nhất Thiết Chủng Trí. Nói cách khác, trí
huệ Bát Nhă trong bản tánh đă thấu lộ viên măn. V́
tâm pháp và sắc pháp, nay chúng ta gọi là tinh thần và vật
chất, cho đến toàn thể hư không pháp giới đều
từ nhất tâm biến hiện. Đó là sự thật,
mà cũng là căn cứ lư luận của Nhất Tâm Tam
Quán. Nói thật ra, tâm chỉ là một, há có tam tâm, nhị
ư? Tam tâm, nhị ư là hư vọng. Cớ sao biến thành
hư vọng? Do có phân biệt, chấp trước. Hễ
khởi lên phân biệt, chấp trước, sẽ biến
thành vô lượng vô biên. Ĺa khỏi hết thảy phân biệt,
chấp trước, tâm ấy là nhất tâm. Nhất tâm trọn
đủ hết thảy các pháp; Tam Đế và Tam Quán là hết
thảy các pháp được cô đọng lại.
Tam
Quán (Không Quán, Giả Quán, Trung Quán) là Năng Quán (chủ thể
thực hiện sự quán tưởng), Tam Đế (Chân Đế,
Tục Đế và Đệ Nhất Nghĩa Đế) là
Sở Quán (đối tượng được quán), Năng
và Sở là một, không hai. Nói đơn giản, tâm
Năng Quán là tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là tướng
tịch diệt, có tác dụng Chiếu Kiến. Đoạn
văn này đă giảng ư nghĩa ấy
rất viên măn, nói rất hay, nhưng kinh văn rất ngắn.
“Tịch diệt tướng
giả, thị song vong
chi lực” (Tướng tịch diệt là do sức của
song vong), “vong” (亡) là ĺa khỏi, mà
cũng là “chân tâm lư thể chẳng
lập một pháp”. Lục Tổ nói “vốn chẳng có một vật”, đó là chân tâm.
Chân tâm là nhất tâm. Hễ có một vật, sẽ chẳng
phải là chân tâm, mà biến thành vọng tâm. V́ vậy, trong
chân tâm chẳng thể có mảy may vật ǵ trong ấy.
Chân, giả, tà, chánh, đúng, sai, thiện, ác đều là
Nhị. Nay chúng ta nói “song” (雙) là tương đối.
Nếu triệt để ĺa khỏi [tương đối]
th́ sau đó, hết thảy các pháp thế gian và xuất thế
gian không ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng thể. Điều
này được diễn tả là “chủng chủng hành, loại, tướng mạo
giai tri” (các thứ hành, loại, tướng mạo[1]
đều biết). V́ sao đều biết? Do tâm thanh tịnh
khởi tác dụng giác chiếu, đó là Chiếu Kiến. Điều
này nhằm phân biệt rơ: Chẳng phải là t́nh kiến,
mà là Chiếu Kiến.
Thật
ra, Nhất Tâm Tam Quán là pháp tu của bậc thượng
thượng căn, kẻ b́nh phàm chẳng có cách nào tu tập
pháp này được. Kẻ b́nh phàm chỉ đành
nương theo Thứ Đệ Tam Quán để tu tập;
[Nhất Tâm Tam Quán] dành cho bậc thượng thượng
căn. Trong pháp môn Tịnh Tông, Đại Kinh dạy “phát Bồ Đề tâm, một
mực chuyên niệm”; thưa cùng quư vị, “một mực xưng niệm”
là Nhất Tâm Tam Quán. V́ sao? V́ cái tâm năng niệm là Thỉ
Giác, Phật hiệu được niệm là Bổn Giác;
Thỉ Giác và Bổn Giác đều trọn đủ viên
măn Tam Đế và Tam Quán, những kẻ niệm Phật
b́nh phàm như chúng ta chẳng biết chuyện này! V́ lẽ
đó, không riêng ǵ các vị tổ sư đại đức
từ xưa đă tán thán Tŕ Danh niệm Phật, mà chư
Phật, Bồ Tát cũng đều tán thán. Ai cũng đều
có thể tu, nhưng chẳng biết pháp được tu
ấy chính là pháp môn viên măn rốt ráo. Dẫu hoàn toàn chẳng
thông đạt giáo lư, chỉ cần có thể thật thà
niệm Phật, niệm đến lúc kha khá sẽ đắc
Định. Niệm đến khi phiền năo chẳng thể
dấy lên hiện hành, sẽ thành tựu Niệm Phật
tam-muội; bất tri bất giác tự nhiên thành tựu
tam-muội, chẳng cần quyết ư tu tập. Đó gọi
là “nước chảy thành khe
suối”, tự nhiên thành tựu. Sau khi thành tựu tam-muội,
vẫn tiếp tục niệm, niệm đến một
mức độ kha khá, sẽ hoát nhiên khai ngộ, giống
như Đại Thế Chí Bồ Tát đă dạy: “Bất giả phương tiện,
tự đắc tâm khai” (chẳng nhờ vào
phương tiện mà tâm được mở mang). Tâm
khai bèn kiến tánh, Nhất Tâm Tam Quán liền đạt được,
liền viên măn. V́ vậy, pháp môn này đúng là chẳng thể
nghĩ bàn, vượt trỗi hết thảy các pháp môn. Tu
tập dễ, thành công cao! Nói thông
thường, Nhất Tâm Tam Quán là sự chứng đắc
viên đốn của Bồ Tát và Phật, nào ngờ lũ
phàm phu chúng ta cũng có thể tu pháp môn viên măn, rốt ráo
dường ấy. V́ lẽ đó, sau khi chư vị
đọc bộ kinh này, biết chân tướng sự thật
này, chúng ta mới chịu khăng khăng một mực thật
thà niệm Phật. Đối với người tu Tịnh
Độ chúng ta, bản kinh này có cống hiến lớn nhất,
dạy chúng ta hăy khăng khăng thật thà niệm Phật.
Chúng
ta lại lật qua xem trang năm mươi, ḍng thứ ba
đếm từ dưới lên: “Thử Quán vi diệu, tức nhất nhi tam, tức
tam nhi nhất. Nhất quán, nhất thiết quán. Nhất
thiết quán, nhất quán. Phi nhất, phi nhất thiết.
Như thử chi quán, nhiếp nhất thiết quán dă”
(Phép Quán này vi diệu, một chính là ba, tuy ba mà một. Quán
một là quán hết thảy, quán hết thảy chính là quán
một. Chẳng phải là một, chẳng phải là hết
thảy. Phép Quán như thế gồm trọn hết thảy
các phép Quán). Nói thật ra, câu này đă nói theo kinh Hoa Nghiêm, “một chính là hết thảy, hết
thảy chính là một, một chính là vô lượng, vô
lượng chính là một”, có ư nghĩa ấy. V́ lẽ
đó, cổ đức xưng tụng một câu Di Đà
là “vạn đức hồng
danh”. Vạn là hết thảy, là vô lượng, bốn
chữ A Di Đà Phật là một. Trong một có vô lượng,
vô lượng là một, toàn bộ đều kết quy vào
danh hiệu. Nếu xét theo ư nghĩa rơ rệt của kinh
này th́ “một” là nói đến
Nhất Tâm Tam Quán, “hết thảy”
là mười sáu phép Quán được giảng trong kinh
này. Mỗi phép Quán trọn đủ mười sáu phép Quán,
mười sáu phép Quán có thể dung nhiếp trong một
phép Quán. Bất cứ phép Quán nào trong mười sáu phép Quán
đều trọn đủ mười lăm phép Quán kia,
chẳng có điều nào là ngoại lệ! Trong mười
sáu phép Quán, thực hiện dễ dàng nhất là phép Quán thứ
mười sáu dạy về Tŕ Danh niệm Phật, nói
chung, chúng ta [tu tập tŕ danh niệm Phật] chẳng gặp
vấn đề ǵ! Mỗi phép Quán đều nhiếp trọn
vẹn mười lăm phép Quán kia. V́ vậy, quư vị
quán Vô Lượng Thọ Phật th́ cũng nhiếp mười
lăm phép Quán kia. Quư vị quán Nhật Quán, quán Thủy Quán,
cũng nhiếp mười lăm phép Quán kia, nhưng các
phương pháp Quán ấy rất khó thành tựu, v́ cảnh
vi tế, tâm chúng ta thô lậu, quán chẳng thành tựu.
Đối với phương pháp Tŕ Danh này, tâm thô cũng
chẳng sao cả, vẫn có thể dụng công, vẫn có
thể đắc lực, vẫn đầy đủ
mười lăm phép Quán kia y hệt. Đó gọi là “một tu, hết thảy tu; hết
thảy tu, một tu”.
Chúng
ta đă hiểu rơ ràng đạo lư này, chẳng c̣n nghi hoặc.
V́ thế, [trong pháp môn] niệm Phật thường nói: “Chẳng hoài nghi, chẳng gián
đoạn, chẳng xen tạp”. Đối với chuyện
chẳng hoài nghi th́ do chẳng hiểu rơ bèn có hoài nghi. Tự
nói “chẳng hoài nghi”, nhưng nói thật ra, chính ḿnh thật
sự hoài nghi, chưa hiểu rơ ràng. Nếu thật sự
chẳng hoài nghi, bản thân người ấy nhất
định sẽ khăng khăng một mực tu tập,
hành tŕ. Nếu chính kẻ ấy vẫn chẳng chịu
hành, có thể thấy là kẻ ấy vẫn chưa hiểu
rơ, chắc chắn là hoài nghi! Đối với chuyện
này, học theo cách nói ngoài miệng của kẻ khác dễ
dàng, nhưng nếu muốn lư giải nghĩa chân thật
trong ngôn ngữ sẽ chẳng dễ! Kinh điển toàn
là lời lẽ của Phật, chúng ta niệm niệm học
hiểu những lời lẽ ấy, nhưng trong bài kệ
Khai Kinh có câu “nguyện giải
Như Lai chân thật nghĩa”, mấy ai biết
nghĩa chân thật ấy? Khó lắm! Ư nghĩa của tôi
quư vị chẳng biết, ư nghĩa của quư vị tôi chẳng
biết, làm sao biết ư nghĩa chân thật của Như
Lai? Nhưng kinh dạy chúng ta nguyên tắc sau đây, [nương
theo nguyên tắc ấy], chúng ta có thể hiểu nghĩa chân
thật của Như Lai, mà cũng biết tâm ư của hết
thảy chúng sanh. Chỉ cần tâm quư vị thanh tịnh th́
sẽ biết. V́ hết thảy các pháp thế gian và xuất
thế gian đều sanh từ tâm thanh tịnh. Tâm sanh th́
mọi pháp sanh. Nếu quư vị t́m được chân tâm,
chân tâm khởi tác dụng, tận hư không khắp pháp giới
quư vị đều biết. V́ thế, kinh Vô Lượng
Thọ nói người trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới ai nấy đều có năng lực sau
đây: Hết thảy chúng sanh trong mười
phương thế giới trong tâm nghĩ tưởng điều
ǵ họ đều biết. Phàm phu chúng ta thấy [năng
lực ấy] là thần thông, thần thông ấy do đâu
mà có? Từ tâm thanh tịnh mà có. V́ thế, chư vị
đồng tu phải biết: Toàn thể cương lănh
và nguyên tắc tu hành được giảng trong Phật
pháp là tâm thanh tịnh; không đổ công dốc sức
nơi đó th́ trật mất rồi!
Tiếp
theo đó là giải thích chữ Vô Lượng Thọ.
Đây là đoạn chủ yếu nhất trong đề
mục bộ kinh này, [hăy xem] trang năm mươi mốt,
ḍng thứ năm từ dưới đếm lên. “Tứ thích Vô Lượng Thọ,
chánh thị Tam Quán sở quán cảnh dă. Tiền minh Tam Quán,
thả dĩ Tam Đức, Tam Nhân, nhi vị đế cảnh.
Cái thị sở quán dung tức, dụng hiển năng
quán tuyệt diệu. Tu tri tánh trung Tam Đức, Thể thị
chư Phật tam thân, tức thử Tam Đức tam thân,
vi ngă Nhất Tâm Tam Quán, diệc khả Di Đà tam thân,
dĩ vi Pháp Thân, ngă chi Tam Quán, dĩ vi Bát Nhă. Quán thành kiến
Phật, tức thị Giải Thoát” (Bốn là giải
thích từ ngữ Vô Lượng Thọ, đó chính là cảnh
được quán bởi Tam Quán. Tam Quán như đă
được nói trong phần trước, lại c̣n lấy
Tam Đức và Tam Nhân làm cảnh để quán chắc thật.
Ấy là v́ cảnh được quán dung thông, chính là lẫn
nhau, dùng điều đó để hiển thị sự
tuyệt diệt của Năng Quán. Cần phải biết
Thể của Tam Đức trong Tánh là ba thân của chư
Phật, dùng ngay Tam Đức và Tam Thân làm Nhất Tâm Tam
Quán của ta. Cũng có thể lấy ba thân của Phật
Di Đà làm Pháp Thân, lấy Tam Quán của ta làm Bát Nhă. Quán
thành tựu sẽ thấy Phật, đó chính là Giải
Thoát). Chúng ta chỉ xem đoạn này. Phần trước
đă nói nhiều như vậy, nhằm giảng rơ Năng
Quán và Sở Quán là ǵ. Phải hiểu rơ ư nghĩa của
Năng Quán và Sở Quán, cảnh giới vô cùng nhiều,
chúng ta quán cảnh giới nào là tốt nhất? Trong mười
sáu phép Quán, A Di Đà Phật là chủ,
nói A Di Đà Phật th́ y báo và chánh báo trang nghiêm trong thế
giới Tây Phương đều được bao gồm.
V́ thế, tựa đề kinh này đă lấy phép trọng
yếu nhất trong mười sáu phép Quán là [quán tưởng]
Vô Lượng Thọ Phật. Ngài chẳng nói Phật Thuyết
Quán Nhật Quán Kinh, quư vị nói như vậy cũng
được; mà Phật Thuyết Quán Thủy Quán Kinh hoặc
trong mười sáu phép Quán tùy tiện chọn lấy một
phép Quán nào [để đặt tên kinh] cũng đều
được! Ngài chẳng dùng mười lăm tên gọi
kia, mà lấy phép Quán thứ chín, phép Quán thứ chín là quán Vô
Lượng Thọ Phật, nên tựa đề kinh là Phật
Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh.
Tiếp
đó, lời Sớ giải thích [danh hiệu] Vô Lượng
Thọ nơi hàng thứ hai trong trang năm mươi hai.
Vô Lượng Thọ là ǵ? “Vô Lượng
Thọ giả, Thiên Trúc xưng A Di Đà” (Vô Lượng
Thọ được người Thiên Trúc gọi là A Di Đà).
Thiên Trúc (Sindhu) là nói tới người Ấn Độ.
Tiếng Phạn là A Di Đà, dịch sang tiếng Hán thành
Vô Lượng Thọ. Nếu thật sự chiếu theo
tiếng Phạn để dịch, th́ A là Vô, có nghĩa là không
có, Di Đà là Lượng. A Di Đà có ư nghĩa thật sự
là Vô Lượng. Trong Vô Lượng, bao hàm ư nghĩa vô cùng
sâu rộng, chỉ nêu đơn giản mấy thí dụ
để nói: Vô lượng trí huệ, vô lượng đức
năng, vô lượng tài nghệ, vô lượng phước
báo, vô lượng thọ mạng, thứ ǵ cũng đều
là vô lượng, đúng là vô lượng vô biên. Trong hết
thảy các thứ vô lượng, điều ǵ quan trọng
nhất? Thọ mạng quan trọng nhất. Nếu chẳng
có thọ mạng, tất cả những thứ vô lượng
khác đều rỗng tuếch! Ví dụ như nói quư vị
có vô lượng của cải, báu vật, nhưng chẳng
có thọ mạng, tiền tài, báu vật để cho
người khác dùng, bản thân quư vị chẳng sử dụng
được! V́ lẽ đó, trong hết thảy các thứ
vô lượng, khẩn yếu nhất là vô lượng thọ.
Do có vô lượng thọ, chính ḿnh mới có thể thật
sự hưởng thụ hết thảy các thứ vô
lượng. Chẳng có vô lượng thọ, những thứ
vô lượng khác hoàn toàn vô ích, đều chẳng phải
là vô lượng thật sự! V́ thế, A Di Đà được
dịch thành ư nghĩa chủ yếu là Vô Lượng Thọ.
[Danh hiệu] A Di Đà tuyệt đối chẳng phải
là chỉ có một ư nghĩa là Vô Lượng Thọ,
chư vị phải biết: Ư nghĩa của danh hiệu
ấy chẳng thể nói trọn hết, trọn hết
kiếp vẫn nói chẳng tận.
Tiếp
theo đó, nêu ra chân tướng: “Phật
bổn vô thân, vô thọ, diệc vô ư lượng” (Phật
vốn chẳng có thân, chẳng có thọ mạng, mà
cũng chẳng có số lượng). Thân thể, thọ
mạng, số lượng thảy đều chẳng nói
được. Trước hết, phải hiểu Phật
là ǵ? Nay chúng ta vừa thấy chữ Phật đă nghĩ
đến một người; người th́ lẽ nào chẳng
có thân thể? Chẳng có thân thể, làm sao có thể gọi
là người? Chư vị phải biết: Phật có
nghĩa là Giác. Giác tánh chẳng có thân thể, mà cũng chẳng
có thọ mạng, cũng chẳng thuộc vào phạm vi số
lượng. Giác tánh là ǵ? Giác tánh là bản tánh của chính chúng
ta, được gọi là Chân Như bản tánh; [trong Chân
Như bản tánh], những thứ ấy (thân thể, thọ
mạng, số lượng) đều chẳng có. Chân
Như bản tánh to cỡ nào? Chẳng có cách nào nghĩ bàn!
Tận hư không khắp pháp giới đều do Chân
Như bản thể biến hiện. Bản tánh là cái có thể
biến (năng biến), hư không pháp giới là cái
được biến (sở biến). Nếu quư vị hỏi
nó lấy ǵ làm thân ư? Chỉ là chẳng có thân th́ nó mới
có thể biến ra hư không pháp giới; nếu có thân, làm
sao nó biến được? Nó bất sanh bất diệt;
do bất sanh bất diệt, nên chẳng có thọ lượng.
Không ǵ lớn mà ở ngoài nó, không ǵ nhỏ mà ở trong nó,
tuyệt đối chẳng rơi vào số lượng!
Lũ
phàm phu chúng ta rất đáng thương. Là phàm phu th́ quư vị
t́m một thầy bói cao minh, ông ta có thể đoán vận
mạng cả đời quư vị chẳng trật tí nào!
Vận mạng cá nhân, vận mạng gia đ́nh, vận mạng
quốc gia, vận mạng thế giới đều có thể
tiên đoán rất chuẩn xác. V́ sao? Rơi vào số lượng,
nên mới có thể tính toán. V́ sao có số lượng? V́
quư vị có phân biệt, chấp trước; hễ có phân
biệt, chấp trước, bèn rớt trong số lượng.
Ngày nào quư vị chẳng phân biệt, chẳng chấp
trước hết thảy các pháp, sẽ vượt khỏi
số lượng, ai đoán mạng cho quư vị cũng
chẳng chuẩn xác. V́ sao? Đă vượt thoát! “Vượt
thoát” là trong hết thảy các pháp chẳng khởi tâm, không
động niệm, bèn vượt thoát. Hễ tâm vừa động
niệm th́ c̣n có số lượng, không động niệm
th́ chẳng có số lượng. V́ vậy, chân tâm ly niệm,
[tức là] trong chân tâm chẳng có niệm, nên nó chẳng có
thân, chẳng có tuổi thọ, mà cũng chẳng có hạn
lượng. Tận hư không khắp pháp giới và chính
ḿnh là một. Lời lẽ này nói ra đúng là rất khó hiểu,
đó là chân tướng, là sự thật, là Thật Tướng
của các pháp. Chân tướng của hết thảy các
pháp là như thế.
V́ rất
khó thấu hiểu, chẳng phải là kiến thức
thông thường đối với lũ b́nh phàm chúng ta.
Chúng ta không chỉ chẳng thấy, mà c̣n chưa nghe nói tới,
ngay cả mơ th́ cũng chưa mộng thấy, nên chư
Phật, Bồ Tát thường dùng tỷ dụ, khiến
cho chúng ta từ tỷ dụ mà thấu hiểu. Tỷ dụ
thường được dùng là “mộng, huyễn, bọt, bóng”. Ví như nằm mộng
th́ mỗi người chúng ta đều có kinh nghiệm nằm
mộng. Mộng do đâu mà có? Chẳng thể nói mộng
không có, nó xác thực là có, có chuyện ấy. Mộng là thật
ư? Chúng ta biết mộng chẳng thật! Nếu mộng
đă là chẳng thật, c̣n có những người nằm
mộng, đến ngày hôm sau, hoặc ngày hôm sau nữa
đến t́m tôi, hỏi: “Giấc mộng ấy rốt cuộc
có ư nghĩa ǵ?” Mộng chẳng phải là thật, há c̣n có
ư nghĩa ǵ? Ngay cả giấc mộng hư vọng mà c̣n chấp
trước, c̣n muốn coi nó là thật, đó là nguyên cớ
gây nên mê hoặc vậy! Mộng do tâm biến hiện, trong
Phật pháp thường nói: “Chân
Như bất thủ tự tánh” (Chân Như chẳng giữ
lấy tự tánh). Tự tánh là thanh tịnh, chẳng thanh
tịnh bèn bị động. Tâm đă động, tức
là chân tâm hễ động liền hiện hư không pháp
giới. Quư vị đêm ngủ không yên, vọng tâm dấy
động, bèn nằm mộng, nên người có công phu
định lực chẳng nằm mộng. Người có
công phu định lực lúc ngủ tâm vẫn thanh tịnh,
tâm người ấy chẳng động sẽ chẳng
nằm mộng!
Khi Phật giáo chưa
truyền đến Trung Quốc, cổ nhân Trung Quốc
đă nói: “Trí nhân vô mộng”
(người trí chẳng nằm mộng). Người trí
tâm địa thanh tịnh, tâm địa chân thành, chẳng
có chút hư giả, hạng người ấy rất ít mộng,
không dễ ǵ nằm mộng. Nằm mộng nhiều là do
suốt ngày từ sáng đến tối suy nghĩ loạn
xạ, người ấy cũng rất dễ nằm mộng.
Lại c̣n mộng thấy những giấc mơ lộn xộn,
do suy nghĩ loạn xạ đó mà! Từ chỗ này, chứng
tỏ: Cái tâm của quư vị, chúng tôi không nói đến
chân tâm, mà nói tới vọng tâm. Quư vị thấy vừa mở
đầu kinh Lăng Nghiêm, Thích Ca Mâu Ni Phật gọi tôn
giả A Nan hỏi tâm tôn giả ở chỗ nào? Trọn
chẳng hỏi Ngài là chân tâm hay vọng tâm. Bất luận
chân tâm hay vọng tâm, tâm ở nơi đâu? Nay chúng ta đang nói đến vọng tâm, chúng
ta thường nói vọng tâm là thức thứ sáu, tức ư
thức, thức thứ bảy và thức thứ tám,
những thức ấy ở đâu? Đến đêm nằm
mộng, chúng sẽ hiển hiện. V́ sao? Vọng tâm hiện
tướng. Nếu nó chẳng hiện tướng, chúng
ta chẳng t́m thấy nó, chẳng biết nó ở chỗ
nào! Nó vừa hiện tướng, chúng ta liền nắm bắt
nó, cảnh trong mộng chính là [hiện tướng của
nó]. Giả sử cái tâm có thể nằm mộng là chân tâm
th́ mộng cảnh được biến hiện [bởi
cái tâm ấy] là vọng tướng. Toàn thể chân chính là
vọng, chân tâm của quư vị liền biến thành vọng
cảnh. Toàn bộ vọng chính là chân, toàn thể mộng cảnh
là vọng tâm của quư vị.
Nếu
trong cảnh giới đó, chúng ta hỏi: Ai là chính ḿnh? Nằm
mộng nhất định có chính ḿnh! Có ai nằm mộng
mà chẳng có chính ḿnh trong mộng? Có ai trong quư vị [nằm
mơ mà thấy] trong mộng chẳng có chính ḿnh? Chẳng
thể nào có chuyện ấy! Nhất định là có chính
ḿnh, c̣n có người khác, c̣n có núi, sông, đại địa,
c̣n có nhiều thứ nữa! Nếu quư vị thật sự
hiểu rơ những thứ ấy đều do tự tánh biến
hiện, trong mộng có thứ ǵ chẳng phải là chính
ḿnh? Nguyên lai, thứ ǵ cũng đều chính ḿnh. Từ những
sự tướng nông cạn, gần gũi này mà thấu
hiểu sâu xa hơn, toàn thể hư không pháp giới hiện
thời từ đâu mà có? Do Chân Như tự tánh chẳng
giữ lấy tự tánh mà biến hiện ra. Hư không
pháp giới, núi, sông, đại địa, chúng sanh đông
đảo, toàn là tự tánh của chính ḿnh. Ngoài tâm chẳng
có pháp, ngoài pháp chẳng có tâm, tự tánh của chúng ta ở
chỗ nào? Quư vị mắt thấy, tai nghe, thân thể tiếp
xúc đều là tự tánh. Ngày nào quư vị thật sự
khẳng định hết thảy cảnh giới hoàn
toàn là chính ḿnh, bèn chứng đắc Pháp Thân thanh tịnh.
Nếu quư vị nói đó chẳng phải là ta, kẻ khác và
ta chẳng có liên can ǵ! Đó là mê mất tự tánh.
Đức
Phật giảng rất rơ ràng, chúng ta hiểu rơ, có phải
là thật sự hiểu rơ hay không? Vẫn mê hoặc,
điên đảo. V́ sao? Ta chẳng phải là kẻ khác, kẻ
khác vẫn chẳng phải là ta, chẳng có cách nào phá vỡ
vọng tưởng chấp trước kiên cố ấy.
Nếu phá vỡ vọng tưởng, chấp trước
ấy, xin chúc mừng quư vị, quư vị đă thành Phật.
Khi nào sẽ phá vỡ vọng tưởng kiên cố ấy?
Mức độ thấp nhất là Sơ Trụ Bồ Tát
trong Viên Giáo, hoặc Sơ Địa trong Biệt Giáo. Chỉ
cần quư vị phá vỡ, khẳng định hư không
pháp giới do một ḿnh ta biến hiện, quư vị chứng
đắc quả vị Sơ Trụ trong Viên Giáo. Khi ấy,
tâm địa quư vị thanh tịnh, b́nh đẳng, ḷng từ
bi được kiến lập trên tâm thanh tịnh, b́nh
đẳng, đại từ đại bi. Quư vị đối
đăi Phật, đối đăi hết thảy chúng sanh,
quyết định chẳng có cách nh́n nào khác, chúng sanh và Phật
b́nh đẳng. Cung kính b́nh đẳng, tán thán thanh tịnh,
lúc đó, quư vị đang tu hành mười đại nguyện
vương của Phổ Hiền. Mười đại
nguyện vương, người b́nh phàm chẳng làm
được; trong Tịnh Độ, sau khi đă đắc
Lư nhất tâm bất loạn th́ mới có thể tu. Nói thông
thường, hạng người ấy chính là Sơ Trụ
Bồ Tát trong Viên Giáo hoặc Sơ Địa Bồ Tát
trong Biệt Giáo, phá một phẩm vô minh, chứng một
phần Pháp Thân, tu hành khi đó chính là Phổ Hiền Hạnh.
Chưa đạt đến cảnh giới ấy, chẳng
có cách nào tu hạnh Phổ Hiền. V́ tâm của ngài Phổ
Hiền là thanh tịnh, b́nh đẳng, tâm chúng ta chẳng
thanh tịnh, bất b́nh đẳng, chẳng biết hết
thảy vạn pháp là chính ḿnh. Trong [nội tâm] của quư vị
có chướng ngại, có giới hạn, sẽ chẳng
phải là Phổ Hiền Hạnh. Phổ Hiền Hạnh
chắc chắn chẳng có phân biệt, chẳng có chấp
trước, chẳng có giới hạn, là một Thể với
vạn pháp.
Đây
là nói tới Pháp Thân. Pháp Thân là tận hư không khắp
pháp giới và chính ḿnh là một, lấy vạn pháp làm tự
thân, giống như nằm mộng: Mộng cảnh, [tức
là] toàn thể cảnh giới trong mộng là một thân
tướng. Chẳng phải là nói thân tướng của
một thân, mà là tận hư không khắp pháp giới là
chính ḿnh, nó hiện thành tướng ấy, tướng ấy
được gọi là Pháp Thân. Pháp Thân cũng chẳng có
thân, chẳng có thọ mạng, cũng vượt ngoài số
lượng. V́ vậy, Pháp Thân bất sanh bất diệt.
Tiếp
đó, sách viết: “Tùy thuận
thế gian, nhi luận tam thân” (do tùy thuận thế
gian, nên luận định Tam Thân), đó là cách nói quyền
xảo phương tiện trong Phật pháp. Mục
đích của phương tiện quyền xảo là khiến
cho chúng ta ngộ nhập cảnh giới chân thật. Do vậy,
ngàn vạn phần chớ nên chấp trước hết
thảy các phương tiện do đức Phật đă
nói. Nếu chấp trước, quư vị chẳng thể ngộ
nhập, điều này vô cùng quan trọng! Do tùy thuận thế
gian mà luận định ba thân. “Diệc
tùy thuận thế gian, nhi luận tam thọ” (cũng do
tùy thuận thế giới mà luận ba thứ thọ
lượng). “Tam thọ” là
Pháp Thân thọ, Báo Thân thọ, và Ứng Hóa Thân thọ. “Diệc tùy thuận thế gian, nhi luận tam lượng” (cũng
tùy thuận thế gian mà luận tam lượng). Có thể
thấy đức Phật nói đến thân, thọ mạng
và số lượng đều v́ tùy thuận người
thế gian mà nói. Trong tri kiến của Phật, chắc chắn
chẳng có những điều ấy. Tâm Phật thanh tịnh
chẳng lập một pháp. Quư vị đọc Đàn Kinh
thấy pháp sư Ấn Tông lúc mới gặp Lục Tổ,
bèn hướng về Lục Tổ thỉnh giáo chuyện
ngài Hoàng Mai, Hoàng Mai là Ngũ Tổ. [Sư Ấn Tông hỏi]:
“B́nh thường Ngũ Tổ có răn dạy người
khác về Bát Nhă và giải thoát hay không? Ngài giảng Bát Nhă
và Giải Thoát theo cách nào?” Lục Tổ trả lời vô
cùng khéo léo: “Bát Nhă và Giải Thoát
là hai pháp. Hai pháp chẳng phải là Phật pháp, Phật
pháp là pháp môn Bất Nhị”. Chẳng nói với Sư rằng
Tổ (Ngũ Tổ) đă giảng Bát Nhă là ǵ, Giải Thoát
là ǵ, một câu nói ấy liền chặn lấp sạch [mọi
tri kiến, đối đăi]. Có nghĩa là quư vị vẫn
c̣n ở trong Phật pháp mà chấp trước và so đo
những danh tướng ấy, sai mất rồi, phải
ĺa tướng ngôn thuyết, ĺa tướng danh tự, ĺa
tướng tâm duyên! Tâm duyên là ǵ? Khởi tâm động niệm
nơi danh tướng của Phật; đó là tướng
“tâm duyên”. Quư vị thảy đều ĺa khỏi những
thứ ấy, tâm thanh tịnh hiện tiền, đó là Phật
pháp. Phật pháp là tâm thanh tịnh; trong Phật pháp, thứ
ǵ cũng đều chẳng có, đó là Phật pháp.
Nhưng
chư vị phải nghe cho rơ ràng! Nếu quư vị nghe nói
“Phật pháp thứ ǵ cũng đều chẳng có”, [bèn tâm
niệm]: “Được lắm! Ư niệm ǵ cũng đều
đoạn sạch”, bèn biến thành Vô Tưởng Định.
Quư vị tu thành tựu, nhưng cũng chẳng thành Phật,
mà sanh làm chư thiên trong Tứ Thiền Thiên hoặc Vô
Tưởng Thiên; khi thọ mạng đă hết, vẫn phải
đọa trong tam ác đạo. V́ sao Vô Tưởng
cũng chẳng phải là Phật pháp?
Tiếp
theo là “Pháp Thân giả, sư quỹ
Pháp Tánh, hoàn dĩ Pháp Tánh vi thân” (Pháp Thân là tuân thủ,
vâng theo Pháp Tánh, lại c̣n lấy Pháp Tánh làm thân). Câu này nói hết
sức hay. Pháp Thân là ǵ? Pháp Thân là Pháp Tánh, Pháp Tánh là Lư Thể,
tức là nguyên lư có thể biến ra vạn pháp. Hiện thời,
các nhà khoa học, triết học đều đang thăm
ḍ vũ trụ từ đâu mà có? Sinh vật do đâu mà có?
Con người do đâu mà có? Những câu hỏi ấy chẳng
sai, có câu trả lời hay không? Thưa cùng chư vị,
vĩnh viễn chẳng có câu trả lời! Từ xưa
đến nay, các nhà khoa học, triết gia, kể cả
các nhà tôn giáo xưa, nay, trong, ngoài nước măi cho đến
hiện thời đều chẳng t́m được câu
trả lời. Câu trả lời rất nhiều, học
thuyết cũng lắm, nhưng đều chẳng thể
khiến cho kẻ khác tâm phục khẩu phục. Câu trả
lời thật sự nằm trong Đại Thừa Phật
pháp, tức là Pháp Tánh. V́ sao họ chẳng t́m thấy câu trả
lời? Họ dùng đầu óc để suy nghĩ, khảo
cứu. Suy nghĩ, khảo cứu là rớt vào tâm ư thức,
là suy tưởng loạn xạ; vọng tưởng th́
làm sao có thể t́m được câu trả lời? Chẳng
thể nào! Khi nào câu trả lời sẽ hiện tiền?
Đoạn hết vọng tưởng, câu trả lời bèn
liền hiện tiền, thảy đều hiểu rơ. V́
thế, Phật pháp sử dụng phương pháp khiến
cho quư vị đoạn hết suy xét.
Nhưng căn
tánh của người thế gian không giống nhau, có
người chẳng thích suy xét, sợ suy nghĩ sẽ
đau đầu nhức óc. Đối với loại
chúng sanh này, đức Phật dạy họ tu Thiền. Thiền
chẳng dùng suy xét. Có người chuộng suy xét, thích suy xét
th́ đức Phật dạy họ học Duy Thức. Duy Thức
dạy họ suy xét hằng ngày, đó lại là một
phương pháp. Lư luận Duy Thức gọi điều
đó là “tư tận hoàn
nguyên” (suy nghĩ đến tột cùng sẽ trở về
nguồn), họ sẽ quay đầu. Quay đầu bèn thấy
chân tánh. V́ thế, chẳng suy tưởng có thể kiến
tánh, mà khi suy tưởng đến tột cùng bèn quay đầu
th́ cũng có thể kiến tánh. Phương pháp của
đức Phật rất xảo diệu, rất nhiều.
Phương pháp Niệm Phật này cũng chẳng cần
suy tưởng, cũng là chẳng dùng đến sự suy
xét, có nguyên lư giống như Thiền và Mật, chỉ là
phương pháp và cách thức khác nhau. Thiền nhất
định là chẳng thể có thứ ǵ, c̣n Tịnh có A
Di Đà Phật. V́ thế, Tịnh thuận tiện và dễ
dàng hơn Thiền.
Ở đây nói “sư quỹ Pháp Tánh” (師軌法性), câu nói ấy có
nghĩa là ǵ? Trong chú giải có giải thích, nơi trang
năm mươi ba, trong câu cuối cùng thuộc ḍng thứ
ba: “Ngôn sư quỹ Pháp Tánh” (nói
“sư quỹ Pháp Tánh”), “sư
quỹ Pháp Tánh” là ǵ? “Thị
xả Thông tùng Biệt. Thông tắc sanh Phật câu quỹ Pháp
Tánh. Nhiên cửu giới tuy quỹ nhi vi, như nhân y sư,
bất thuận sư giáo. Duy hữu chư Phật, tùng Sơ
Phát Tâm quỹ pháp nhi tu, kim năng cứu cánh minh hợp Pháp
Tánh” (Là bỏ Thông theo Biệt. Thông th́ chúng sanh và Phật
đều noi theo Pháp Tánh; nhưng chín pháp giới tuy noi
theo, vẫn trái nghịch, giống như người
nương tựa thầy, nhưng chẳng tuân theo lời
thầy dạy. Chỉ có chư Phật kể từ Sơ
Phát Tâm đều tuân theo pháp để tu, nên nay có thể rốt ráo ngầm phù hợp Pháp
Tánh). Pháp Tánh là có thể hiện, có thể biến (năng
hiện, năng biến). Trong kinh Đại Thừa, đức
Phật đă giảng nguồn gốc của vạn pháp
trong vũ trụ: “Duy tâm sở
hiện”, “tâm” ở đây là chân tâm; “duy thức sở biến”, “thức” là vọng
tâm. Cảnh giới được hiện bởi chân tâm là
cảnh giới b́nh đẳng, tức Nhất Chân pháp giới.
V́ sao Nhất Chân pháp giới biến thành mười pháp giới?
Do thức biến. Tuy thức biến Nhất Chân pháp giới
thành mười pháp giới, chư vị phải biết:
Chẳng phải là thật sự bị biến, cái thật
sự biến bèn trái nghịch bản tánh, tức là biến
thành hư vọng, chẳng phải là chân thật. Tuy hư
vọng, tức là nói “cảm nhận sai lầm”, nhưng sự
cảm nhận sai lầm ấy trọn chẳng biến
đổi sự thật, chỉ là sự thọ dụng
khác hẳn. Ví như kinh đă nói “chưng sa tác phạn” (nấu cát làm cơm): Để
nấu cơm, chúng ta dùng gạo, nhưng kẻ đó hiểu
lầm, ngỡ cát có thể nấu thành cơm, đó là nhận
biết sai lầm. Cát vẫn là cát, gạo vẫn là gạo,
tuyệt đối chẳng phải v́ quư vị nhận biết
sai lầm mà cát biến thành gạo, chẳng có đạo
lư ấy! Đây là nói rơ Nhất Chân pháp giới vĩnh viễn
là Nhất Chân pháp giới, quư vị mong biến nó thành mười
pháp giới, [điều ấy] trọn chẳng phải
là sự thật. Sự thật, nó vẫn là Nhất Chân
pháp giới; nhưng quư vị suy nghĩ sai lầm, nên thọ
dụng cũng sai lầm, sự hưởng thụ
cũng sai lầm, trong ấy có khổ và lạc khác biệt.
Mười pháp giới có khổ và lạc khác biệt. Trong
Nhất Chân pháp giới, chẳng có khổ mà cũng chẳng
có lạc, nên gọi là “lạc chân chánh”. Khổ là khổ,
lạc vẫn là khổ, lạc trọn chẳng phải
là lạc thật sự, tuy là lạc mà vẫn là khổ.
V́ lẽ
đó, mười pháp giới thảy đều “sư quỹ Pháp Tánh” (vâng
theo, tuân thủ Pháp Tánh), đều từ Chân Như bản
tánh biến hiện. “Quỹ”
là ǵ? Quỹ (軌) là có quy tắc,
chẳng rối loạn. Người thế gian thấy
vũ trụ có trật tự, có quy tắc như vậy,
giống như các tinh cầu vận hành trong vũ trụ
đều có một quỹ đạo nhất định.
Người thế gian chẳng hiểu đạo lư ấy,
bèn nghĩ: Nhất định phải có người an
bài, có ai đó lập hoạch định, trù tính! Người
sắp đặt, trù tính là ai? Đại khái là Thượng
Đế! Thượng Đế do đâu mà có? Là kẻ
được biến hiện từ tưởng tượng;
do như vậy mà có. Có phải là do Thượng Đế
trù tính hay không? Tuyệt đối chẳng phải vậy,
đó là nhận thức sai lầm, là hiểu lầm! V́ nó
có tŕnh tự nhất định, tuân theo tŕnh tự chẳng
sai chút nào, có thứ lớp, chẳng lộn xộn, nên gọi
là Quỹ. “Quỹ” là quỹ
đạo, chẳng rối loạn, do Pháp Tánh biến hiện.
Chúng sanh trong chín pháp giới tuy “sư
quỹ Pháp Tánh”, nhưng mê muội, nên nay chúng ta chẳng
noi theo họ, mà noi theo Phật, Bồ Tát. Phật, Bồ
Tát “sư quỹ Pháp Tánh”, đă
ngộ, chẳng mê, nên Tha Thọ Dụng của các Ngài hoàn
toàn khác hẳn phàm phu. Chúng ta tạm ngưng, nghỉ
ngơi mấy phút.
Tập
10
Chúng ta xem trang năm mươi ba.
Trong đoạn trên đây,
tự thể của hết thảy các pháp thế gian và
xuất thế gian là Pháp Tánh. Hết thảy các pháp
quyết định chẳng thể ĺa khỏi tự
thể, hễ ĺa khỏi tự thể, sẽ chẳng
thể tồn tại. Vấn đề hiện tại là
một đằng thuận tánh, một đằng
nghịch tánh, nghĩa là: Thuận tánh là giác, nghịch tánh
là mê, then chốt ở ngay chỗ này! Rốt cuộc
thuận là ǵ? Nghịch là ǵ? Cũng có thể nói: Giác là ǵ?
Mê là ǵ? Kinh luận thường dạy một nguyên
tắc, chỉ cần quư vị nắm được
nguyên tắc, vấn đề này sẽ trọn chẳng
khó hiểu, mà cũng chẳng khó tu. Đức Phật
thường dạy chúng ta: “Giác
tâm bất động”. Nói cách khác, trong hết thảy
cảnh giới, bất luận là hoàn cảnh nhân sự
hay hoàn cảnh vật chất, chỉ cần chúng ta chẳng
động tâm bởi cảnh giới th́ sẽ thuận
tánh. V́ tánh là bất động, chúng ta có thể chẳng động
tâm th́ sẽ tương ứng với tánh. Pháp Tánh và
Phật Tánh là một tánh. Một tánh, chẳng phải là
hai tánh! Cái gọi là “chẳng
tuân thủ tự tánh” chính là quư vị khởi tâm
động niệm trong cảnh giới, khởi tâm
động niệm là trái nghịch tánh. Trái nghịch tánh, nhưng
vẫn chẳng ĺa khỏi tánh, nên có khổ nạn. V́
lẽ đó, hết thảy khổ nạn do đâu mà có? Do
chính ḿnh chuốc lấy!
Con người chúng ta
thường nói là rất khổ, rất đau khổ, nhưng
đều chẳng chịu quay lại suy nghĩ. Nếu
thật sự quay đầu, nỗi khổ ấy ở
chỗ nào? Quư vị hăy t́m xem, khổ ở chỗ nào? Quư
vị thật sự quay đầu lại t́m, chẳng t́m
thấy! T́m không thấy, có thể thấy nó là giả,
chẳng thật! Hễ là thật, nhất định là
phải ở một nơi nào đó. Quư vị giải
phẫu từng tế bào trong toàn thân, cũng chẳng t́m
thấy khổ trong đó. Khổ và lạc đều là
giả, đều là chẳng thật, cớ ǵ phải so
đo nó? Cớ ǵ phải khắt khe? Vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước trái nghịch Pháp Tánh, nên
là phàm phu. Trong hết thảy cảnh giới, chư
Phật, Bồ Tát tuyệt đối chẳng khởi tâm,
chẳng động niệm, nên vĩnh viễn là thanh
tịnh vô nhiễm, giống như hư không. Trong hư
không, hiện ra hết thảy vạn pháp, nhưng hư
không trước nay chưa hề dính mắc! Bản tánh,
hoặc là Pháp Tánh như đang nói ở đây, có thể
hiện hết thảy vạn pháp thế gian và xuất thế
gian, nhưng hết thảy vạn pháp trọn chẳng
hoen ố bản tánh, bản tánh vẫn là một mực thanh
tịnh. Không chỉ chẳng bị hoen ố, mà c̣n
chẳng bị trở ngại, đúng như kinh Hoa Nghiêm đă nói “Lư Sự vô ngại, Sự Sự
vô ngại”, xác thực là chẳng bị trở ngại.
Hết thảy ô nhiễm và trở ngại đều do
quan niệm sai lầm tạo thành, đều do cảm nhận
sai lầm tạo thành, trái nghịch Pháp Tánh. Kinh này nói là “cửu giới tuy quỹ nhi vi”
(chín pháp giới tuy nương theo nhưng trái nghịch
[Pháp Tánh]). Không chỉ là lục đạo phàm phu, ngay cả
Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát cũng trái nghịch. Các
Ngài trái nghịch ít v́ mê cạn. Do trái nghịch ít, nên chúng
ta thoạt nh́n, sẽ thấy dường như các Ngài rất
tự tại. Chư Phật Như Lai hoàn toàn chẳng trái
nghịch, nên đắc đại tự tại.
Tiếp
theo đó là nêu tỷ dụ, tỷ dụ ấy cũng rất
hay. “Như nhân y sư” (như
người nương tựa thầy), giống như học
tṛ theo học với thầy. Sánh ví thầy như Pháp Tánh,
học tṛ ví như chúng sanh. Nương tựa thầy, nếu
có thể thuận theo sự răn dạy của thầy,
đó là tùy thuận Pháp Tánh, giống như trong phần
trước đă nói là “sư
quỹ Pháp Tánh”. Nếu tuy theo thầy, mà chẳng nghe
theo sự răn dạy của thầy, “theo thầy” là quư vị chẳng rời Pháp Tánh;
tuy chẳng rời khỏi Pháp Tánh, nhưng quư vị trái
nghịch Pháp Tánh. Hai người cùng theo thầy, một
người nghe lời thầy, một người chẳng
nghe lời thầy, hai người ấy đều gọi
là học tṛ của thầy. Đây là nói rơ chúng sanh trong chín
pháp giới thế gian và xuất thế gian, kể cả
Phật pháp giới th́ là mười pháp giới, tứ
thánh lục phàm đều noi theo Pháp Tánh, nhưng có kẻ
nương theo và tuân thuận, có kẻ chẳng tuân thuận.
Nói nghiêm ngặt, chín pháp giới đều chẳng tuân thuận,
thật sự tuân thuận chỉ là Phật [pháp giới].
Nếu nới lỏng tiêu chuẩn một chút để
nói th́ lục phàm hoàn toàn trái nghịch, tứ thánh thuận
theo Pháp Tánh. Chúng ta biết ư nghĩa trái nghịch và tuân thuận
là như vậy.
Tiếp
đó là nói: “Tùng Sơ Phát Tâm,
quỹ pháp nhi tu” (từ Sơ Phát Tâm đă vâng theo pháp
để tu), đó là nói “duy hữu
chư Phật” (chỉ có chư Phật), “kim năng cứu cánh minh hợp
Pháp Tánh” (nay có thể rốt ráo ngầm phù hợp Pháp
Tánh). “Chỉ có chư Phật”
th́ Phật mà vẫn c̣n phải tu hành ư? Phải tu hành!
Phật được nói ở đây chẳng phải là
Cứu Cánh Phật, mà là Phần Chứng Phật. Từ
Sơ Trụ trong Viên Giáo trở lên đều gọi là “chư Phật”. Nếu quư vị
đọc bộ Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa của cư
sĩ Giang Vị Nông, [sẽ thấy] ông ta giải thích chữ
“chư Phật” là từ
Sơ Trụ của Viên Giáo cho đến quả vị
viên măn rốt ráo, gồm bốn mươi hai địa vị.
Bốn mươi mốt địa vị là từ [Sơ
Trụ] Bồ Tát cho đến Đẳng Giác, địa
vị bốn mươi hai là Phật. Bốn mươi
hai địa vị ấy đều là Phật, cho nên gọi
là “chư Phật”. “
Sơ
Trụ có tên là Phát Tâm Trụ, thật sự phát tâm tu hành là
địa vị Sơ Trụ, tức Sơ Trụ trong
Viên Giáo. Chúng ta đều chưa phát tâm [Bồ Đề],
nhưng đă phát tâm ǵ? Phát tâm tham, sân, si, mạn, phải
biết điều này! Nhưng chúng ta đang thuộc
địa vị phàm phu, thật sự là đáng
thương! Nếu phàm phu thật sự phát tâm cầu
sanh Tịnh Độ, vừa phát tâm, tuy công đức chẳng
bằng Sơ Trụ Bồ Tát, thần thông và đạo lực
cũng thua kém Sơ Trụ Bồ Tát, nhưng thưa cùng
chư vị, xét theo trí huệ và nhân quả, tuyệt đối
chẳng thua Sơ Trụ Bồ Tát! Sơ Trụ Bồ Tát
cũng là Tín, Nguyện, Hạnh văng sanh Tây Phương Tịnh
Độ, chúng ta cũng là Tín, Nguyện, Hạnh văng sanh
Tây Phương Tịnh Độ, nên nói theo cơ duyên, nhân
quả, sẽ chẳng hai, chẳng khác với hàng đại
Bồ Tát! Nhưng mọi người phải hiểu rơ,
trong vô lượng pháp môn, chỉ có một môn này đặc
biệt, những môn khác chẳng được! Xét theo các
môn khác, thứ ǵ cũng đều chẳng bằng, chẳng
thể so sánh! Tu Tịnh Độ, phát tâm cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới là đặc biệt,
chẳng thể sánh cùng những pháp thông thường để
bàn luận được!
Phải
thật sự phát tâm, quyết định văng sanh! Có thể
sanh về thế giới Tây Phương [hay không], tùy thuộc
cái tâm của quư vị có kiên cố hay không! Quư vị nói “tôi
đă phát tâm, tôi rất mong văng sanh”, nhưng có thể văng
sanh hay không, vẫn chưa nắm chắc. Tôi đă gặp
rất nhiều người đến hỏi tôi, họ
nói: “Thưa pháp sư! Tôi có thể văng sanh Tịnh Độ
hay không?” Tôi liền bảo người ấy: “Không thể!
Chắc chắn là quư vị không thể!” Người ấy
hỏi v́ sao? Quư vị chẳng có tín tâm, vẫn c̣n hoài nghi,
đánh dấu hỏi, làm sao có thể văng sanh cho được?
Nếu quư vị đến hỏi tôi: “Tôi quyết định
phải văng sanh, tôi chẳng văng sanh sẽ không được,
nhất định phải văng sanh”, đến hỏi tôi
[như thế], tôi nói quư vị nhất định sẽ
văng sanh, v́ sao? Tâm quư vị rất kiên quyết, lẽ
đâu chẳng văng sanh? V́ thế, chớ nên hoài nghi chuyện
này, hễ hoài nghi th́ chính ḿnh bị thiệt tḥi to lớn. Quyền
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới do
chính ḿnh nắm giữ, chẳng do người khác thao túng.
Hiểu giáo nghĩa hay không là chuyện thứ yếu, vấn
đề là quư vị có tín tâm kiên định hay không? Then chốt
ở chỗ này! Ngẫu Ích đại sư nói rất hay,
có thể văng sanh hay không là do có tín nguyện hay không quyết
định! Sanh về thế giới Tây Phương, phẩm
vị văng sanh cao hay thấp được quyết định
bởi công phu sâu hay cạn. Công phu là ǵ? Phục đoạn[2]
phiền năo là công phu. Ngài chẳng nói niệm Phật nhiều
hay ít! Niệm Phật nhiều hay ít chẳng liên quan ǵ hết!
Mỗi ngày niệm một câu A Di Đà Phật và mỗi
ngày niệm mười vạn tiếng A Di Đà Phật
chẳng phải là chuyện khẩn yếu, không sao cả!
Người ta niệm một tiếng A Di Đà Phật
bèn hàng phục phiền năo, quư vị niệm mười vạn
câu A Di Đà Phật nhưng chẳng thể hàng phục
phiền năo th́ mười vạn câu chẳng bằng
người ta niệm một tiếng! Do đó, có thể chế
phục phiền năo hay không, có thể đoạn sạch phiền
năo hay không, đó là công phu. Chế phục phiền năo là
công phu nông cạn, đoạn trừ phiền năo là công phu
sâu xa. Chế phục phiền năo là công phu thành phiến,
đoạn trừ phiền năo là nhất tâm bất loạn.
Điều này quyết định phẩm vị văng sanh Tây Phương thế giới,
chớ nên không biết chuyện này.
Thật
thà niệm Phật là thuận theo Pháp Tánh, chẳng thật
thà niệm Phật là trái nghịch Pháp Tánh. Quư vị thấy
đối với người niệm Phật chúng ta mà
nói, rất nhiều giáo nghĩa rất sâu, rất khó lư giải,
nhưng giảng theo Tịnh Độ th́ rất dễ
dàng, chẳng khó hiểu. Ngay như kinh Kim Cang là một bộ
kinh điển rất sâu, tôn giả Tu
Bồ Đề hướng về Thích Ca Mâu Ni Phật thưa
hỏi hai vấn đề, một là “nên trụ như thế nào?” và điều kia là “nên hàng phục cái tâm như thế
nào?”, hai vấn đề to lớn ấy. Vấn đề
lớn thứ nhất là tâm phải an trụ nơi
đâu? Ngài Tu Bồ Đề hướng về đức
Thế Tôn nêu ra câu hỏi ấy. Ở Trung Quốc, Huệ
Khả đại sư cũng hỏi Đạt Ma tổ
sư câu sau đây: “Tâm con bất
an, phải an cái tâm bằng cách nào? Phải an trụ nơi
đâu?” Gần như rất giống với câu hỏi
của ngài Tu Bồ Đề. Hàng phục cái tâm như thế
nào? Tâm ấy là vọng niệm; vọng niệm rất nhiều,
dùng phương pháp ǵ để hàng phục? Một bộ
kinh Kim Cang là lời giải đáp của Thích Ca Mâu Ni Phật
cho ngài Tu Bồ Đề về hai vấn đề ấy.
Người
Hoa niệm kinh Kim Cang rất đông, người học Phật
đều từng niệm kinh Kim Cang. Sau khi đă niệm,
quư vị có biết an trụ cái tâm ở đâu hay không? Quư
vị có biết hàng phục vọng niệm như thế
nào hay chăng? Đức Phật nói nhiều ngần ấy,
chúng ta vẫn không hiểu, vẫn chẳng thể thọ
dụng. Nếu là người tu Tịnh Độ th́ dễ
thực hiện lắm, hăy nên trụ như thế nào ư?
[Trụ nơi] A Di Đà Phật, trụ nơi A Di Đà
Phật là được rồi. Hàng phục cái tâm như
thế nào ư? [Trụ tâm nơi] A Di Đà Phật, tâm liền
bị hàng phục. Hễ vọng niệm dấy lên, ngay lập
tức [niệm] A Di Đà Phật để xóa bỏ vọng
niệm. Cần ǵ phải phiền phức dường ấy?
Một câu A Di Đà Phật thảy đều giải quyết,
quư vị mới biết câu A Di Đà Phật chẳng thể
nghĩ bàn, vấn đề là quư vị có biết sử dụng
hay không? Nếu quư vị biết dùng, sẽ cao minh hơn
phương pháp trong kinh Kim Cang rất nhiều. Nói thật
thà, phương pháp trong kinh Kim Cang chỉ có hàng Đại
Bồ Tát kiến tánh mới dùng được, mới hữu
hiệu. Đối với cùng một vấn đề,
chúng ta dùng [danh hiệu] A Di Đà Phật cũng có hiệu
quả giống hệt. Chúng sanh Ngũ Nghịch Thập Ác
dùng phương pháp này đều có hiệu quả, đều
có thể đạt tới cùng một mục tiêu giống
như hàng Pháp Thân đại sĩ, thu được hiệu
quả giống hệt. Do vậy mới biết pháp môn này
thù thắng.
Tiếp
đó, dẫn kinh Đại Thừa để giải thích
Pháp Thân. “Đại kinh vân, dĩ
pháp thường cố, chư Phật diệc thường.
Thuận Pháp Tánh cố, danh pháp vi sư. Thật phi sở
sư dữ năng thể biệt, cố tức sở
sư pháp, nhi vi kỳ thân. Tuy danh vi thân, dĩ xuất
Ngũ Ấm, cố phi sắc chất tâm trí” (Kinh Đại
Thừa nói: “Do pháp là thường, nên chư Phật
cũng là thường”. Do thuận theo Pháp Tánh, nên gọi
pháp là thầy. Thật ra, chẳng phải là Thể của
cái được tôn làm thầy và Thể của chủ thể
[thực hiện hành động tôn đối tượng
ấy làm thầy] có khác biệt. V́ lẽ đó, lấy
pháp được tôn làm thầy để làm thân. Tuy gọi
là thân, [thân ấy] đă thoát khỏi Ngũ Ấm, nên chẳng
phải là sắc chất hay tâm trí”). Đoạn này giải
thích rất hay. Phải biết: Pháp Thân là Lư Thể, Sự
nhất định nương theo Lư mà có, cũng có
nghĩa là hiện tượng chính là cái được biến
hiện. Pháp Thân là cái Thể có thể biến [ra các hiện
tượng]. Tất cả muôn pháp do đâu mà có? Nhất
định là có nguồn gốc, trong Phật pháp gọi
nguồn gốc ấy là Pháp Thân. Pháp Thân chẳng phải
là vật chất, chẳng phải là sắc chất, mà
cũng chẳng phải là tâm trí, nay chúng ta gọi “tâm trí”
là “tri thức”. Pháp Thân chẳng phải là tri thức, mà
cũng chẳng phải là vật chất, nhưng tâm pháp
và sắc pháp thảy đều do nó biến hiện,
nhưng chính nó th́ thứ ǵ cũng chẳng phải! Do
đó, nh́n từ phương diện vật chất, chẳng
t́m thấy nó, nh́n từ tâm trí cũng chẳng t́m thấy
nó! Các khoa học gia và triết học gia hiện thời vận
dụng hết sạch tâm trí cũng t́m chẳng được
nó, v́ nó chẳng phải là tâm trí. Ắt phải bỏ sạch
cả hai thứ ấy (vật chất và tâm trí) th́ sẽ
t́m được nó, nó bèn hiện tiền. Ở chỗ
nào? Chẳng có một pháp nào không phải là nó, pháp nào
cũng đều là nó, pháp nào cũng đều như, chẳng
có một pháp nào chẳng phải [là nó], chẳng có một
pháp nào chẳng như! Sắc lẫn tâm ắt đều
phải ĺa khỏi. Có như vậy th́ mới có thể thấy
cái bản thể năng biến trong sắc và tâm. Ngài sử
dụng văn tự chẳng nhiều, nhưng nói khá
tường tận.
Pháp Thân được
giới thiệu tới đây [mà thôi]. Tiếp đó, chúng
ta lại xem Báo Thân trong ḍng in theo lối “đảnh cách”
trong trang năm mươi tư. Pháp Thân là Lư. Nó vốn sẵn
tồn tại, bất sanh, bất diệt: “Báo Thân giả, tu hành sở cảm” (Báo Thân là do tu
hành mà cảm được). Báo Thân và Ứng Hóa Thân là tướng,
tướng là sở biến (cái được biến). Pháp
Thân là Lư, nó có thể biến (năng biến). Do có thể
biến, nên nó chẳng có thân, mà cũng chẳng có thọ mạng,
cũng chẳng có số lượng, thảy đều
chẳng thể nói được; nhưng Báo Thân và Ứng
Thân có thân, có thọ mạng, mà cũng có số lượng,
v́ chúng là cái được biến. “Pháp Hoa vân, cửu tu nghiệp sở đắc. Niết
Bàn vân: - Đại Bát Niết Bàn, tu đạo đắc
cố” (Kinh Pháp Hoa nói: “[Báo Thân] do tu nghiệp đă lâu mà
đạt được”. Kinh Niết Bàn nói: “Đại
Bát Niết Bàn là do tu đạo mà đạt được”).
Pháp Thân là ǵ? Pháp Thân là trí huệ, nên gọi là Trí Thân. “Như Như Trí chiếu như
như cảnh, Bồ Đề trí huệ, dữ Pháp Tánh tương
ứng, tương minh. Tương ứng, như hàm cái
tương ứng. Tương minh giả, như thủy
nhũ tương minh” (Trí như như chiếu cảnh
như như, trí huệ Bồ Đề tương ứng
và ngầm hợp Pháp Tánh. Tương ứng là như
rương và nắp rương khớp nhau. Ngầm hợp
là như nước và sữa ngầm ḥa hợp); đó là Báo
Thân. Kinh giảng Báo Thân có hai loại: Một loại là Tự
Thọ Dụng Báo Thân, loại kia là Tha Thọ Dụng Báo
Thân. Tự Thọ Dụng Báo Thân có khởi đầu, chẳng
có kết thúc; cũng có thể nói là “có sanh, chẳng có diệt”,
cũng là ư nghĩa bất sanh, bất diệt. Sau khi đă
hiện ra, vĩnh viễn chẳng bị diệt. Tha Thọ
Dụng Báo Thân có sanh, có diệt, v́ sao? Nhằm hiện ra cho
người khác. Kinh thường nói như thế này: Đáng
nên dùng thân Phật để đắc độ, bèn thị
hiện thân Phật. Trong các thân Phật, nên lấy Báo Thân để
độ, bèn hiện Báo Thân; nên dùng Ứng Thân để
độ, liền hiện Ứng Thân. V́ vậy, Tha Thọ
Dụng Thân có thân, có thọ mạng, có hạn lượng,
c̣n Tự Thọ Dụng Thân th́ chẳng có thọ lượng.
Đây
là nói đến Trí. Như Như Trí là
chân trí. Trong Phật pháp nói Như (如, Tathā) th́
Như là ǵ? “Như” là chân tướng sự thật
đúng như vậy, chẳng phải do tạo tác, nên gọi
là Như. Nếu là tạo tác, sẽ chẳng được
gọi là Như. V́ vậy, Như là một thứ tự
nhiên, vốn sẵn là như vậy. Kinh điển nhà Phật
vừa mở đầu liền nói: “Như thị ngă văn”. “Như thị”: Đức Phật muốn
nói với chúng ta, Ngài nói với chúng ta điều ǵ? Trạng
huống vốn sẵn có của vũ trụ và nhân sinh, tuyệt
đối chẳng phải là tạo tác, mà cũng chẳng
phải là do Ngài tưởng tượng. Trạng huống
ấy được gọi là Như. Thích Ca Mâu Ni Phật
suốt đời giảng cho chúng ta những ǵ? Giảng
những điều như thế đó! Nếu quư vị
hiểu hai chữ Như Thị, sẽ chẳng cần phải
đọc kinh Phật, v́ đă hiểu toàn bộ, nhất
định là đă hoàn toàn thông đạt pháp thế gian
và xuất thế gian. V́ vậy, hết thảy các kinh
được mở đầu bằng hai chữ này, nhằm
nêu rơ tiêu chuẩn của lời Phật dạy ở ngay
chỗ đó, tuyệt đối chẳng nói lung tung một
câu nào!
Như
Như Trí là trí huệ như thế, chiếu cảnh giới
như thế. Trí là Năng Chiếu, cảnh là Sở Chiếu.
Trước kia, tiên sinh Âu Dương Cánh Vô đă nói: “Phật pháp chẳng phải là
tôn giáo, mà cũng chẳng phải là triết học”. “Chẳng
phải là tôn giáo” th́ dễ hiểu, v́ sao “chẳng phải
là triết học?” Trong triết học, có Năng và Sở
(chủ thể và khách thể, chủ quan và khách quan v.v…). Trong
Phật pháp, cũng nói có Năng và Sở, Trí là Năng Chiếu,
cảnh là Sở Chiếu. Có Năng và Sở, nhưng
Năng và Sở được nói trong Phật môn khác với
Năng và Sở trong triết học. Năng và Sở trong
triết học là đối lập, c̣n Năng và Sở của
Phật pháp là một, chẳng phải là đối lập;
nên nó chẳng phải là triết học. Trong triết học
chẳng nói Năng và Sở là một, c̣n Năng và Sở
trong Phật pháp là một. Kế đó, sách nói “Bồ Đề trí huệ”
chính là Như Như Trí, là trí huệ vốn sẵn có trong bản
tánh, chẳng phải do tu được, mà là vốn có, tương
ứng với Pháp Tánh, tương ứng với cảnh
giới được biến hiện bởi Pháp Tánh. Như Như Trí là một phần của
Pháp Tánh, cảnh giới Như Như cũng là một phần
của Pháp Tánh, Thể của chúng là một. Thể
đă là một, nên Sự có thể dung thông. V́ vậy, nó có
thể tương ứng và ngầm hợp cùng Pháp Tánh, v́ chúng
là một Thể. Tiếp đó, sách nêu tỷ dụ, tương
ứng là ǵ? Như cái rương và nắp rương
tương ứng. Giống như ở đây có chén trà,
chén trà có nắp đậy, đúng là cái nắp ấy
đậy vừa khít. “Rương và nắp rương”
có ư nghĩa như vậy. Thế nào là “ngầm hợp”? Chúng
ta nói nước và sữa ḥa lẫn vào nhau. Chúng ta ḥa lẫn
sữa vào nước, nước và sữa hợp thành một
thể, chẳng thể phân ra giới hạn. Năng và Sở
là một, chẳng hai; đó là điều khác biệt giữa
Phật pháp và học thuật hay triết học. Do đó,
chư vị phải hiểu: Tận hư không khắp
pháp giới là một Thể.
Cuối
đoạn chú giải này là: “Cảnh
ngoại vô trí, trí ngoại vô cảnh” (ngoài cảnh chẳng
có trí, ngoài trí chẳng có cảnh). Chúng ta nói “mắt thấy”
th́ mắt có năng lực to cỡ nào? Chỗ quư vị có
thể thấy được đều là [năng lực]
của tánh Thấy. Nếu chẳng có tánh Thấy, làm sao
quư vị có thể thấy được? Tánh Thấy to cỡ
nào? Tận hư không, khắp pháp giới! Tánh Thấy là
như vậy, mà tánh Nghe, tánh Cảm Nhận, tánh Nếm,
không ǵ chẳng phải là như vậy. V́ thế, người
trong thế giới Tây Phương “Thiên Nhăn đỗng thị, Thiên Nhĩ triệt
thính, Tha Tâm biến tri” (Thiên Nhăn thấy thấu suốt,
Thiên Nhĩ nghe thông suốt, Tha Tâm biết trọn khắp),
chẳng có chút ǵ hiếm hoi, lạ lùng! Đó là trí và cảnh
tương ứng, ngầm hợp, năng lực hoàn toàn
khôi phục. Nay chúng ta nh́n th́ cách tường bèn chẳng thấy,
v́ sao chẳng thấy? Do v́ quư vị có phân biệt, chấp
trước: “Ở đây có vách tường,
đương nhiên chúng ta chẳng thấy”, cho nên quư vị
chẳng thấy. Nếu ngày nào đoạn sạch ư niệm
ấy, “vách tường ấy chẳng ngại Sự, Lư Sự
vô ngại, Sự Sự vô ngại”, t́nh h́nh bên kia tường
ra sao, quư vị đều trông thấy. V́ thế, chướng
ngại ấy là chướng ngại trong tâm lư, chẳng
phải là chướng ngại nơi h́nh tướng của
sự vật. Tất cả hết thảy chướng
ngại thảy đều ở trong tâm. “Tâm sanh tắc chủng chủng pháp sanh, tâm diệt tắc
chủng chủng pháp diệt” (tâm sanh ắt các pháp sanh,
tâm diệt ắt các pháp diệt). “Các thứ pháp diệt”
chẳng phải là pháp chẳng c̣n nữa, mà là chẳng có
chướng ngại, bèn nhập cảnh giới Hoa Nghiêm,
Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, mới biết
hết thảy chướng ngại sanh từ vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước của chúng
ta, đều chẳng phải là sự thật. Tuy chẳng
phải là sự thật, nhưng nó khởi tác dụng,
đem lại cho chúng ta rất nhiều đau khổ.
Trước
kia, thầy Lư giảng kinh đến chỗ này, thầy dạy
chúng tôi làm thí nghiệm. Để thí nghiệm th́ thí nghiệm
trên sự tướng rất khó, thầy bèn nói: Nếu các
anh nằm mộng, thầy tạo một ấn tượng
cho chúng tôi. Trong khi nằm mộng, có khi tự ḿnh biết
là đang nằm mộng; trong khi quư vị biết chính ḿnh
đang nằm mộng, quư vị nói cảnh giới trong mộng
đều là giả, ta nhất định đi xuyên qua
vách tường kia th́ nhất định sẽ đi xuyên
qua được, chẳng gặp chướng ngại.
Có một lần, một bạn học của chúng tôi là
ông Châu Gia Lân, Châu Gia Lân nay đang giảng kinh Hoa Nghiêm vào mỗi
thứ Tư tại Từ Quang Đồ Thư Quán. Sau khi
thầy Lư văng sanh, ông Châu thay thầy giảng kinh Hoa Nghiêm.
Châu Gia Lân kể với chúng tôi: Có một hôm, ông ta nằm mộng,
đă nghĩ thầy nói “mộng là giả, vách tường
cũng là giả”, ta nhất định có thể xuyên qua,
bèn thử xem. Kết quả là đi qua được, chẳng
bị chướng ngại. Châu Gia Lân đă làm thí nghiệm,
xác thực là như vậy.
Chúng
ta lại xem bộ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa của
pháp sư Viên Anh. Trong lời Tựa, Ngài có kể một
câu chuyện là chuyện của chính Ngài. Có một hôm, Ngài
tĩnh tọa trong liêu pḥng, bỗng nhớ có chuyện cần
phải làm, bèn bước khỏi chỗ ngồi đi ra
ngoài. Sau khi ra khỏi pḥng, Ngài chợt nghĩ: “Cửa pḥng
đă đóng, chưa mở, làm sao đi ra được?”
Sau khi đă trở ra, quay lại đẩy cửa th́
đă gài then bên trong. Trong một niệm ấy, Ngài chẳng
nghĩ cửa ấy đă đóng, liền đi ra
được. Niệm thứ hai, [nghĩ là] cửa
đă đóng, trở lại đẩy cửa, chẳng
vào được, phải t́m người lấy ch́a khóa mở
cửa mới có thể vào pḥng. Một niệm quên bẵng,
bèn đi qua được; do vậy, tất cả chướng
ngại đều do vọng niệm tạo thành.
Quư vị lại đọc
Hư Vân Lăo Ḥa Thượng Niên Phổ, trong đó có chép câu
chuyện, chuyện ấy là sự thật. Có một lần,
lăo ḥa thượng xuống núi, chẳng biết đi đến
nơi đâu. Ngài đi đường, tâm thanh tịnh, cũng
trụ trong Định. Trên đường, gặp mấy
người cũng là người xuất gia, cầm đèn
lồng. Trên đường, họ đụng phải lăo
ḥa thượng Hư Vân, bèn hỏi: “Thưa lăo ḥa thượng!
Trời đă tối thế này, Ngài đi đường
một ḿnh sao chẳng có đèn đuốc ǵ?” Lăo ḥa
thượng vừa nghe câu ấy, ngay lập tức trời
tối đen. Khi Ngài c̣n chưa nghe lời ấy th́ trời
sáng ngời, chẳng tối tăm. Ngài ra đi lúc ba giờ,
vĩnh viễn trụ trong ba giờ, nên bầu trời một
mực sáng ngời. Kết quả là người ta vừa
nhắc nhở “trời đă tối”, Ngài nghe nói vậy,
ngay lập tức trời đen kịt. Hết thảy
duy tâm tạo! Những vị ấy đều là người
trong hiện thời, cách chúng ta chẳng xa cho mấy,
đă chứng minh cho chúng ta: “Vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước là nhân tố
căn bản”; đó là điều đức Phật dạy
trong kinh Hoa Nghiêm, những người tu hành trong hiện
thời cũng đă chứng tỏ cho chúng ta.
Trong
đoạn tiếp theo, chúng ta xem tới Ứng Thân, xem ḍng
thứ hai đếm từ dưới lên trong trang năm
mươi lăm. Đoạn văn này là lời Sớ, chẳng
phải là Sao, ở chỗ này bị in lầm, in thấp
xuống một chữ, phải in theo lối đảnh
cách th́ mới đúng. “Ứng Thân
giả, ứng đồng vạn vật vi thân dă, ứng
đồng liên tŕ vi thọ dă, ứng đồng trường
đoản vi lượng dă” (Ứng Thân là ứng hiện
thân giống như muôn vật, ứng hiện ngay cả có
cùng thọ mạng, ứng hiện có thân lượng cao
hay thấp giống như họ), cho đến đây là lời
Sớ, chẳng phải là chú giải. Kế đó là “như cổ đáp hưởng,
đại tiểu tùy thân” (như cái trống phát ra tiếng
[khi bị gơ], tùy thuộc thân trống [lớn hay nhỏ mà
tiếng trống phát ra] to hay nhỏ), đó là lời chú giải.
Ứng Thân là do cảm ứng đạo giao cùng chúng sanh mà
hiện. Chúng sanh có cảm, Phật, Bồ Tát có ứng, nên
Ứng Thân cũng giống như Hóa Thân; nhưng Ứng và
Hóa vẫn khác nhau. Ứng Thân là ǵ? Giống như người
ấy cũng đầu thai, giống như Thích Ca Mâu Ni Phật
đến thế gian này, thị hiện hoàn toàn giống
như loài người chúng ta, sống trên thế gian này tám
mươi năm, đó là Ứng Thân. Hóa Thân là bỗng
dưng hiện tiền, sau khi làm xong chuyện bèn chẳng
c̣n nữa, đó là Hóa Thân. Như xưa kia phu nhân Châu Bang
Đạo gặp Địa Tạng Bồ Tát, đó là Hóa
Thân, bà ta gặp Ngài ở Nam Kinh. Lần này, tôi đến
Nam Kinh, có đến viếng căn nhà cũ của bà.
Căn nhà bà đă ở rất lớn, hiện thời hơn
một nửa được dùng làm nhà trẻ (ấu
trĩ viên, kindergarten), [phần đất dùng làm] nhà trẻ
ấy chẳng thể trả lại cho bà ta. Con trai lớn
của bà ta nay c̣n đang sống ở Nam Kinh, họ trả
lại cho con bà một phần ba căn nhà ấy, sân
cũng rất lớn.
Bà
ta đang ở trong nhà, bỗng dưng có một người
xuất gia đến hóa duyên, nói là từ Cửu Hoa Sơn
đến. Thuở ấy, Châu phu nhân c̣n chưa tin Phật,
chẳng cho, chẳng tặng vật phẩm hóa duyên cho vị
ấy, người xuất gia đó bèn bỏ đi. Sau khi
vị ấy đi rồi, bà mới nghĩ: Từ cửa
lớn c̣n phải qua tầng cửa thứ hai, tầng cửa
thứ ba, cả ba tầng cửa, cửa đều chẳng
mở, sao vị ấy có thể bước vào được?
Sau khi bước ra, cũng chẳng có ai mở cửa cho
vị ấy, làm sao vị ấy đi ra được?
Ngờ vực chẳng giải quyết được!
Câu hỏi ấy măi cho đến khi sang Đài Loan, gặp
thầy Lư tại Đài Trung, bà ta đem chuyện ấy kể
với thầy Lư. Thầy Lư bảo: “Địa Tạng Bồ
Tát đến hóa duyên với bà, đó chẳng phải là
phàm nhân, mà là Hóa Thân”. Bà ta mới hiểu, nên mới niệm
kinh Địa Tạng, mỗi ngày thờ phượng Địa
Tạng Bồ Tát. Bà có viết bài Ngộ Địa Tạng
Bồ Tát Kư kể câu chuyện ở Nam Kinh ấy. Đó gọi
là Hóa Thân, nói thật ra cũng là đến độ bà ta.
Tuy khi ấy chẳng độ, bà ta đến Đài Loan
mới học Phật, nhưng đó là cái nhân. Nếu chẳng
có chuyện ấy, đến Đài Loan, bà ta cũng
chưa chắc chịu học Phật. Gặp chuyện
như thế, chuyện này rất rơ ràng.[Trong cuộc gặp
gỡ ấy, bà ta cùng vị tăng đó] hỏi đáp, tṛ
chuyện, nói rất nhiều câu, tuyệt đối chẳng
phải là nằm mộng, tuyệt đối chẳng phải
là giả, nên [bà ta có] ấn tượng hết sức sâu
đậm. Nghĩ đến chuyện này mới biết Phật,
Bồ Tát trong Phật pháp là thật, chẳng phải là giả.
Bà ta vô cùng hối hận: “Khi đó, Bồ Tát chỉ hóa
duyên mấy cân dầu mè, nhưng chúng tôi chẳng biếu tặng”.
Đó
là nói về Ứng và Hóa. Ứng và Hóa sai biệt ở chỗ
này. Ứng Thân c̣n có thọ lượng, giống như ba
ngàn năm trước, Thích Ca Mâu Ni Phật đă xuất
hiện trong thế gian, đó là Ứng Thân. Ngài trụ
trong thế gian này tám mươi năm bèn nhập diệt.
Đó là thọ lượng của Ngài, thọ lượng
của Ngài là tám mươi tuổi. “Ứng đồng trường đoản” (ứng
hiện cao hay thấp giống như nhau). Theo kinh điển
ghi chép, Thích Ca Mâu Ni Phật thân cao trượng sáu, tức
là một trượng sáu thước, đó là thân thể
cao lớn; nhưng chư vị phải hiểu, chẳng
phải là tính theo thước hiện thời. Theo thước
tấc hiện thời, một trượng sáu th́ kinh khủng
quá, quá cao! Thước thuở ấy ngắn hơn thước
hiện thời rất nhiều, đại khái một
thước [thuở đó] c̣n chưa đến sáu tấc
hiện thời, dài hơn năm tấc một chút. Nh́n từ
chỗ này, chúng ta sẽ chẳng cảm thấy rất kỳ
quái, vóc dáng Phật tuy cao, vẫn chẳng phải là rất
cao. Thước thuở ấy khác với thước hiện
tại. Nói đến Ứng Thân bèn có thân tướng, thọ
mạng, vóc dáng cao thấp, những thứ ấy đều
có. Giới thiệu đơn giản cùng chư vị ba
thân đến chỗ này.
Chúng
ta lại xem đoạn văn kế tiếp, trong trang
năm mươi sáu, ḍng thứ năm từ dưới
đếm lên. “Năng vi thân, phi
thân” (có thể làm thân hoặc chẳng phải là thân), chữ
Năng phải đọc liên tiếp một mạch, tức
là “năng vi thân, năng vi phi thân”.
“Năng vi thường thọ,
vi vô thường thọ, năng vi vô lượng, năng
vi hữu lượng” (có thể có thọ mạng
thường hằng, hoặc tuổi thọ chẳng
thường hằng. Có thể là vô lượng hoặc là
có hạn lượng). Đây là nói Pháp Thân có thể tùy ư tự
tại thị hiện, nhưng “tùy ư” chẳng phải là
thuận theo ư của chính ḿnh, v́ chính nó chẳng có ư. Nếu
chính ḿnh có ư, sẽ biến thành phàm phu, hữu ư sẽ chẳng
tự tại. Tùy ư là tùy theo ư của chúng sanh. Kinh Lăng
Nghiêm nói rất hay: “Thuận
theo tâm chúng sanh mà ứng với khả năng tiếp nhận
của họ”. Đó là chánh xác. Hiện thời, chúng ta
chẳng thể tự tại biến hóa giống như Phật,
Bồ Tát là v́ chúng ta hữu ư. Hễ hữu ư sẽ chẳng
có cách nào, chẳng thể hiện. Khi nào đạt đến
vô ư, bèn có thể tùy thuận chúng sanh, chứ hữu ư th́ chẳng
có cách nào!
Pháp
Thân đại sĩ chẳng dùng tâm ư thức; không chỉ chẳng
có ư, mà cũng chẳng có tâm. Tâm ư thức đều chẳng
có, sử dụng Chân Như bản tánh, nên có thể tùy loại
hóa thân, có thể “thuận theo
tâm chúng sanh, ứng với khả năng tiếp nhận của
họ”. Chúng ta gặp phiền phức v́ có tâm ư thức,
tâm ư thức là pháp hữu vi. Theo cách liệt kê danh mục
trong Bách Pháp, khoa mục đầu tiên trong pháp hữu vi là tám
thức, tám thức là tâm ư thức. Tâm ư thức là giả, chẳng
thật. Tương ứng với tám thức, nay chúng ta nói
là “tác dụng tâm lư”, hoặc “hiện tượng tâm lư”, là
năm mươi mốt Tâm Sở, những thứ này
đều gọi là pháp hữu vi. Trong Bách Pháp, chỉ có sáu
pháp cuối cùng là pháp vô vi. Những pháp trước đó
như Tâm, Tâm Sở, Sắc Pháp, Tâm Bất Tương Ứng
Hành Pháp, tổng cộng chia thành chín mươi bốn loại,
toàn là pháp hữu vi. Kinh Kim Cang đă nói: “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn,
bọt, bóng”. Nay phàm phu chúng ta coi những pháp hữu vi ấy
đều là thật, phân biệt, chấp trước, so
đo trong ấy, khổ khôn xiết kể! Phật thấy
chúng sanh làm như vậy, gọi họ là “kẻ đáng
thương xót”, v́ sao là “đáng thương xót?” Vốn chẳng
có, mà cứ tự ḿnh khăng khăng biến thành có. Chẳng
khổ mà chính họ khổ sở ngần ấy, nên mới
nói là “đáng thương”. Nếu thật sự có khổ,
Phật sẽ chẳng gọi quư vị là “đáng
thương”. Chẳng có khổ mà chính ḿnh t́m khổ,
đó là “đáng thương”. Vốn chẳng có khổ mà
chính ḿnh khư khư t́m khổ; ngỡ giả là thật,
đáng thương thay! V́ thế, các pháp hữu vi là giả,
chẳng thật!
V́ lẽ
đó, quư vị phải giác ngộ, thật sự giác ngộ
sẽ ĺa khổ, được vui, từ nay trở đi
sẽ chẳng c̣n khổ nữa. V́ sao? Chẳng c̣n chấp
trước, chẳng c̣n so đo. Người với
người qua lại với nhau chớ nên coi là thật, v́
sao? Giả trất! Người khác nói thích ta, yêu mến ta
thế này thế nọ, quư vị nghe lời ấy đừng
ngỡ là thật, giả trất, chẳng thật! V́ sao? Tam
tâm, nhị ư. Tam tâm là ǵ? Tâm ư thức, thức thứ tám, thức
thứ bảy, và thức thứ sáu gọi là “tam tâm”. Nhị
ư: Thức thứ sáu là ư thức,
thức thứ bảy là ư căn, nên gọi là “nhị ư”.
Tam tâm nhị ư chẳng phải là thật. Chúng ta đối
với người khác cũng là tam tâm nhị ư, cũng chẳng
thật! Hôm nay tôi đối với quư vị tốt đẹp
dường ấy, nói không chừng ngày mai liền giở
quẻ, đâu là thật? Chính ḿnh đối với chính
ḿnh c̣n chưa thể bảo đảm, há c̣n có thể bảo
đảm những lời người khác nói là thật? Há
cái tâm ấy là thật? Nếu quư vị ngỡ là thật,
sẽ hoàn toàn bị lừa gạt. Bị ai lừa gạt?
Chẳng phải là bị kẻ khác lừa gạt, mà là tự
ḿnh lừa gạt chính ḿnh.
Ngày
nào chẳng dùng tâm ư thức, mà dùng chân tâm, sẽ là thật,
chẳng giả. Đến khi nào? Sơ Trụ Bồ Tát
trong Viên Giáo phá một phẩm vô minh, chứng một phần
chân tánh, chân tánh là chân tâm; từ đó trở đi bèn dùng
chân tâm, chẳng dùng tâm ư thức, đó là thật. V́ lẽ
đó, chúng ta qua lại với hết thảy mọi
người, trong tâm hiểu rơ, toàn là giả! Bất luận
họ nói như thế nào, chúng ta cười cười
mà thôi, quư vị thấy chúng ta vui sướng
lắm, tự tại lắm, đă hiểu rơ chân tướng
sự thật. Ai là thật? Người nào thật sự
yêu thương chúng ta? Phật, Bồ Tát thật sự yêu
thương chúng ta. Chẳng phải là Phật, Bồ Tát
th́ toàn bộ đều là giả! [Kẻ khác] nói dễ
nghe đến mấy, hăy nghe xong rồi thôi, ngàn vạn phần
đừng ngỡ là thật. Sự thật ấy là chân
tướng sự thật, phải hiểu rơ ràng: Chúng ta
chẳng có phiền năo, ưu lự cũng chẳng có,
đau khổ cũng chẳng có, ĺa khổ được
vui. Nếu hiểu rơ chân tướng sẽ ĺa khổ
được vui, hễ mê nơi chân tướng sẽ
khổ chẳng thể nói nổi! Chúng ta thấy có rất
nhiều người v́ cảm t́nh, v́ tài vật, v́ mọi
thứ mà lo lắng, đáng thương! Chúng ta thấy [những
kẻ ấy] đúng là đáng thương xót. V́ sao? Toàn là
giả, chẳng có ǵ là thật. Thế gian có ǵ là thật?
Thân thể đều là giả, sanh chẳng đem theo
đến, chết chẳng mang theo đi, ngay cả thân thể
cũng là giả, huống hồ vật ngoài thân! V́ thế,
đối với thân thể c̣n chớ nên chấp trước,
huống hồ vật ngoài thân!
Có được
mất hay không? Chẳng có được hay mất! Quư vị
nói ta đạt được, giả trất! Quư vị
đạt được thứ ǵ? Đêm ngủ nhắm
mắt lại, khi đă ngủ say, người ta khiêng thân
thể quư vị đi, cũng chẳng biết, có thứ ǵ
là của chính ḿnh? V́ lẽ đó, phải giác ngộ, chẳng
có ǵ là của chính ḿnh, thứ ǵ cũng đều chẳng
đạt được. Đă là thứ ǵ cũng đều
chẳng đạt được th́ thứ ǵ cũng chẳng
mất đi, về căn bản chẳng có được
thứ ǵ th́ lấy đâu ra mất? Lo được, lo mất
đem lại bao nhiêu nỗi phiền năo. Sau khi quư vị đă
hiểu rơ, vốn chẳng có được, mà cũng chẳng
có mất, lẽ nào chẳng tự tại? Đạt
được thứ ǵ đều giống như nằm
mộng. Trong mộng có được một mớ tiền
của, giả trất. Mất đi cũng giống
như nằm mộng. Trong mộng mất một món tiền
lớn, cũng là giả, chẳng có ǵ là thật. Để
giảng với mọi người về chân tướng
trong vũ trụ, kinh Phật thường nói đến
Thật Tướng của các pháp, Thật Tướng là
như thế đó. Không chỉ là trong lục đạo,
Thật Tướng là như thế, mà Thật Tướng
trong tứ thánh pháp giới cũng chẳng phải là ngoại
lệ, thảy đều là như thế đó. “Phàm những ǵ có tướng,
đều là hư vọng”. Tây Phương Cực Lạc
thế giới cũng được bao gồm trong ấy,
chẳng thể nói Tây Phương Cực Lạc thế giới
là ngoại lệ, chẳng có, nó cũng là hư vọng. Chỗ
bất đồng là: Nó là cảnh giới được
hiện bởi tâm thanh tịnh, c̣n cơi này là cảnh giới
do tâm ô nhiễm hiện ra, khác nhau ở chỗ này! V́ vậy,
chớ nên chấp trước lục phàm, mà tứ thánh cũng
chớ nên chấp trước. Nếu quư vị chấp
trước Tây Phương Cực Lạc thế giới th́
cũng sai. Hết thảy đều chẳng chấp
trước sẽ là đúng.
Tập
11
Xin mở kinh bổn, trang năm
mươi sáu.
Phần trước là nói Pháp
Thân “thuận theo tâm chúng sanh,
ứng với khả năng nhận lănh của họ”.
Trong đoạn văn này có nói Ứng Thân của A Di Đà
Phật ở Tây Phương Cực Lạc thế
giới cũng là có hạn lượng. Đoạn văn
này nằm trong trang năm mươi sáu, nơi ḍng thứ
ba từ dưới đếm lên, nói về “hữu lượng chi
lượng” (số lượng có hạn lượng).
Xem từ câu thứ hai:
“Như
A Di Đà thật hữu kỳ hạn, nhân thiên mạc số,
thị hữu lượng chi vô lượng” (như A
Di Đà Phật thật sự có kỳ hạn, nhưng
trời người chẳng thể tính toán được,
tức là vô lượng trong hữu lượng). Vấn
đề này hết sức trọng yếu, v́ rất
nhiều người thấy kinh nói A Di Đà Phật là vô
lượng thọ, lại thấy trong kinh đức
Phật có nói A Di Đà Phật trong tương lai sẽ nhập
diệt, Quán Âm Bồ Tát [nối ngôi] thành Phật. Sau khi
Quán Âm Bồ Tát thành Phật, hóa độ chúng sanh cũng
là vô lượng thọ. Sau khi Ngài nhập diệt,
Đại Thế Chí Bồ Tát thành Phật. Điều này
xác thực là có nói trong kinh. Nói như vậy, thọ
lượng của A Di Đà Phật là hữu lượng
(có hạn lượng), làm sao có thể gọi là vô
lượng? Ở đây đă giải thích, giải thích
rất hay. Trong kinh Vô Lượng Thọ đă nói, giả sử mười
phương chúng sanh, đây là nói giả sử, chẳng thật,
mười phương tất cả hết thảy chúng
sanh đều chứng quả Bích Chi Phật, Bích Chi Phật
c̣n cao hơn A La Hán, thần thông đều giống như
Mục Kiền Liên, Mục Kiền Liên thần thông bậc
nhất, thọ mạng đều là luận bằng nhiều
kiếp, người đông như thế, trọn hết
tuổi thọ hợp sức cùng nhau tính toán thọ lượng
của A Di Đà Phật, đều tính chẳng ra! Kinh
sánh ví [con số] có thể tính được giống như
một giọt nước trong biển cả, tính không ra, giống như nước
trong biển cả! Chúng ta có thể suy nghĩ: Thọ
lượng của A Di Đà Phật là vô lượng hay
là có hạn lượng? Do tính không ra, nên là vô lượng.
V́ thế, “vô lượng” nói ở đây là “vô lượng
trong hữu lượng”. Tuy là hữu lượng,
nhưng chẳng ai có thể tính toán ra, nên có thể nói là vô
lượng. Chư vị phải biết kinh nói điều
này là nói tới Ứng Thân của A Di Đà Phật, A Di
Đà Phật ở Tây Phương Cực Lạc thế
giới là Ứng Hóa Thân. Đương nhiên, đối với
Báo Thân, các kinh thường có nói là “hữu thỉ vô chung” (có khởi đầu,
nhưng chẳng có kết thúc), sau khi chứng đắc
bèn vĩnh viễn chẳng diệt. Báo Thân là thân trí huệ,
là vô lượng; đó là vô lượng trong vô lượng.
Đối với Pháp Thân, chẳng bàn tới hữu lượng
hay vô lượng v́ nó chẳng thuộc vào số lượng,
nên thảy đều chẳng thể nói được.
Có khi sẽ gặp phải câu hỏi này!
Ngoài
ra c̣n có một câu hỏi khác nơi ḍng thứ hai trong trang
năm mươi tám. Trong Đại Luận, tức là
Đại Trí Độ Luận, có một đoạn
như thế này: “Đại
luận tam thập lục vân” (Đại Luận, quyển
ba mươi sáu có chép). Trong quyển ba mươi sáu, chúng
ta biết Đại Trí Độ Luận gồm một
trăm cuốn; trong quyển ba mươi sáu có một
đoạn chép như thế này: “Đương tri Thích Ca cánh hữu thanh tịnh quốc
độ” (Hăy nên biết Phật Thích Ca cũng có cơi
nước thanh tịnh). “Thích
Ca” là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật
cũng có Tịnh Độ, “như
A Di Đà Phật quốc” [nghĩa là Tịnh Độ
của Thích Ca Mâu Ni Phật] giống hệt thế giới
Cực Lạc của A Di Đà Phật. “A Di Đà Phật diệc hữu bất nghiêm tịnh
quốc” (A Di Đà Phật cũng có cơi nước chẳng
nghiêm tịnh), [ư nói Ngài] cũng có cơi nước chẳng
phải là Tịnh Độ, cũng có uế độ, “như Thích Ca Văn Phật quốc”
(giống như cơi nước của Thích Ca Mâu Ni Phật),
[tức là] giống như thế giới Sa Bà của chúng
ta trong hiện thời. Đă đọc Đại Trí
Độ Luận, người ấy chẳng mong sanh về
Tây Phương Tịnh Độ nữa, v́ sao? Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cũng có Tịnh Độ chẳng
khác ǵ Tây Phương Cực Lạc thế giới, cớ
sao lại phải sang bên ấy (cơi Cực Lạc)? V́ sao phải
đến nơi xa xôi ngần ấy, qua khỏi mười
vạn ức cơi Phật, sang bên đó để làm ǵ? Đại
Luận nói không sai, nếu chúng ta hỏi: Tâm địa của
Thích Ca Mâu Ni Phật có thanh tịnh hay không? Thanh tịnh th́
đương nhiên hiện Tịnh Độ, đó là
đạo lư nhất định. V́ thế, chuyện này
nói theo Lư sẽ thông suốt, về Sự th́ vẫn có thể.
Vấn đề hiện thời là chúng ta phải làm
như thế nào th́ mới có thể sanh về Tịnh
Độ của Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật?
Chuyện
này vẫn là điều được nói trong phần
trước. Trong phần trước đă có tỷ dụ,
học tṛ theo thầy, nhưng có nghe theo giáo huấn của
thầy hay không? Nếu thật sự nghe theo giáo huấn của
thầy, thầy dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới chính
là sanh về thế giới Cực Lạc của Thích Ca
Mâu Ni Phật! V́ sao? Kinh đă nói rất rơ ràng, sanh về một
cơi Phật tức là sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới, chính là sanh trong hết thảy các cơi Phật.
“Hết thảy chư Phật”
đương nhiên bao gồm Thích Ca Mâu Ni Phật. Thấy
A Di Đà Phật, thấy một vị Phật là thấy
hết thảy chư Phật. Chúng ta biết điều
này, có thể khăng khăng một mực niệm A Di
Đà Phật, bất luận đọc kinh luận thấy
đức Phật thuyết pháp như thế nào đều
chẳng c̣n hoài nghi nữa! V́ sao Thích Ca Mâu Ni Phật không dạy
chúng ta sanh về Tịnh Độ của Ngài, mà dạy
chúng ta sanh về Tịnh Độ của A Di Đà Phật?
Thưa cùng chư vị, sanh về Tịnh Độ của
A Di Đà Phật dễ dàng! Đó là do bổn nguyện của
đức Di Đà đă phát trong lúc tu nhân: Chỉ cần
chấp tŕ danh hiệu, Ngài liền đến tiếp dẫn.
Đối với Tịnh Độ của Thích Ca Mâu Ni Phật,
Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng phát nguyện ấy, chẳng
nói quư vị niệm danh hiệu của Ngài, Ngài liền
đến tiếp dẫn quư vị sanh về Tịnh
Độ. T́m khắp Đại Tạng Kinh cũng chẳng
t́m thấy lời ấy. Điều này nói rơ: Văng sanh Tây
Phương Tịnh Độ dễ hơn hết thảy
các cơi Tịnh Độ khác của chư Phật. Sanh về
Tây Phương Tịnh Độ giống như sanh về
Tịnh Độ của hết thảy chư Phật, v́
sau khi quư vị đă đến Tây Phương Tịnh
Độ, muốn đến Tịnh Độ của vị
Phật nào bèn đến Tịnh Độ của đức
Phật ấy; đó gọi là “một
sanh, hết thảy sanh”.
Trong
đoạn lớn này, chúng tôi giới thiệu phần
Thích Danh (釋名:giải
thích tên kinh) đến đây, lại xem đoạn lớn
thứ hai. Đoạn lớn thứ hai là Biện Thể
(辨體: biện định bản thể
của bộ kinh này) ở trong trang năm mươi chín, [xem
từ] ḍng thứ năm. “Tiền
văn giải thích năng thuyết, sở thuyết,
năng quán, sở quán, giai năng thuyên danh” (Đoạn
văn trên đây đă giải thích người nói, đối
tượng được nói, người quán, đối
tượng được quán, đều là giải thích
về danh xưng của bộ kinh). Đoạn lớn
trên đây nhằm giải thích những diệu nghĩa
được bao hàm trong tựa đề kinh này, c̣n
đoạn này nhằm hiển Thể. Thể là nói đến
tánh chất của nó, cũng có nghĩa là căn cứ lư
luận mà đức Phật đă dùng để giảng
bộ kinh này. Đức Phật đă dựa vào đâu
để nói Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh? Nhất
định phải biết căn cứ lư luận của
nó th́ tín tâm của chúng ta mới có thể thật sự kiến
lập. Nếu không biết căn cứ lư luận của
nó mà tin tưởng, chỉ có thể nói là người ấy
thiện căn sâu dầy. Được lắm! Người
ấy có thể thành tựu. Có những người mà nếu
quư vị chẳng có căn cứ lư luận, họ sẽ
chẳng tin, chẳng thể tiếp nhận, nên phần Biện
Thể hết sức trọng yếu.
Trong
phần giải thích có câu: “Tầm
danh, ư tại vong danh hiển Thể” (t́m hiểu ư
nghĩa của tên gọi với dụng ư quên đi cái tên
gọi để hiển lộ cái Thể), câu này rất
quan trọng. Nói thật ra, trong kinh luận thường dạy
chúng ta: “Nghe giáo”, cổ nhân nói
là “thính giáo”, c̣n nay chúng ta nói
là “nghe kinh” hoặc “nghe khai thị”, cổ nhân
dùng chữ “thính giáo”, thính giáo phải tiêu quy tự
tánh. Để tiêu quy tự tánh, nhất định phải
ĺa tướng ngôn thuyết, ĺa tướng danh tự, ĺa
tướng tâm duyên th́ mới có thể tương ứng
với tâm tánh. Nếu chấp trước những thứ
ấy, sẽ không tương ứng. Đức Phật
nói ra tên kinh cũng là nói đến Giáo; nếu chúng ta có thể
ĺa tướng ngôn thuyết, ĺa tướng danh tự, ĺa
tướng tâm duyên, bèn kiến tánh. Tánh là ǵ? Tánh là Thể
của kinh. Do vậy, có thể biết: Đức Phật
đă dựa vào đâu để nói kinh? Dựa trên Chân
Như bản tánh. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười
pháp giới được kiến lập trên bản tánh,
đức Phật nói hết thảy các kinh cũng do từ
trong tâm tánh lưu lộ, nên có thể tin tưởng điều
này.
Tiếp
theo đó, sách giải thích ư nghĩa của việc Biện
Thể, phần này nằm trong phần Chánh Văn, trang sáu
mươi mốt, hàng thứ hai: “Thứ Biện Thể giả, Thể thị chủ
nghĩa” (Kế đến là Biện Thể, Thể là
nghĩa lư chủ yếu). “Thứ”
(次) là đoạn thứ hai, “Sơ”
(初: đoạn
đầu tiên) là Thích Danh (giải thích tên kinh), là đoạn
lớn thứ nhất. Đây là đoạn lớn thứ
hai, tức Biện Thể trong năm tầng Huyền
Nghĩa. Biện (辨) là biện định,
phân biệt, Thể (體) là tánh thể của bản kinh. Trước hết
giải thích chữ Thể theo cách nào? Thể là “chủ nghĩa” (主義: nghĩa lư chủ
yếu), Chủ là “tân chủ”
(賓主: khách và chủ). Trong phần
trước, giảng về Danh (tên kinh) th́ Danh chẳng phải
là Chủ. Ví như tôi xuất gia, sư phụ đặt cho
tôi pháp danh là Tịnh Không, Tịnh Không có phải là tôi hay
không? Chẳng phải! Con người này mới là tôi. Danh
tự th́ ta đổi tên chẳng sao cả; ta có thể
đổi tên, chẳng thể đổi cái thân. Thân là một,
là chủ, ta thích tên ǵ cũng đều được cả.
Quư vị thấy khi Hoằng Nhất đại sư viết
văn hay vẽ vời, con dấu khắc tên của Ngài nói
chung có đến tám chín mươi loại, sợ rằng
chính Ngài cũng chẳng biết rơ [chính ḿnh thật sự có
bao nhiêu con dấu]! Danh là giả danh, “tầm danh” là phải t́m Chủ của nó th́ mới
được, Chủ chính là Thể. “Danh bàng thị Tân”, [nghĩa là] xét theo mối quan
hệ giữa chủ và khách, Danh (tên kinh) là khách. “Thể chánh thị Chủ”
(Thể đúng là Chủ), dùng Danh để hiển Thể.
“Danh thị giả danh, Thể
thị thực chất, nhất thiết danh hạ, giai hữu
kỳ Thể” (Danh là giả danh, Thể là thực chất.
Trong hết thảy các tên gọi đều có Thể của
chúng). Nếu danh ấy chẳng có Thể, danh cũng chẳng
thể tồn tại. Trong kinh Phật thường dùng tỷ
dụ “quy mao, thố giác” (龜毛兔角: lông rùa, sừng thỏ),
đó là có Danh, nhưng chẳng có Thể. Con thỏ chẳng
có sừng, nói “sừng thỏ” chính là có Danh nhưng chẳng
có Thể, chẳng có ư nghĩa ǵ! Có Danh, nhất định
phải có Thể, phải có thật thể. Đó là nói về
ư nghĩa của Thể.
Tiếp
đó, chánh thức giải thích chữ “chủ chất”. “Thích
Luận vân, trừ chư pháp Thật Tướng, dư giai
ma sự” (Thích Luận viết: “Trừ Thật Tướng
của các pháp ra, những thứ khác đều là ma sự”),
đây là căn cứ trên những điều được
giảng trong kinh Đại Thừa, đó là ư nghĩa
được nói trong kinh Hoa Nghiêm. “Ma sự” là ǵ? Ma là vùi dập, phiền năo, đau
khổ. Phàm những ǵ chẳng tương ứng với
Thật Tướng đều có khổ. Tư tưởng,
kiến giải, và hành vi của lục đạo phàm phu đều
trái nghịch Thật Tướng, nên tam giới đều
đau khổ. Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát chưa thể
hoàn toàn tương ứng với Thật Tướng, chỉ
tương ứng một phần, chưa thể hoàn toàn tương
ứng, các Ngài vẫn c̣n có những nỗi khổ nhỏ,
ít hơn chúng ta rất nhiều. Chỉ có viên thật Bồ
Tát, [tức là] các vị Bồ Tát chân thật trong Viên Giáo,
là những vị Bồ Tát đă chứng đắc Pháp
Thân mới thật sự ĺa khổ được vui, vĩnh
viễn chẳng có ma sự, có thể tương ứng với
Thật Tướng. Chúng ta nên biết sự thật này,
biết giống như chính ḿnh có gốc bệnh ấy, biết
chính ḿnh mắc loại bệnh ǵ. Đă biết bệnh,
chúng ta sẽ có thể t́m bác sĩ, t́m thuốc, mới có
thể trị khỏi bệnh ấy. Sợ nhất là chính
ḿnh mắc bệnh nhưng chẳng biết, chuyện ấy
đáng sợ nhất! V́ lẽ đó, người tu hành phải
biết những ǵ? V́ sao phải tu? Trong tương lai, hy
vọng sẽ đạt được kết quả
như thế nào? Phải hiểu rành rẽ, rơ ràng chuyện
này. Quyết định chớ nên hồ đồ, mê muội
tu tập, chớ nên như thế, lăng phí thời gian, lăng
phí tinh thần, chẳng đạt được kết
quả!
“Đại Thừa kinh dĩ Thật Tướng vi ấn,
vi kinh chánh thể” (Kinh Đại Thừa lấy Thật Tướng làm
ấn, làm chánh thể của kinh). Hết thảy các kinh
Đại Thừa do đức Phật đă giảng
đều lấy Thật Tướng làm Thể. Thật
Tướng là chân tướng của vũ trụ và nhân
sinh. Nói cách khác, hết thảy các kinh đều nhằm
nói rơ chân tướng của vũ trụ và nhân sinh, căn
cứ trên Thật Tướng của các pháp để nói.
Có thể thấy mỗi câu trong kinh đều là chân thật,
chẳng có câu nào là nói hư giả. Những điều
kinh nói dường như mâu thuẫn với kiến thức
thông thường của chúng ta, t́nh h́nh ấy rất nhiều,
đó là v́ chúng ta từ vô lượng kiếp đến
nay đă tích lũy kinh nghiệm từ các tư tưởng
và kiến giải sai lầm, [nên nhận thấy những
ǵ kinh điển đă dạy] chẳng tương ứng
với kinh nghiệm của chúng ta. Thật ra vẫn là do
chúng ta sai lầm, chẳng phải là đức Phật nói
sai, mà do chính chúng ta sai quấy. Bản thân chúng ta nghĩ
sai, thấy sai. Người biết tu hành nhất định
phải nương theo lư luận và phương pháp do
đức Phật đă nói để uốn nắn những
sai lầm của chính ḿnh, đó gọi
là tu hành. Có rất nhiều đồng tu, mới học
cũng như học đă lâu đều có [căn bệnh
như thế này]: Xem kinh Phật, ta nghĩ như thế
này, thế nọ, ta có cách nh́n thế này, thế nọ. Cái
[quan điểm] “theo cách nghĩ, cách nh́n của ta” ấy
chính là kinh nghiệm sai lầm tích lũy từ vô thỉ kiếp.
Đức Phật giảng cho họ, họ vẫn chẳng
tin, vẫn phải đưa ra cách nghĩ, cách nh́n của
chính ḿnh, vậy th́ khó thể thành tựu được
ǵ! Kinh bảo chuyện ấy là “thiện căn của các
chúng sanh đó chưa chín muồi, vẫn chưa thể
hoàn toàn tiếp nhận”.
Thật
Tướng của các pháp đến tột cùng là như
thế nào? Nếu quư vị hỏi là như thế nào th́
t́nh h́nh ngay khi ấy chính là nó đó. Những ǵ quư vị thấy,
nghe, tiếp xúc là Thật Tướng của hết thảy
các pháp. Đức Phật giảng cho chúng ta những
tướng chân thật ấy. Đó là Thật Tướng.
Thật Tướng ở ngay trước mặt chúng ta,
v́ sao chúng ta chẳng thấy? Chúng ta đă xen tạp rất
nhiều khái niệm hư vọng vào tướng chân thật,
rối loạn tướng chân thật, biến chân tướng
thành sai lầm. Nói cách này mọi người vẫn rất
khó hiểu, [tôi phải dùng một thí dụ để nói].
Như trong hội Lăng Nghiêm, đức Phật đă
nêu một thí dụ, Ngài nêu [thí dụ] mắt thấy sắc.
Đoạn kinh văn ấy rất dài, [tức là phần]
“mười phen hiển lộ
cái Thấy”, chỉ rơ tánh Thấy của chúng ta, thấy
Thật Tướng. Thật Tướng là sắc tánh, tánh
Thấy thấy sắc tánh, đó là chân thật, là sở
kiến của đức Phật và các vị đại Bồ
Tát. Tánh Nghe nghe thanh tánh. Tánh tương ứng với Tánh, Tánh
và Tánh dung thông, Năng và Sở là một, chẳng hai, nên Tánh
và Tướng như một. Thiền gia nói “minh tâm kiến tánh, kiến tánh
thành Phật” là do họ thấy như vậy.
Đức
Phật nói lũ phàm phu chúng ta thấy như thế nào?
Nhăn Thức của phàm phu chúng ta thấy Sắc Trần, chẳng
thấy Sắc Tánh. Thức là ǵ? Thức là phân biệt, chấp
trước. Quư vị thấy sắc, sắc chẳng phải
là tánh, sắc biến thành trần, trần (塵) là bụi bặm,
bụi bặm có thể nhuốm bẩn, do như vậy mà
bị nhuốm bẩn. Nhuốm bẩn do trong tâm của
chính ḿnh biến hiện. Vốn chẳng bị nhuốm bẩn,
nay lại biến hiện thành nhuốm bẩn. Ngay khi chúng
ta mở banh mắt, niệm thứ nhất là thấy bằng
tánh Thấy, niệm thứ hai liền biến chất, biến
thành thấy bằng Nhăn Thức. Niệm thứ nhất có
thời gian rất ngắn, ngắn đến mức độ
nào? Trong kinh, đức Phật thường dùng tỷ dụ
để nói: “Một cái khảy
ngón tay”. Một cái khảy ngón tay có sáu mươi sát-na, một
sát-na là một phần sáu mươi của thời gian khảy
ngón tay. Một sát-na có chín trăm lần sanh diệt, nên một
niệm là một phần chín trăm của một sát-na; một
niệm là như vậy đó. Quư vị nói xem: Tốc
độ này quá nhanh chóng! Thông thường, đại khái
là trong một giây chúng ta khảy ngón tay bốn lần, chẳng
có vấn đề ǵ! Bốn nhân với sáu mươi, lại
nhân với chín trăm thành hai mươi vạn tám ngàn; một
phần trong hai mươi vạn tám ngàn của một giây
là một niệm. Niệm thứ hai liền biến thành Thức,
liền phân biệt, chấp trước.
Nếu
nói rơ ràng hơn một chút, cái thấy thứ nhất là cái
thấy b́nh đẳng, v́ sao? Chẳng có phân biệt, chấp
trước, vạn pháp b́nh đẳng, tâm thanh tịnh. Trong
cái thấy thứ hai, do một niệm đă bất b́nh
đẳng, nên trong hết thảy tướng bèn dấy
lên phân biệt. Hễ dấy lên phân biệt, sẽ chẳng
b́nh đẳng. Thuận theo phân biệt, lại nổi lên
sự ưa ghét trong ấy. Thuận theo ư nghĩ của
chính ḿnh bèn dấy lên tâm tham, trái nghịch ư ḿnh bèn dấy
tâm sân khuể, càng nhiễm càng nghiêm trọng hơn, chuyện
là như vậy đó. V́ thế, hoàn toàn ǵn giữ niệm
thứ nhất, vĩnh viễn ǵn giữ niệm thứ
nhất chẳng để mất th́ sẽ thành Phật,
cái tâm ấy chẳng biến đổi. Niệm thứ nhất
là chân tâm, chẳng thay đổi sẽ thành Phật; hễ
biến đổi sẽ biến thành phàm phu, biến đổi
quá nhanh, biến đổi quá tự nhiên, biến đến
nỗi ngay cả chính ḿnh cũng chẳng biết. V́ thế,
Thật Tướng của các pháp xác thực là ở
trước mặt chúng ta, nhưng chúng ta chẳng thấy,
v́ vẫn chưa đến một sát-na, bị biến chất
trong một phần hai mươi vạn của một
sát-na, cho nên mê!
Chúng
ta xem chú giải nơi trang sáu mươi mốt, ḍng thứ
hai từ dưới đếm lên. Trong lời chú giải,
câu thứ hai viết: “Vị
chư pháp đương xứ bất sanh, bất diệt,
phi hữu, phi không, vô năng, vô sở” (nghĩa là các
pháp ở ngay nơi đây, chẳng sanh, chẳng diệt,
chẳng có, chẳng không, chẳng có năng, chẳng có sở),
câu này nói về Thật Tướng của các pháp. Thật
Tướng nào vậy? Thưa cùng chư vị, chúng ta thấy
sắc, nghe tiếng, những tướng ấy (sắc tướng,
âm thanh v.v…) đều là nó cả. Quư vị đọc
đến đoạn văn này bèn cảm thấy kỳ
quái, ta thấy rơ ràng con người có sanh, lăo, bệnh, tử,
cớ sao nói bất sanh, bất diệt? Thưa thật
cùng quư vị, chẳng có sanh diệt! Thưa thật cùng
quư vị, chẳng có Không và Hữu. Đạo lư này
được nói cặn kẽ và đích xác nhất trong
kinh Lăng Nghiêm. Kinh Lăng Nghiêm dạy: Tất cả hết
thảy hiện tượng giống như thế nào? “Đương xứ xuất
sanh, tùy xứ diệt tận” (Sanh ra ngay từ nơi
đây, sẽ diệt tận ngay tại nơi đây), sanh
diệt đồng thời, trong ấy chẳng có giới
hạn. Quư vị hăy suy gẫm, đức Phật nói “sanh diệt” là bất đắc
dĩ nói phương tiện, trên thực tế, chẳng
có sanh diệt. Hiện tượng (h́nh tượng
được biến hiện) của hết thảy các
pháp chẳng phải là chân thật, nên những hiện
tượng ấy là huyễn tướng. Chẳng có sanh diệt,
nếu chúng ta dùng tỷ dụ th́ tỷ dụ cũng chỉ
có thể sánh ví phảng phất, chẳng có cách nào sánh ví
phù hợp khít khao được!
Giống
như chúng ta xem phim, các h́nh ảnh trong phim cũng có động
tác. Bất sanh bất diệt bèn chẳng có động
tác, như vậy th́ rốt cuộc nó là động hay bất
động? Tôi thưa cùng quư vị, phim ảnh bất
động, h́nh tướng được chiếu ra bởi
phim ảnh là bất diệt, nhưng chúng ta nh́n chẳng
ra. V́ sao nói là bất sanh, bất diệt? Quư vị thấy
phim, tức cuộn phim được đặt trong máy
chiếu là bất sanh bất diệt. Sự sanh diệt
như quư vị đă thấy chính là xem tấm phim trước
được chiếu xong, lại thấy tấm phim thứ
hai [được chiếu lên màn bạc], thấy [có một
h́nh ảnh liên tục biến đổi] như vậy, nhưng
thật ra mỗi tấm phim đều là độc lập.
Phải biết: Tướng được hiện bởi
Chân Như bản tánh giống như cuốn phim được
chiếu trong điện ảnh, chẳng có sanh diệt. Hết
thảy các pháp chẳng sanh, lấy đâu ra diệt? Chúng
ta xem phim, hiện thời phim xi-nê được chiếu
với tốc độ hai mươi bốn tấm mỗi
giây, chúng ta tưởng nó là thật, đă bị nó lừa
gạt. Tôi vừa mới nói tâm sanh diệt, đó là sự
sanh diệt của thức thứ tám tức A Lại Da,
trong một giây có đến hai mươi vạn tám ngàn [lần
sanh diệt, giống như những] tấm [phim được
chiếu]. V́ thế, rất giống như thật, [nên chúng
ta] chẳng biết nó là giả. Đây là nói cho quư vị biết
Thật Tướng của các pháp, chân tướng của
hết thảy các pháp là như vậy đó. Giống
như xem phim, chân tướng như thế nào? Quư vị
thấy cuộn phim mới là thấy chân tướng, những
ǵ quư vị thấy trên màn bạc là giả tướng, thấy
cuộn phim đặt trong máy chiếu phim mới là chân
tướng.
Nay
đức Phật dạy chúng ta chân tướng: Hết
thảy các pháp chẳng phải có, chẳng phải không. Quư
vị nói nó là không th́ nó hiện tướng. Quư vị nói
nó là có, th́ bản thể của chính cái tướng ấy
đă tiêu mất. “Sanh từ
nơi đâu, bèn diệt mất ngay nơi đó”, giống
như máy chiếu phim, [h́nh ảnh] được sanh ra
ngay từ nơi đó và cũng diệt mất ngay tại
đó. Xưa kia, đúng là đức Phật nói những lời
này, chúng tôi nghĩ người xưa nghe xong có thể khai
ngộ, quả thật chẳng đơn giản. Hiện
thời, khoa học kỹ thuật phát triển, đích xác
là có nhiều thứ trong khoa học có thể giúp chúng ta lănh
ngộ, trước kia chẳng có những thứ đó.
Không có Năng, không có Sở, nên sanh diệt. Không, Hữu,
Năng, Sở, hết thảy tương đối đều
chẳng thể được; đó là Thật Tướng.
Tiếp
đó, sách dạy chúng ta làm thế nào th́ mới có thể thấu
hiểu. “Ly ngôn thuyết tướng”:
Đức Phật giảng kinh, thuyết pháp, chúng ta ngàn
muôn phần đừng chấp trước ngôn ngữ của
Ngài, xem kinh đừng chấp trước văn tự.
Văn tự là phù hiệu ngôn ngữ, ĺa tướng ngôn
thuyết cũng là ĺa tướng văn tự, chớ nên
chấp trước văn tự. “Ly tâm duyên tướng”, quyết định đừng
nên tưởng tượng, chớ nên tư duy: “Đức
Phật nói lời này có nghĩa là ǵ?”. Chớ nên suy nghĩ,
hễ suy nghĩ liền trật. Nay chúng ta giảng kinh, giảng
hay cách mấy vẫn chẳng bằng Phật, v́ sao? Chúng
ta giảng kinh, trước hết bèn suy tưởng kinh
này phải giảng theo cách nào, vậy th́ làm sao được
nữa! Đức Phật giảng kinh chẳng thông qua
tư duy. Hễ thông qua tư duy bèn rơi vào ư thức.
Rơi vào ư thức là tà tri tà kiến, là ma sự. Người
ta không qua tư duy. “Ly danh tự
tướng”, “danh tự” là
danh từ, thuật ngữ. Thí dụ như trong kinh nói Phật,
nói Bồ Tát, nói Lục Độ, nói Tứ Nhiếp, những
điều ấy đều là danh từ, thảy đều
chẳng chấp trước. “Ly
thử đẳng tướng, danh vi Thật Tướng”
(ĺa những tướng giống như vậy, gọi là
Thật Tướng), đối với hết thảy những
thứ ấy, quư vị đều không chấp trước,
Thật Tướng ở ngay trước mắt. Quư vị
thấy sắc, nghe tiếng, không ǵ chẳng phải là Thật
Tướng, quư vị đạt được sự thọ
dụng chân thật trong Thật Tướng. Sự thọ
dụng chân thật được hiển thị trong cuộc
sống th́ vô lượng trí huệ và vô lượng
phước đức mới có thể thật sự
hưởng thụ. V́ sao? V́ hết thảy các pháp, chẳng
có pháp nào không xứng tánh. Tánh là bất sanh, bất diệt,
Tánh là viên măn, chẳng có khiếm khuyết; chân tánh biến
hiện hết thảy các vật cũng giống như
chân tánh. Cổ nhân nói: “Dùng vàng
làm đồ vật, món nào cũng đều là vàng”, ví
vàng như chân tánh, coi các món vật như Thật Tướng
của các pháp. Từ trong hết thảy các món đồ,
đều thọ dụng vàng.
V́
thế, trong hết thảy các pháp, lục căn tiếp
xúc lục trần, trong hết thảy các pháp đều
đạt được tác dụng của tự tánh, hiểu
tất cả đều là vật được biến
hiện bởi tự tánh. Tánh và Tướng như một,
Tánh và Tướng bất nhị, Tánh là Tướng, Tướng
là Tánh. Giống như sáng sớm hôm nay, tôi đă nêu lên chuyện
nằm mộng, mộng là tâm, tâm là mộng. Mộng và tâm là
một, chẳng hai. Từ thí dụ gần gũi, rơ rệt
này, nếu chúng ta suy luận thêm một bước nữa,
cảnh giới trước mắt chúng ta do Chân Như bản
tánh biến hiện, tất cả hết thảy cảnh
giới là tự tánh, tự tánh đă biến thành cảnh
giới, cảnh giới là tự tánh. V́ thế, “toàn vọng tức chân”, “vọng” là nói đến sự
tướng, nói tới các pháp. “Chân”
là nói đến bản tánh. “Toàn”:
Toàn thể vọng cảnh là tâm, là chân tánh. Toàn thể chân
tánh là cảnh giới hư vọng, chân và vọng là một,
không hai. V́ lẽ đó, kiến tướng là kiến tánh,
giống như thấy đồ vật là thấy vàng, vàng
và đồ vật là một, chẳng hai!
Hai
câu tiếp đó nói rất hay: “Vô
tướng chi tướng dă, thùy nhân bất cụ, hà pháp
bất nhiên” (Tướng vô tướng có ai là chẳng
trọn đủ, có pháp nào chẳng phải là như vậy).
Hai câu ấy nói rất hay! Hết thảy chúng sanh trong mười
pháp giới, ai nấy đều trọn đủ. Hết
thảy vạn pháp, chúng ta nói là khoáng vật, thực vật,
hư không, thế giới, không pháp nào
chẳng phải là như vậy. Chẳng có một pháp nào
không do tự tánh biến hiện, pháp nào cũng đều
như vậy. Đó là Thật Tướng, là chân tướng,
nhưng người biết chân tướng này quá ít. Tiếp
đó, sách viết: “Nhược
luận chứng tri, duy hữu chư Phật” (nếu
luận về sự chứng biết, chỉ có
chư Phật), “chứng” (證) là chứng minh, “tri” (知) là biết. Nếu chúng ta nói
người nào chứng thực chuyện này, người
nào biết rơ ràng? Chỉ có chư Phật! V́ vậy, kinh Pháp
Hoa có nói: “Duy Phật dữ Phật
năi năng cứu tận chư pháp Thật Tướng”
(chỉ có Phật và Phật th́ mới có thể thấu hiểu
rốt ráo Thật Tướng của các pháp). “Cứu cánh” (究竟) là hiểu rơ triệt
để. Triệt để hiểu rơ chân tướng sự
thật th́ chỉ có Phật và Phật. Nói cách khác, hàng Đẳng
Giác Bồ Tát đều chẳng thuộc trong số ấy.
V́ sao? Đẳng Giác Bồ Tát có một phẩm sanh tướng
vô minh chưa phá. Một phẩm sanh tướng vô minh ấy
là ma chướng và ma sự của Đẳng Giác Bồ
Tát.
Đẳng
Giác Bồ Tát c̣n có ma chướng th́ các ma chướng mà
chúng ta đang có há thấm vào đâu! Nhất định là
có ma chướng, v́ sao? Quư vị chưa thành Phật. Tôi vừa
mới nói Đẳng Giác Bồ Tát c̣n có ma chướng, ma
chướng nhất định phải có. Tuy có, quư vị
chớ sợ nó, phải mong biến ma thành Phật. Nói thật
ra, ma và Phật là một, chẳng hai. Quư vị mê, Phật
liền biến thành ma; hễ giác ngộ, ma liền biến
thành Phật. Hiểu rơ đạo lư này, có Phật và ma hay
không? Chẳng có! Không Phật, mà cũng không ma. Phật và
ma biến hóa tùy thuộc tâm địa của chính chúng ta là
mê hay giác. Đă mê bèn thành chướng, chướng ngại
là vùi dập, đó là ma. Hễ giác ngộ bèn vô ngại, Lư
Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, bèn gọi là Phật.
Ma và Phật xuất hiện như vậy đó! Nói đi,
nói lại, nói chung đều quy vào ư niệm của chính
ḿnh. Một niệm tà, quần ma quay cuồng loạn xạ;
một niệm chánh, ắt chư Phật xuất thế;
nhưng chư vị phải hiểu: Chánh niệm là vô niệm.
Nói “vô niệm”, cổ nhân sợ
quư vị lại hiểu lầm ư nghĩa, ngỡ vô niệm
là “ư niệm ǵ cũng chẳng có”, tức là lại biến
thành Vô Tưởng Định, lại sai mất rồi!
V́ thế, c̣n phải chú giải thêm: Vô tà niệm, “vô niệm”
là vô tà niệm; nói cách khác, hăy c̣n có niệm. Nói thật ra,
có niệm là đă có vấn đề to lớn. V́ có niệm
bèn có chấp trước, có phân biệt. Trong phần
trước, chẳng phải là tôi đă nói quư vị phải
ĺa hết thảy phân biệt, chấp trước ư?
Ĺa hết thảy phân biệt, chấp trước, thứ
ǵ cũng hiểu rơ, thứ ǵ cũng minh bạch, bèn gọi
là “chánh niệm”. Nếu ĺa hết thảy phân biệt, chấp
trước, nhưng thứ ǵ cũng không biết, bèn gọi
là vô minh. Vô minh chẳng phải là chánh niệm. Chánh niệm
phân minh, chánh niệm chẳng phải là vô minh. Những chỗ
này đều phải phân biệt rơ ràng, rành rẽ.
Đoạn
kế tiếp nói rất hay: “Bẩm
viên thuyết giả, sơ tâm tức dụng Phật trí
chiếu cảnh, cố năng tín giải chư pháp Thật
Tướng. Kư giải Thật Tướng, diệc giải
thật tánh, thật thể, năi chí thật bổn mạt cứu
cánh đẳng. Thập pháp kư thật, tức thị thật
sanh, thật Phật, thật y, thật chánh, nhất sắc,
nhất hương, vô phi Trung Đạo, nhất thiết
chư pháp giai thị Phật pháp” (Nếu nói với
người có căn tánh Viên Giáo th́ sơ tâm bèn dùng Phật
trí để chiếu cảnh, nên có thể tin hiểu Thật
Tướng của các pháp. Đă hiểu Thật Tướng
th́ cũng hiểu thật tánh, thật thể, cho đến
gốc ngọn rốt ráo thật sự v.v… Mười
pháp[3]
đă là thật, tức là chúng sanh thật sự, Phật
thật sự, y báo thật sự, chánh báo thật sự,
mỗi sắc, mỗi hương, không ǵ chẳng phải
là Trung Đạo, hết thảy các pháp đều là Phật
pháp). Đoạn này hay lắm, xác thực là đă giảng
rất rơ chân tướng sự thật, ngôn ngữ
đơn giản, dễ hiểu. “Viên” là căn tánh Viên Giáo. Căn tánh của hết
thảy chúng sanh khác nhau; tông Thiên Thai chia căn tánh thành bốn
loại lớn là Tạng, Thông, Biệt, Viên, tức là nói hết
thảy các căn tánh bất đồng [được
quy nạp lại], chia thành bốn loại lớn. V́ sao mà
có căn tánh [khác biệt]? Cổ nhân nói “do tập quán thành tựu”, nên gọi nó là “tập tánh” (習性), chẳng phải
là bản tánh. Trong Luận Ngữ, Khổng lăo phu tử cũng
nói về vấn đề này rất hay, hết sức
chánh xác! Lăo nhân gia nói: “Tánh
tương cận, tập tương viễn” (tánh th́
gần giống như nhau, do huân tập mà trở thành khác
xa nhau). Trong Luận Ngữ, Khổng lăo phu tử đă nói
như thế hai lượt. Phật pháp gọi “tánh” là Chân Như bản tánh,
[tánh và Chân Như bản tánh] giống như nhau. Chư Phật
Như Lai và hết thảy chúng sanh đều giống
nhau, nhưng do tập tánh sai biệt to lớn, mà biến
thành mười pháp giới. Thói quen trở thành tự
nhiên, tập tánh chẳng phải là một đời, mà là
đời đời kiếp kiếp, vô lượng kiếp
đến nay dưỡng thành thói quen, rất phiền phức!
Tập
tánh của mỗi cá nhân cũng khác nhau. Đức Phật
thuyết pháp chỉ có thể phân loại tổng quát, chẳng
thể phân chia tỉ mỉ. Phân chia tỉ mỉ th́
đích xác là mỗi người đều khác biệt,
phân chia tổng quát sẽ là bốn loại Tạng, Thông, Biệt,
Viên. Có kẻ là căn tánh Tiểu Thừa, căn tánh
được gọi là Tiểu Thừa vô cùng cố chấp,
chuyện ǵ cũng đều rất chấp trước.
Đức Phật thuyết pháp cho loại chúng sanh này liền
nói theo kiểu chấp trước, cũng làm ra vẻ rất
chấp trước. Họ thấy Ngài chí đồng đạo
hợp nên rất hoan hỷ, như vậy th́ mới có thể
dạy họ. Nếu tập tánh tương đối cởi
mở hơn một chút, chẳng chuộng câu nệ, dè dặt
như vậy, thứ ǵ cũng thích tương đối
tự do một chút, tùy tiện một chút, đó là điều
khiến cho người Tiểu Thừa nh́n chẳng thuận
mắt nhất. Đối với những người ấy,
đức Phật liền thị hiện tác phong cởi mở,
khiến cho những người ấy thấy vậy
cũng hoan hỷ. Đức Phật xuất hiện tại
Ấn Độ, người Ấn Độ thuở
đó rất câu nệ, dè dặt, nên khi đức Phật
xuất hiện trên thế gian, giới luật rất
nghiêm ngặt, họ thấy vậy rất bội phục,
rất hoan hỷ. Nay trong thế giới này, có những
người trông thấy hàng Tiểu Thừa đều cảm
thấy không chịu nổi: “Chúng tôi chẳng có cách nào tiếp
nhận”. V́ thế, trong kinh Pháp Hoa, đức Phật mới
nói: Trong thời kỳ Mạt Pháp, để độ hết
thảy chúng sanh, nhất định phải dùng Đại
Thừa, v́ sao? Thế giới hiện thời cởi mở,
dân chủ, tự do, quư vị cần phải phù hợp với
h́nh thái ư thức của họ th́ người ta mới thích
tiếp nhận. Nếu c̣n định ra nhiều quy củ
bó buộc con người, cái này cũng chẳng thể
động, cái kia cũng chẳng thể động, Phật
pháp sẽ không thể thực hiện trôi chảy
được. Phật pháp tốt đẹp, nhưng
người ta chẳng cần quư vị th́ quư vị
cũng chẳng có cách nào!
V́ lẽ
đó, ắt là phải trong một thời đại nào
đó th́ phải có cách giảng và cách làm của thời
đại đó, h́nh thức thiên biến vạn hóa, nhưng
nguyên lư và nguyên tắc hoàn toàn bất động. Nguyên lư và
nguyên tắc là “khiến cho chúng ta phá mê, khai ngộ, ĺa khổ,
được vui”, nhưng h́nh thức th́ thiên biến vạn
hóa. Nhất định phải thích hợp với con
người, tư tưởng, bối cảnh văn hóa
và phương thức sinh hoạt của người
nơi ấy th́ mới có thể thúc đẩy và lợi
ích chúng sanh. Lợi ích là nói theo phía chúng sanh ở nơi ấy,
lúc ấy; luận theo nơi ấy, khi ấy, chẳng phải
là nói tới những khu vực khác, đó gọi là “khế cơ” th́ mọi
người mới hoan hỷ. Hiện thời, chẳng dễ
ǵ cổ động Phật pháp, nguyên nhân chủ yếu là
v́ chẳng khế cơ, do bản thân chúng ta đă giảng
kinh chết cứng, giảng sai lầm. À! Chúng ta nghỉ
ngơi mấy phút!
Tập
12
Xin mở trang sáu mươi hai. Trong
bản Sớ Sao này, chúng ta dùng tác phẩm do pháp sư
Đế Nhàn trích lục từ bộ Sớ Sao, gần
như là nguyên văn, chính pháp sư Đế Nhàn thêm [những lời chú
giải] rất ít, tối đa chỉ là giới thiệu
từ ngữ mà thôi. Bản trích lục của lăo nhân gia
cũng là phần rất trọng yếu trong bộ Sớ
Sao, chúng tôi vẫn hiềm thời gian quá ngắn, chẳng
có cách nào giới thiệu tường tận cùng quư vị
được! Chỉ là trong các phần trọng yếu,
chọn lựa những điểm trọng yếu nhất
đối với sự tu học b́nh thường của
chúng ta, đặc biệt có quan hệ với sự niệm
Phật, để giới thiệu đơn giản, ngắn
gọn cùng mọi người.
Từ
Sớ Sao, chúng ta hiểu rơ Phật pháp đích xác là sống
động, hoạt bát. Trong Viên Giáo, tư tưởng, kiến
giải và hành tŕ của người căn cơ viên đốn
rất gần với Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô
ngại. Trong vô ngại pháp giới, điều cần phải
chú ư nhất là sự khác biệt giữa tà và chánh. Một
niệm chánh th́ là Phật pháp, một niệm tà bèn biến
thành ma sự. Tạng, Thông, Biệt, Viên đều chẳng
ĺa khỏi nguyên tắc này, trong pháp Tiểu Thừa cũng
là như thế. Chọn lấy điều thiện để
cố chấp là tốt, nhưng nếu chẳng hiểu
rơ lư luận, chẳng biết mục đích th́ có những
sự cố chấp ấy sẽ là sai lầm, đạt
được hiệu quả trái ngược. Đối
với những chỗ này, nếu chúng ta đọc nhiều
kinh luận Đại Thừa sẽ có thể hiểu rơ.
Đây là nói tới người thuộc Viên Giáo, tư
tưởng tương đối cởi mở, hễ dốc
công tu tập sẽ có thể dùng giáo nghĩa Viên Giáo để
làm căn cứ tu học cho chính ḿnh. Nói cách khác, họ có
thể dùng phương pháp tu hành của chư Phật và
chư đại Bồ Tát làm phương pháp tu hành của
chính ḿnh. Đă nhanh chóng, lại c̣n đơn giản
hơn mấy thứ trên đây, đó là như cổ đức
thường nói: “Viên nhân thuyết
pháp, vô pháp bất viên” (người căn cơ viên măn
thuyết pháp, không pháp nào chẳng viên). Nói, nghe, và học tập
đều chẳng ra ngoài lệ ấy. Mấy câu kế
đó (như “thật tánh, thật
thể, năi chí thật bổn mạt cứu cánh đẳng”)
xuất phát từ Thập Như Thị của kinh Pháp Hoa.
Thập Như Thị là nói về Thật Tướng của
các pháp từ bản thể cho đến hiện tượng,
cho đến tác dụng đều được bao gồm
[trong mười món Như Thị ấy]. Thập Như Thị
cũng có các cách giảng sâu, cạn, rộng, hẹp khác
nhau, do căn tánh của mỗi người mỗi khác. Nhưng
trong kinh Pháp Hoa, chánh thuyết (điều được
giảng chủ yếu) đương nhiên là giáo nghĩa
Viên Giáo, Pháp Hoa thuần viên mà! Hoa Nghiêm là toàn viên, Pháp Hoa là
thuần viên, kinh điển Đại Thừa Viên Giáo chỉ
có hai bộ ấy. Nói theo giáo nghĩa Viên Giáo, hết thảy
các pháp đều là Phật pháp, chẳng có một pháp nào
không phải là Phật pháp.
Chúng
ta lại đọc phần tiếp theo. “Kư nhất thiết giai thật, thật ngoại vô
dư” (hết thảy đă đều là thật; nên
ngoài thật ra, chẳng có ǵ khác), ngoài chân thật ra, chẳng
có thứ ǵ khác nữa. “Phục
vân dư giai ma sự giả hà dă?” (lại nói “những
thứ khác đều là ma sự”, là v́ cớ nào?). V́ sao lại
nói những thứ khác đều là ma sự? Hết thảy
đều là chân thật, há có ma sự ǵ? Đấy là chỗ
đáng nghi vấn. Tiếp theo đó là lời giải
thích. “Ưng tri thử thuyết,
thị dĩ lư giản t́nh” (hăy nên biết: Nói như vậy
là dùng lư để phân biệt t́nh), hoàn toàn nói theo lư trí th́
phải là chân thật, trong hết thảy các pháp, chẳng
có một pháp nào chẳng phải là Phật pháp. “Nhược ly tâm duyên năng sở
đẳng tướng, danh vi Thật Tướng” (nếu
ĺa các tướng như tâm duyên, năng, sở v.v… th́ gọi
là Thật Tướng), đó là lư tánh thuần túy, trí huệ
thuần túy, dùng trí huệ để quán chiếu. “Giới nhĩ hữu tướng,
tức vi ma sự” (hễ có một tướng nhỏ
nhoi th́ chính là ma sự). “Những điều khác” vừa
nói trên đây chính là chỉ điều này! “Giới nhĩ” (介爾) là một mảy tơ tóc. Hễ
có mảy may chấp trước, bèn gọi là “ma sự”.
V́ thế, một mảy may cũng đừng nên chấp
trước. Ở chỗ này, quư vị nhất định
phải hiểu rơ ràng: Ly tướng hoặc chấp
trước đều từ trong nội tâm của chính
chúng ta. Trong tâm chớ nên chấp trước, tâm địa
phải thanh tịnh; nhưng xử sự, đăi người,
tiếp vật, điều ǵ đáng nên chấp trước
th́ vẫn phải chấp trước, chỗ đừng
nên chấp trước sẽ chẳng chấp trước,
đó là ứng dụng. Nội tâm thanh tịnh, ứng dụng
tự như. Ứng dụng là đối với người
khác, họ có chấp trước th́ chúng ta tùy thuận sự
chấp trước của họ mà chấp trước.
Họ chẳng chấp trước, chúng ta cũng có thể
tùy thuận sự chẳng chấp trước của họ
mà cũng không chấp trước. Như vậy th́ mới
có thể dung ḥa, tương tức với pháp thế gian,
mới có thể chung sống ḥa thuận, chẳng đến
nỗi đối lập pháp thế gian. [Nếu đối
lập] th́ sai mất rồi. Phật pháp thường gọi
điều này là: “Phật pháp tại
thế gian, bất hoại thế gian pháp” (Phật pháp
trong thế gian, chẳng hoại pháp thế gian).
Pháp
thế gian là ǵ? Pháp thế gian là phân biệt, chấp
trước, chúng ta trọn chẳng phá hoại nó. V́ người
thế gian có phân biệt, chấp trước, từ phân
biệt và chấp trước mà kiến lập trật tự
xă hội, giống như pháp luật, quan niệm đạo
đức, phong tục và tập quán trong thế gian đều
sanh từ phân biệt và chấp trước. Chúng đă có,
chúng ta là người thật sự giác ngộ, tâm địa
thanh tịnh, nhưng vào trong cảnh giới của họ
th́ cũng phải thuận theo thói tục, chẳng thể
không thuận theo thói tục. Chẳng thuận theo thói tục,
sẽ phá hoại h́nh tượng xă hội, họ sẽ
chẳng thể tiếp nhận, chẳng cho phép! V́ lẽ
đó, phải tùy thuận thế gian, trong mười
đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ
Tát có “hằng thuận chúng
sanh, tùy hỷ công đức”. Tùy hỷ, nhưng trong nội
tâm của chính ḿnh vẫn chẳng phân biệt, không chấp
trước, không khởi tâm, không động niệm, đó
là công đức. Bên ngoài vẫn phân biệt, chấp
trước giống như mọi người, nhưng
bên trong xác thực là chẳng có phân biệt, chấp trước.
Bên ngoài là tùy hỷ, bên trong là công đức; đó là
phương pháp tu học của Bồ Tát.
V́ lẽ
đó, phải chú ư “giới
nhĩ hữu tướng, tức vi ma sự” (hễ có
mảy may tướng th́ chính là ma sự) đang được
nói ở đây, “giới” (介) là mảy may. Nói
nghiêm ngặt, “mảy may” chính là Đẳng Giác Bồ Tát hăy
c̣n có đôi chút chưa thể buông xuống, đó là ma sự
của Ngài. Ma sự ấy chính là sanh tướng vô minh, [tức
là] một phẩm sanh tướng vô minh cuối cùng, huống
hồ những kẻ khác? V́ lẽ đó, Phật pháp chẳng
có ǵ khác, [chỉ là] phá sạch hết thảy phân biệt,
chấp trước mà thôi. Phá sạch hết thảy phân
biệt, chấp trước, chẳng phải là phá người
khác! Nếu quư vị phá người khác th́ trật mất
rồi. Phá chính ḿnh, chẳng dính dấp ǵ đến
người khác! Phá phân biệt và chấp trước của
chính ḿnh, khiến cho chính ḿnh được thật sự
giải thoát, đạt được trí huệ Bát Nhă chân
chánh và Pháp Thân thanh tịnh. Đích thực ĺa khỏi hết
thảy phân biệt, chấp trước th́ Pháp Thân, Bát Nhă,
Giải Thoát, quư vị thảy đều chứng đắc.
Tuy chứng đắc, chẳng hoại pháp thế gian,
cùng bất luận kẻ nào cũng đều có thể
đối xử hoan hỷ, v́ sao? Có thể hằng thuận
chúng sanh. Hằng thuận chúng sanh là đối xử hoan hỷ
với mọi người, quyết định chẳng
trái nghịch hết thảy chúng sanh. V́ Bồ Tát hiểu hết
thảy đều là giả, việc ǵ phải khắt
khe? Họ muốn như thế nào liền tùy thuận họ
là được rồi, chẳng cần phải riết
róng so đo, như vậy th́ mới có thể tùy hỷ, mới
có thể hằng thuận.
Chúng
ta cũng phải ghi nhớ hai câu kế tiếp nơi ḍng
thứ ba đếm từ dưới lên trong trang sáu
mươi hai, xem từ chữ cuối cùng. “Dĩ t́nh phân biệt, nhất
thiết giai tà, ly t́nh phân biệt, nhất thiết giai
chánh” (dùng t́nh để phân biệt, hết thảy
đều tà. Ĺa t́nh phân biệt, hết thảy đều
chánh), nay chúng ta gọi “t́nh”
là cảm t́nh. Thứ này rất phiền, người thế
gian coi nó rất nặng: Con người chẳng có t́nh cảm
th́ đáng sợ quá, như vậy là không được rồi!
Chúng ta thấy vấn đề này rất nghiêm trọng, chẳng
biết tất cả hết thảy phiền phức
đều do t́nh chiêu cảm. Phiền phức to lớn là
luân hồi sanh tử trong lục đạo. Nếu chẳng
có thứ này, thưa cùng chư vị, tất cả phiền
năo đều chẳng có, sanh tử luân hồi cũng chẳng
có. Nó chẳng phải là thứ tốt đẹp, cớ
sao lại coi trọng nó dường ấy, chẳng chịu
buông xuống. Có những kẻ chẳng hiểu rơ chân
tướng sự thật này, nghe nói đức Phật dạy
phải đoạn t́nh, bèn nẩy sanh một quan niệm
sai lầm: “Chớ nên học Phật, người học
Phật vô t́nh, biến thành phường ‘vô t́nh vô nghĩa’
như thế tục thường nói, chẳng thể học
Phật!” Thật ra, tôi thưa cùng chư vị, cái t́nh như
người thế gian chấp trước là giả t́nh,
giả ư. Chân t́nh của Phật, Bồ Tát là chân t́nh thật
ư. V́ sao? T́nh và trí là một thứ, đă mê bèn gọi là T́nh,
hễ giác ngộ th́ gọi là Trí. Thay đổi tên,
nhưng trên thực tế là cùng một chuyện. Trí là ǵ?
Trí là T́nh chân thật, vĩnh viễn không thay đổi.
Cái T́nh như quư vị vừa nói chính là Trí bị mê hoặc,
nên nó chẳng phải là thứ tốt đẹp.
Phật
pháp đặt cho nó một tên gọi, Phật pháp nói “từ
bi” th́ từ bi là lư trí. T́nh ái thế gian là mê hoặc,
điên đảo. Nói thật ra, từ bi và ái t́nh là cùng một
chuyện, làm sao có thể nói Phật vô t́nh? Phật mới
có cảm t́nh chân thật. Trước kia, khi tôi theo học
Triết với tiên sinh Phương Đông Mỹ, cụ
đă bảo tôi: “Một triết
gia là người có cảm t́nh phong phú nhất. Chẳng có
cảm t́nh sẽ không thể học triết học”. Lại
thưa cùng quư vị, chẳng có cảm t́nh chân thật sẽ
không thể thành Phật, không thể thành Bồ Tát, cùng một
đạo lư. Giả t́nh, giả ư chẳng thể học
Phật, học Phật phải là cảm t́nh chân thật.
Cảm t́nh chân thật, thay đổi tên gọi bèn thành “trí”.
V́ vậy, Trí và T́nh là một, chẳng hai, một đằng
giác, một đằng mê. Ở đây nói “dùng t́nh để phân biệt”, đó là mê t́nh. Dùng
t́nh chấp để phân biệt hết thảy các pháp th́
hết thảy các pháp đều tà. Rời ĺa mê t́nh, quư vị
phân biệt hết thảy các pháp, hết thảy các pháp
đều chánh, phải biết điều này.
Do vậy,
kế tiếp đó bèn nói: “Kim
giản t́nh thủ lư” (Nay loại riêng t́nh ra để
giữ lấy lư), “giản” (簡) là phân biệt,
là bỏ riêng ra. Mê t́nh là ǵ? Lư trí là ǵ? “Thị vi kinh Thể” (là Thể của kinh), đức
Phật nói kinh là do căn cứ trên đạo lư này để
nói. “Ưng tri Thật Tướng
toàn thể chiếu minh, xưng vi chân tâm, diệc danh Bổn
Giác. Giác thể biến cố, chư pháp giai thật”
(Hăy nên biết: Toàn thể Thật Tướng chiếu
sáng, được gọi là chân tâm, c̣n gọi là Bổn Giác.
Do giác thể trọn khắp, nên các pháp đều là thật),
mấy câu này dễ hiểu. Chân trí là chân tâm, là Bổn Giác.
Giác thể là tự tánh, là chân tâm. Chân tâm trọn khắp pháp
giới, hết thảy muôn tướng trong pháp giới
đều do chân tâm biến hiện; do đó, các pháp đều
là thật, chẳng có ǵ không phải là chân thật. Đă
giác ngộ th́ sẽ nói tương phản với kinh Kim
Cang: “Phàm những ǵ có tướng
đều là Thật Tướng”. Khi mê, quư vị có
t́nh chấp, “phàm những ǵ có
tướng đều là hư vọng”. T́nh chấp vừa
đoạn, phàm những ǵ có tướng đều là Thật
Tướng. Một niệm sai lệch, chân và vọng bèn
hiển lộ.
“Nhược chỉ kỳ yếu,
bất ly hiện tiền phân biệt chi niệm, niệm tức
Bổn Giác, giác tức kinh Thể. Vô biệt kinh Thể dĩ
vi sở thuyên, dĩ thử giác tâm, quán ư y chánh, năng
sở tức tuyệt, đăi đối tư vong, diệu
quán chi tông, tự tư nhi lập” (Nếu chỉ ra
điểm trọng yếu th́ chẳng ĺa cái niệm phân
biệt hiện tiền. Niệm chính là Bổn Giác, giác
chính là Thể của kinh. Chẳng có cái Thể của kinh
nào khác để diễn nói. Dùng ngay cái giác tâm này để
quán y báo và chánh báo, Năng và Sở liền dứt tuyệt,
đối đăi do đó bị mất. Tông chỉ Diệu
Quán từ đó mà thành lập). Không chỉ là cái Thể của
kinh này, mà Thể của hết thảy các kinh Đại
Thừa đều là như vậy. Hiểu đạo lư
này, chúng ta mới thật sự phát khởi tín tâm thanh tịnh
kiên cố đối với kinh Đại Thừa, hiểu
căn cứ lư luận của kinh Đại Thừa là
chân thật nhất. “Chỉ yếu”
(指要) là chỉ ra điều khẩn yếu
nhất, điều trọng yếu mấu chốt nhất,
nó chính là ư niệm hiện tiền của chúng ta. Mắt
chúng ta có thể thấy, tai có thể nghe, cái “có thể”, [tức
là] cái có thể thấy, có thể nghe chính là Bổn Giác, [thấy,
nghe] tức là chân tánh nơi tâm khởi tác dụng, chân tánh
khởi tác dụng có thể thấy và có thể nghe. Nếu
đối với thấy, nghe, hay, biết mà khởi phân
biệt và chấp trước, bèn là sai lầm. Do tùy thuận
chúng sanh, bèn dấy lên phân biệt, chấp trước,
nhưng chính ḿnh chẳng có phân biệt, chấp trước,
đó là Phật, Bồ Tát. Trong nội tâm của chính ḿnh
thật sự dấy lên phân biệt, chấp trước,
đó là phàm phu, là mê. Nội tâm thanh tịnh chẳng có phân
biệt, chấp trước, do tùy thuận chúng sanh mà phân
biệt, chấp trước, đó là đại từ
đại bi phổ độ chúng sanh. Đức Phật
nói kinh đă dựa trên nguyên lư ấy để nói.
Những
phần kế tiếp chúng ta có thể tỉnh lược.
Trong đoạn kế đó, nơi trang sáu mươi lăm,
có hai câu mà chúng ta nhất định phải ghi nhớ kỹ
lưỡng, hai câu ấy nằm trong ḍng thứ nhất của
trang sáu mươi lăm: “T́nh
tưởng phả vong, bản tánh nan hiển” (Nếu
chẳng quên t́nh tưởng, bản tánh sẽ khó hiển
lộ), có nghĩa là nếu chẳng vứt bỏ t́nh
tưởng, quư vị sẽ chẳng có cách nào kiến
tánh. Phải ghi nhớ kỹ càng hai câu ấy. Chúng ta học
Phật, nói theo phía người niệm Phật, v́ sao chúng
ta chưa thể đắc nhất tâm bất loạn? Chướng
ngại lớn nhất chính là hai chữ “t́nh tưởng”. T́nh quá nặng, suốt ngày từ
sáng đến tối suy nghĩ lung tung, làm sao có thể
đắc nhất tâm cho được? Tất cả hết
thảy các phương pháp tu hành, không ǵ chẳng nhằm
đoạn hết t́nh tưởng mà thôi, [để đạt
mục đích ấy] các tông, các phái, vô lượng pháp môn
có phương pháp và cách thức khác nhau. Trong Tịnh Độ,
nay chúng ta giữ lấy cách tŕ danh niệm Phật, dùng phương
pháp này để xóa sạch [t́nh tưởng]. Người
biết dụng công th́ t́nh tưởng vừa mới dấy
lên, ngay lập tức đổi nó thành Phật hiệu, chẳng
cho niệm ấy tiếp tục tăng trưởng,
đó gọi là “dụng công”. Một niệm khởi là mê, chế
phục niệm vừa dấy lên th́ là giác, giác nhằm
đối trị mê. Do đó, chẳng sợ mê. Cổ nhân
thường nói: “Chẳng sợ
niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”, quư vị phải
giác ngộ nhanh chóng, đừng để vọng tưởng
tiếp tục tăng trưởng! Vọng tưởng vừa
dấy lên, liền ngay lập tức cảm nhận, dùng
câu Phật hiệu để thay thế nó, biến vọng
niệm thành A Di Đà Phật, phải thay đổi nhanh
chóng! Phương pháp này nhằm khuất phục phiền
năo. Sử dụng công phu lâu ngày, tự nhiên t́nh tưởng
ít đi; khi nó tự nhiên ít đi, công phu bèn đắc lực,
tâm đă thanh tịnh, trí huệ bèn tăng trưởng.
Quư vị xử sự, đăi người, tiếp vật,
chẳng mê hoặc, điên đảo giống như
trước kia, nh́n sự việc cũng có thể thấy
rơ ràng, làm việc cũng chẳng thường làm sai
như trước kia, sai lầm ít đi. Đó là đạt
được lợi ích trong hiện tiền. Tâm phải
thanh tịnh, tâm thanh tịnh sẽ sanh trí huệ. Kinh Kim
Cang nói rất hay: “Tín tâm thanh tịnh,
tắc sanh Thật Tướng” (Tín tâm thanh tịnh bèn sanh
Thật Tướng), sanh Thật Tướng là sanh trí huệ,
là thấy chân tướng của hết thảy vạn
pháp. V́ vậy, hai câu này rất khẩn yếu!
Đoạn
kế tiếp nêu lên ư nghĩa thứ hai của Thể. “Thư gia giải, lễ giả,
huấn Thể dă. Thể hữu tôn, ty, trưởng, ấu.
Quân phụ chi thể tôn, thần tử chi thể tiện.
Đương tri Thể lễ chi thích, thị quư cực chi
pháp dă” (theo cách giải thích của các nhà chú giải kinh
sách Nho gia, Lễ nhằm giải thích Thể. Thể có tôn,
ty, lớn, bé. Thể của vua và cha là tôn quư, thể của
bầy tôi và con cái là kém cỏi hơn. Hăy nên biết: Dùng Lễ
để giải thích Thể th́ Thể là pháp tôn quư tột
bậc). Điểm quan trọng trong cách giải thích này nằm
trong câu cuối cùng: Thể là pháp tột bậc tôn quư. V́
sao? V́ hết thảy các pháp đều từ đây mà ra; nó
là mẫu thể (cái bản thể chánh yếu, cội nguồn);
tất cả hết thảy các
pháp đều được biến hiện từ
nó. Thể là Chân Như bản tánh; nói theo thuật ngữ
hiện đại, [Thể] là bản thể của vạn
hữu trong vũ trụ. V́ thế, dùng Lễ để giải
thích Thể, “huấn” (訓) là giải thích.
Lễ là tôn quư nhất, v́ nó nhấn mạnh tôn, ty, trên, dưới.
Trong chú giải, chúng ta xem từ hai chữ cuối trong
trang ấy: “Thể chỉ Pháp
Thân, chư Phật sở sư, vạn pháp triều hội.
Thể phi tu chứng, Lư tuyệt ngôn tư, dục sử
tiêu tâm, cưỡng xưng ‘quư cực’. Tư thị Bổn
Giác, phi tịch, phi chiếu, hựu thị Pháp Tánh, phi quảng,
phi thâm. Đệ Nhất Nghĩa danh vi bản tánh, Pháp Thân
đức dă” (Thể chỉ Pháp Thân, [Pháp Thân] là khuôn mẫu
để chư Phật noi theo, là chỗ để muôn
pháp hướng về. Thể chẳng do tu chứng [mà ḥng
đạt được], Lư dứt bặt ngôn từ, suy
nghĩ. V́ muốn nêu bày cái tâm, nên cưỡng gọi là
“tôn quư tột bậc”. Đó là Bổn Giác, chẳng phải
là tịch, chẳng phải là chiếu. Lại là Pháp Tánh,
chẳng rộng, chẳng sâu. Đệ Nhất Nghĩa
được gọi là bản tánh, là phẩm đức
của Pháp Thân), mấy câu này đă giảng rất rơ ràng. Thể
là ǵ? Là Pháp Thân. “Sư” là “sư phạm” (師範: khuôn mẫu
để noi theo, học theo), là tấm gương để
học tập theo. Chư Phật học theo ai? “Thuận Pháp Tánh”: Thuận theo
Pháp Tánh sẽ thành Phật. V́ thế, thuận theo Pháp Tánh
bèn có ư nghĩa “sư”, tức
là “sư pháp” (師法: noi
theo pháp), ư nghĩa này cũng đă được nói trên
đây. V́ lẽ đó, nó chính là Bổn Giác như kinh điển
đă nói, hoặc c̣n gọi là bản tánh, hay Pháp Tánh, rất
nhiều danh từ, trên thực tế đều là nói cùng
một chuyện. Tuy cùng nói về một chuyện,
nhưng danh từ khác nhau th́ ư nghĩa có khác biệt đôi
chút. V́ bản tánh là vạn đức vạn năng,
thường là một danh từ chẳng thể bao hàm toàn
thể đức năng của nó; v́ vậy, kiến lập
rất nhiều danh từ nhằm tỏ rơ nó có vô lượng
đức năng, có ư nghĩa này.
Cuối
cùng, sách viết: “Linh tu quán giả,
dĩ thử Thể đức, thể bỉ y chánh, nhất
nhất quư cực, thành diệu tông hỹ” (khiến cho
người tu quán do đức của
cái Thể ấy mà thấu hiểu y báo và chánh báo của
cơi kia mỗi mỗi đều tôn quư tột bậc, nên
thành diệu tông). Người học Phật nhất định
phải biết căn cứ lư luận để
đức Phật thuyết pháp là Chân Như bản tánh. Đă
biết căn cứ lư luận ấy, sau đó, dựa
trên nguyên lư ấy để nh́n tất cả hết thảy
các pháp, hết thảy các pháp đều là Tánh Đức, chúng
ta mới có thể thực hiện “lễ kính chư Phật” trong mười nguyện
Phổ Hiền. V́ sao? Sự lễ kính của Phổ Hiền
được kiến lập trên quan niệm thanh tịnh
b́nh đẳng, quan niệm thanh tịnh b́nh đẳng ấy
do đâu mà có? Do quư vị thật sự biết Thật
Tướng của các pháp, nên nó tự nhiên hiện tiền.
V́ nó là Tánh Đức, chẳng phải là Tu Đức, cậy
vào tu tập sẽ tu chẳng được, nhất
định là kiến tánh th́ nó sẽ tự nhiên hiện tiền.
Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo phá một phẩm vô minh,
thấy một phần chân tánh, nên kể từ Sơ Trụ
trong Viên Giáo trở đi, những điều tu hành của
bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại
sĩ được gọi là Phổ Hiền Hạnh. Phổ
Hiền Hạnh được quy nạp thành cương
lănh gồm mười đại nguyện vương, đó
là pháp tu của bốn mươi mốt địa vị
Pháp Thân đại sĩ, mà cũng là pháp tu của các vị
Bồ Tát trong Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Trong thế giới Tây Phương, từ hạ hạ phẩm
văng sanh cho đến thượng thượng phẩm thảy
đều tu mười nguyện Phổ Hiền, từ
kinh Vô Lượng Thọ chúng ta đă thấy điều này.
Đoạn
tiếp theo là giải thích Thể bằng cách dùng ư nghĩa
“để” (底). Chúng ta xem lời
Sớ. “Phục thứ, Thể
thị Để dă, cùng nguyên cực để, lư tận
uyên phủ, cứu sướng Thật Tế, năi danh vi
Để. Thích Luận vân, trí độ đại hải
duy Phật cùng để. Cố dĩ Để thích Thể
dă” (Lại nữa, Thể là đáy. Tột cùng nguồn,
thấu tận đáy, lư tột cùng chỗ sâu thẳm, thấu
đạt rốt ráo Thật Tế, nên gọi là Đáy.
Thích Luận viết: “Biển cả trí độ chỉ
có Phật thấu tột tận đáy”, nên dùng chữ Đáy
để giải thích Thể). Để là ǵ? Tục ngữ
Trung Hoa có câu: “Đả phá sa
oa vấn đáo để” (đập vỡ cái nồi
bằng đất nung để t́m tận đáy)[4], đó
là căn nguyên, xét tận nguồn, truy tận đáy. Nói
cách khác, [Để] là căn nguyên của vạn hữu
trong vũ trụ. Căn nguyên vẫn là Pháp Tánh, vẫn là bản
tánh, cho nên nó có ư nghĩa là “đáy”, t́m thấu tột nguồn
tận đáy chính là thật sự đạt đến tận
cội nguồn. Kinh nói rất hay: “Duy Phật dữ Phật cứu cánh cùng để”
(Chỉ có Phật và Phật là thấu đạt rốt
ráo tận nguồn cội), triệt để hiểu rơ, chẳng
có mảy may nghi hoặc. Nói cách khác, Đẳng Giác Bồ
Tát vẫn chưa rốt ráo, vẫn thua kém một chút. Ắt
phải thấu đạt rốt ráo tận đáy th́ mới
là thật sự hiểu rơ, thông đạt vạn pháp trong
vũ trụ. “Đạt”
có nghĩa là thấu hiểu đến tột cùng sâu thẳm.
V́ thế, Tây Phương Cực Lạc thế giới bất
luận là xét về lư luận, phương pháp hay cảnh
giới, thảy đều chưa hề được
nói trong tất cả hết thảy các kinh Đại Thừa.
Đúng là rất khó khiến cho kẻ khác tin tưởng,
v́ lư ấy quá sâu, một mực thấu tận đáy. Đẳng
Giác Bồ Tát mà c̣n chưa hiểu rơ rệt cho lắm, quư vị
nói xem: Làm sao có thể khiến cho người ta tin tưởng?
“Khó tin” th́ chẳng phải
là phàm nhân than “khó tin”, mà là lời cảm thán “khó tin” của
mười phương chư Phật! Chư Phật nói “khó
tin”, chẳng phải là nói chính các Ngài khó tin, mà là nói những
kẻ ngoài các Ngài ra: Từ Đẳng Giác trở xuống
[đều cảm thấy pháp môn Tịnh Độ] khó
tin, thật đấy! Đẳng Giác Bồ Tát không tin
pháp môn này rất nhiều! Nếu Ngài tin tưởng th́
đă văng sanh Tịnh Độ. C̣n chưa văng sanh Tịnh
Độ, tức là hoàn toàn chẳng tin. V́ thế, đây
là pháp khó tin!
Nhưng
[pháp môn này] tu hành rất dễ dàng, khó tin, dễ hành, [kẻ
thấy khó tin là v́] chưa thể thấu hiểu tột
cùng cội nguồn. V́ lẽ đó, người b́nh phàm tiếp
xúc pháp môn này mà có thể tin tưởng sâu đậm, chẳng
nghi ngờ, chúng ta cũng chẳng biết do duyên cớ nào!
Nếu đức Phật không dạy trong kinh Vô Lượng
Thọ, làm sao chúng ta có thể hiểu được? Đức
Phật nói: Người ấy trong vô lượng kiếp
thời quá khứ đă từng cúng dường vô lượng
vô biên chư Phật Như Lai, thiện căn sâu dầy
dường ấy, tiếp xúc pháp môn này bèn có thể tin
tưởng, có thể phát nguyện. Đó là do thiện
căn, phước đức, và nhân duyên trong quá khứ của
người ấy chín muồi, nay lại được
mười phương chư Phật, Bồ Tát âm thầm
gia tŕ, thành tựu Tín, Nguyện, Hạnh trong đời này
cho người ấy, nên đời này, người ấy
văng sanh thành Phật, khó lắm! Kinh có nhắc tới
vương tử A Xà (tức A Xà Thế). Vương tử
A Xà trong đời quá khứ từng cúng dường bốn
trăm ức Phật, [thế mà] gặp pháp môn này chỉ phát
một nguyện, hy vọng trong tương lai, “tôi thành Phật
giống như A Di Đà Phật”, vẫn chẳng phát nguyện
niệm Phật văng sanh. Phát một nguyện như thế,
trong đời này có thể văng sanh hay không? Vẫn là chẳng
nhất định, v́ ông ta chẳng phát nguyện tu hành, mới
biết cúng dường bốn trăm ức Phật là “ít
thiện căn”, cúng dường vô lượng vô biên
chư Phật Như Lai mới là nhiều thiện căn,
nhiều phước đức. Nay chúng ta gặp pháp môn
này mà không tin, chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên! Gặp pháp
môn này mà tin tưởng th́ mới đúng là đáng ngạc
nhiên! Người ấy (người vừa nghe pháp môn bèn
tin tưởng, phát nguyện, tu tŕ) trong đời quá khứ
giống như đức Phật đă nói: Từng cúng
dường vô lượng vô biên Như Lai.
Chúng ta đọc mấy câu tiếp
theo. Nơi trang sáu mươi bảy, ḍng thứ hai, xem từ
cuối trang: “Kim viên nhân”
(nay người căn cơ viên đốn); nói thật ra,
“viên nhân” là người nhiều
thiện căn, nhiều phước đức. Nếu chẳng
phải là người nhiều thiện căn, lắm
phước đức, chẳng thể nào là căn tánh viên
đốn! V́ Tịnh Độ Tông là “viên nhất trong các pháp viên, đốn nhất trong
các pháp đốn, chuyên nhất trong các pháp chuyên”, cổ
đại đức tán thán như vậy. Chẳng phải
là người căn tánh viên đốn, đích xác là rất
khó thọ tŕ! “Tùng Danh Tự Tức,
dĩ tín giải tâm cùng Trí Độ để, năi chí duy Phật
dữ Phật, cứu cánh cùng để, dĩ thử Để
nghĩa, thích ư kinh thể” (Từ địa vị
Danh Tự Tức, dùng tâm tín giải thấu đạt tận
đáy Trí Độ, cho đến chỉ có Phật và Phật
thấu đạt rốt ráo tận đáy. Dùng cái nghĩa
“đáy” ấy để giải thích cái Thể của
kinh). Đây là nói thiện căn, phước đức,
và nhân duyên trong Viên Giáo vô cùng sâu dầy, đúng như kinh Di
Đà đă nói: “Bất khả
dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân
duyên đắc sanh bỉ quốc” (chẳng thể dùng
chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để
sanh về cơi ấy), [phải là] nhiều thiện căn,
nhiều phước đức, nhiều nhân duyên! V́ vậy,
người ấy vừa tiếp xúc pháp môn này, vừa tiếp
xúc là Danh Tự Phật. Gọi là Danh Tự v́ nghe nói pháp
môn này bèn nghe hiểu, đă nghe hiểu bèn tin tưởng,
phát nguyện, chịu nghiêm túc niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ, đó là một loại. Loại người này
tuy trí chưa thể rốt ráo thấu đạt đến
tận đáy giống như chư Phật, nhưng
cũng chẳng sai biệt cho mấy, [v́] người ấy
chẳng hoài nghi mà! Chư Phật do thấu hiểu rốt
ráo tận đáy, nên chẳng hoài nghi bất cứ chuyện
ǵ, c̣n những người ấy tuy chẳng thấu đạt
tận cùng, nhưng vẫn chẳng hoài nghi, nên cũng chẳng
sai biệt cho mấy, trong một đời này, người
ấy quyết định có thể thành tựu. Đây là
dạy người tu hành biết độ sâu của pháp
môn này; chỉ cần chúng ta tin sâu, nguyện thiết, tuy
chưa đạt đến độ sâu ấy, nhưng
đă tương ứng với độ sâu ấy, công
đức lợi ích liền tự đạt được
từng phần.
Tiếp
đó là ư nghĩa của chữ Đạt. “Đạt” là thông đạt,
hiểu rơ, đó là đoạn thứ ba. “Phục thứ, Thể thị đạt nghĩa” (Lại
nữa, Thể có nghĩa là đạt). Đạt (達) là thông đạt,
“đắc thử Thể ư,
thông đạt vô ủng” (hiểu ư nghĩa này của
Thể, nên thông đạt, không có chướng ngại). “Ủng” (壅) là chướng
ngại, là trở ngại. [“Vô
ủng” là] chẳng có chướng ngại, thông đạt
vô ngại. “Như phong hành không
trung, tự tại vô chướng ngại, nhất thiết
dị danh biệt thuyết, giai dữ Thật Tướng bất tương vi bội.
Thích Luận vân: “Bát Nhă thị nhất pháp, Phật thuyết
chủng chủng danh, cố dĩ thể đạt thích
kinh thể dă” (như gió lùa trong hư không, tự tại,
chẳng chướng ngại. Hết thảy các tên gọi
khác hay cách nói khác đều chẳng mâu thuẫn Thật
Tướng. Thích Luận giảng: “Bát Nhă là một pháp,
nhưng Phật nói ra các thứ tên gọi [khác nhau]”, nên dùng
việc thông đạt Thể để giải thích Thể
của kinh). Nói thật ra, chẳng có trí huệ th́ làm sao có
thể thông đạt hết thảy các pháp? Chỉ có chân
trí hiện tiền th́ mới thông đạt hết thảy
vô ngại. Do lẽ đó, “đạt”
cũng là Tánh Đức, đặc biệt phơi bày trí
huệ trong Tánh Đức. Đó là giải thích ba ư
nghĩa của Thể.
Cuối
đoạn này có một câu, chúng ta phải ghi nhớ. Xem từ
chữ thứ ba trong ḍng thứ nhất của trang sáu
mươi tám. “Nhược thức
thử Thể, tắc ư chư pháp thông đạt tự
tại, phục ư thế gian cập xuất thế gian
nhất thiết dị danh, nhất trung giải đa,
đa trung giải nhất” (Nếu biết Thể này, sẽ
thông đạt tự tại nơi các pháp. Lại c̣n đối
với hết thảy các tên gọi khác nhau của pháp thế
gian và xuất thế gian, sẽ từ một mà hiểu
nhiều, từ nhiều mà hiểu một). Chúng ta đọc
đến chỗ này là được rồi, đây là một
câu vô cùng quan trọng. Then chốt ở ngay chữ “Nhất”, Thiền Tông cũng
nói “nhất”. Nếu đạt
được “nhất”, sẽ
đạt được hết thảy. “Nhất” là nhất tâm. Nhất chẳng phải
là một con số, bất đắc dĩ cưỡng gọi
là Nhất. Phương pháp của Tịnh Độ Tông trực
tiếp, tu ǵ? Tu nhất tâm bất loạn, “nhất” ở đây là nhất tâm. Chỉ cần
đạt đến nhất tâm, tự nhiên thông đạt
hết thảy các pháp, pháp thế gian và xuất thế gian
thảy đều thông đạt. Nay nói với kẻ
sơ học, họ sẽ chẳng tin tưởng. V́ thế,
bảo họ học một bộ kinh, họ chẳng cam
ḷng, chẳng bằng ḷng, vừa bắt đầu bèn kinh
luận ǵ cũng đều muốn học, học đạt
được hiệu quả ǵ? Thứ ǵ cũng chẳng
thông, thứ ǵ cũng chẳng đạt! V́ sao? Kẻ ấy
chẳng thể tu nhất tâm, tâm tán loạn, học tạp
loạn, vĩnh viễn chẳng thể thông đạt. Dạy
học vào thời cổ kỵ nhất chuyện này.
Người hiện thời có quan niệm chẳng giống
tiền nhân, đó là nỗi bất hạnh của chúng ta.
Hiện thời, người Hoa chịu khổ nạn to lớn
dường ấy, vẫn phải tiếp tục hứng
chịu nỗi khổ nạn ấy, vẫn chưa hứng
chịu xong! Khi nào người Hoa mới chẳng hứng
chịu khổ nạn? Đến khi nào người Hoa thật
sự giác ngộ, lại đọc sách của Khổng
lăo phu tử, lại sử dụng phương pháp học
tập của cổ nhân, người Hoa sẽ không mắc
nạn. Chúng ta vứt bỏ những cái của chính ḿnh, học
theo ngoại quốc, ngoại quốc hoàn toàn chẳng hay!
Nếu quư vị thường sang các nước trên thế
giới, tôi đến rất nhiều nơi, thấy họ
chẳng hay bằng Trung Quốc, thua kém chúng ta rất xa! V́
thế, nay tôi sang ngoại quốc, dạy người ngoại
quốc đọc sách Khổng Tử, học theo
phương pháp cổ xưa của Trung Quốc th́ bọn
họ mới có thể đạt được hạnh
phúc thật sự. Không đọc sách cổ sẽ không
được!
Trong
phương pháp xa xưa, Nho và Phật dạy chúng ta dốc
sức nơi nhất tâm. Trẻ nhỏ học tập,
chưa hề nghe nói có chuyện học hai thứ cùng một
lúc. Chẳng có! Muốn học đồng thời đôi
ba thứ, thầy sẽ chẳng dạy, không nhận quư vị
làm học tṛ. Học tṛ hiện thời th́ sao? Ông không cho
tôi học tám thứ, mười thứ, tôi không theo ông học
nữa! C̣n có cách nào nữa? V́ thế, hiện thời thầy
chẳng t́m ra tṛ, mà tṛ cũng chẳng t́m thấy thầy!
Trong quá khứ, tôi ở chỗ thầy Lư, thầy Lư theo
đúng quy củ, học kinh chỉ có thể học một
bộ. Học hai bộ chắc chắn là chuyện không thể
được, thầy nhất định chẳng dạy
quư vị! Tôi ở Đài Trung mười năm, chỉ học
năm bộ kinh. Hiện thời, quư vị học trong Phật
Học Viện, một năm không chỉ học năm bộ,
tôi mười năm mới học năm bộ. Tiêu chuẩn
của thầy Lư c̣n khoan dung hơn cổ nhân rất nhiều,
chẳng nghiêm ngặt như cổ nhân, nên chúng tôi đạt
được lợi ích cũng thua kém tổ sư đại
đức xưa kia, do nghiêm khắc chẳng đủ mức
mà! Nhưng nếu thầy nghiêm ngặt, chúng tôi sẽ bỏ
đi hết, chẳng thể theo học với thầy. Cũng
là v́ thầy nh́n thấy căn tánh của chúng tôi, chẳng
có cách nào, nếu thầy nghiêm ngặt, chắc chắn chúng
tôi sẽ bỏ đi hết. Theo học với thầy mà
có lúc trong tâm chẳng phục, cảm thấy thầy ngang
bướng, chuyên chế, không đếm xỉa lư lẽ!
Thật ra, thầy đúng là hợp lư, lời thầy nói
là chánh lư, nhưng chúng tôi ngỡ là ngụy biện, vẫn
là do chúng tôi suy nghĩ sai quấy, chứ thầy chẳng
sai trái! Măi tới sau này, chúng tôi mới tự ḿnh giác ngộ:
Thầy [dạy bảo theo kiểu ấy là] chánh xác, lại
c̣n cảm thấy thầy chưa nghiêm khắc đủ mức.
V́ vậy,
học ǵ th́ cũng nhất định là “thâm nhập một môn”, quyết định chẳng
thể học hai môn, [học đồng thời] hai môn là
điều kỵ húy rất lớn. Quư vị thấy trong
chú sớ của tổ sư, trong kinh luận của
chư Phật, đều nói giống như nhau: “Nhất trung giải đa,
đa trung giải nhất” (trong một hiểu nhiều,
trong nhiều hiểu một), nhất định phải
huấn luyện từ phương pháp cơ bản. Nhất
định là trước hết cầu Căn Bản Trí,
Căn Bản Trí là vô tri, Bát Nhă vô tri. Trước hết tu
vô tri rồi sau đó mới lại tu “không ǵ chẳng biết”, nên vừa bắt đầu
học tập, chớ nên đọc hết thảy các kinh
luận. Người hiện thời hoàn toàn tương phản
với cổ nhân, hiện thời là vừa dụng công bèn
đọc rất nhiều kinh luận, học ǵ vậy? Học
“không ǵ chẳng biết”. Kết
quả là học suốt đời, đúng là cái ǵ cũng
chẳng biết! Nói thật ra, chuyện này hoàn toàn trái nghịch
giáo huấn của đức Phật. Đức Phật
dạy chúng ta: Theo thứ tự, trước hết là
đoạn phiền năo, sau đấy sẽ học pháp
môn. Tứ Hoằng Thệ Nguyện đă chỉ dạy
tŕnh tự ấy. Thứ nhất là quư vị phải phát
nguyện, “chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ”. Quư vị phải phát đại
nguyện ấy, bỏ ḿnh v́ người khác, v́ Phật
giáo, v́ chúng sanh. Thực hiện từ chỗ nào? Trước
hết là đoạn phiền năo, “phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”.
Sau khi đoạn hết phiền năo, sẽ lại là “pháp môn vô lượng thệ nguyện
học”.
Chẳng
hề nói chưa đoạn phiền năo mà đă học
pháp môn. Chưa đoạn phiền năo mà học pháp môn, sẽ
giống như trong phần trước đă nói: Đều
là tà tri tà kiến, đều là ma sự. V́ sao? Trong tâm quư vị
c̣n có một tí chưa buông xuống được, c̣n có
t́nh chấp. Chỉ cần có t́nh chấp, những ǵ quư vị
đă học đều là ma sự. Trong phần giảng về
tựa đề kinh của tác phẩm chú giải kinh Hoa
Nghiêm, Thanh Lương đại sư đă nói: Chẳng
đoạn phiền năo mà muốn học pháp môn th́ đều
là tà tri tà kiến, tăng trưởng tà kiến. Chẳng
đoạn phiền năo và cũng chẳng học pháp môn, Thanh
Lương đại sư bảo là tăng trưởng
vô minh. Chẳng đoạn phiền năo mà học hết thảy
các pháp môn là tăng trưởng tà kiến, quư vị liền
biết: Đoạn phiền năo rất trọng yếu. Phiền
năo là chướng ngại, trước hết, phải xóa
bỏ chướng ngại. Sau khi đă xóa trừ chướng
ngại, sẽ học pháp môn rất nhanh. Vừa thấy, vừa
nghe, liền lập tức thông đạt. Giống như
Lục Tổ đại sư tâm địa thanh tịnh, Ngài
chưa hề nghe, chưa hề đọc kinh Pháp Hoa. Thiền
sư Pháp Đạt niệm ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa, nhưng
chẳng hiểu nghĩa kinh Pháp Hoa. Lục Tổ bảo:
“Ông hăy niệm kinh Pháp Hoa cho ta nghe xem nào!” Sư chỉ niệm
đến phẩm thứ hai. Kinh Pháp Hoa có hai mươi
tám phẩm, Sư chỉ niệm đến phẩm thứ
hai là phẩm Phương Tiện, Lục Tổ đại
sư bảo: “Được rồi! Chẳng cần niệm
nữa, ta đều biết trọn vẹn”, giảng giải
cho Sư. Quư vị hăy nghĩ xem, đó là đă đạt nhất
tâm liền thông đạt hết thảy các pháp, há cần
phải xem hết cả bộ kinh! Vừa xem một chút,
liền hiểu rơ toàn bộ, thông đạt toàn bộ.
V́ vậy,
hiện thời mọi người chẳng tu từ căn
bản, mà tu nơi cành lá, vĩnh viễn chẳng tu thành tựu.
Chúng tôi nói lời thật với họ, họ trách tôi lừa
gạt họ, c̣n vặn hỏi ngược lại: “Chẳng
phải là trước kia thầy cũng học rất nhiều
đó sao?” Lại c̣n nói tôi lừa họ, nói tôi đố kỵ,
sợ trong tương lai, họ học thành công vượt
trỗi tôi! Quư vị nói có oan uổng hay không! Những
điều tôi học trước kia, thưa cùng chư vị,
là tu mù luyện đui. Tu luyện nhiều năm ngần ấy,
đến nay mới t́m được đường.
Tôi nói lời thật cùng quư vị, quư vị muốn học
theo kiểu của tôi xưa kia, học ba mươi
năm chưa chắc đă được như tôi, tôi
dám nói như thế. Nay nếu quư vị nghe lời tôi, chẳng
cần ba mươi năm, mà sau mười năm, nhất
định quư vị vượt trỗi tôi. Tôi mong quư vị
vượt trỗi tôi, v́ sao? Vượt trỗi tôi th́ Phật
pháp mới có tiền đồ, chúng sanh mới có hy vọng,
chứ đều giống như tôi th́ thôi rồi! Tôi hy vọng
sau này các vị đều có thể vượt trỗi tôi, nhưng quư vị chẳng nghe tôi
khuyến cáo, chẳng có cách nào! Chúng tôi thường nói:
Người thế gian hiện thời nhận giả, chẳng
nhận thật, nghe lừa, chẳng nghe khuyên. Nếu
tôi lừa quư vị, [sẽ bảo]: “Quư vị kinh luận
ǵ cũng đều phải nghiên cứu. Chẳng nghiên cứu
sẽ không thể thành tựu!” Họ sẽ tin tưởng.
Tôi bảo: “Quư vị thứ ǵ cũng đừng nghiên cứu,
mỗi ngày niệm một quyển sách, cũng chẳng đ̣i
hỏi phải hiểu nghĩa”, họ chẳng tin tưởng!
Vậy là chẳng có cách nào, nói thật th́ họ chẳng
tin. Được rồi, chúng tôi giới thiệu phần
Biện Thể đến đây!
Quán Vô
Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần
3 hết
[1] “Hành, loại, tướng mạo” là
cách phân chia chúng sanh trên hai phương diện tâm thức
và sắc thân theo cách diễn giảng trong Đại Trí
Độ Luận. Hành là ư hành (có thể hiểu thô
thiển là tâm tư, ư tưởng, quan niệm, yêu ghét, ư
niệm… của chúng sanh). Loại là chủng loại,
“tướng mạo” là h́nh dáng.
[2] Phục đoạn: Chế ngự không
cho phiền năo dấy lên, nhưng chưa hoàn toàn
đoạn trừ.
[3] “Mười
pháp” ở đây chính là Thập Như Thị
được nói trong kinh Pháp Hoa (phẩm Phương
Tiện). Mười món Như Thị chính là Như Thị
Tướng, Như Thị Tánh, Như Thị Thể,
Như Thị Lực, Như Thị Tác, Như Thị Nhân,
Như Thị Duyên, Như Thị Quả, Như Thị Báo,
Như Thị Bổn Mạt Cứu Cánh. Như Thị chính
là đặc tánh của Thật Tướng, nên
tương ứng với mười món Như Thị mà
nói Thật Tánh, Thật Thể v.v…
[4] Đây là một câu tục ngữ (打破砂鍋問到底) nhằm chỉ thái độ kiên
quyết truy t́m ư nghĩa hoặc căn nguyên của
một vấn đề đến tột cùng, không khoan
nhượng, không bằng ḷng với những giải thích
hời hợt, nông cạn. Hiểu theo nghĩa rộng,
tục ngữ này cũng được dùng để phê
phán thái độ cố chấp cứ khăng khăng
muốn biết một điều ǵ đó.