Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa
Phần 6
觀無量壽佛經疏鈔演義
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Thời gian: Khởi
giảng từ ngày 01 tháng 12 năm 1990
Địa
điểm: Hoa Tạng Đồ Thư Quán, huyện Cảnh
Mỹ, Đài Loan
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh:
Minh Tiến, Đức Phong và Huệ Trang
Tập
21
Xin mở kinh bổn, trang một trăm
ba mươi bảy, ḍng thứ hai từ dưới
đếm lên. Thời gian trôi qua rất nhanh, ngày mai chúng tôi
sẽ giảng viên măn; do vậy, hôm nay phải tăng nhanh
tốc độ. Nói thật ra, đạo tràng chúng ta là
đạo tràng giảng kinh lâu dài, nhất là chuyên giảng
Tịnh Tông, có nhiều chỗ đọc qua là đă có
thể hiểu rơ. Nếu ở những nơi khác th́
cần phải nói tỉ mỉ, ở đây, chúng ta có
thể tham khảo kinh Vô Lượng Thọ, hoặc tham khảo sách Di
Đà Kinh Sớ Sao, ư nghĩa đại khái chẳng sai biệt
cho mấy.
Trong
ḍng này, phải đặc biệt giới thiệu Vô Sanh
Pháp Nhẫn cùng quư vị. Nói thật ra, Vô Sanh Pháp Nhẫn
quan trọng nhất là chữ Nhẫn. Đức Phật
thuyết pháp có vô lượng phương tiện thiện
xảo. Trong kinh Nhân Vương, Ngài đă chia các địa
vị Bồ Tát thành năm loại lớn; năm loại
lớn ấy đều dùng Nhẫn để biểu thị.
Do vậy có thể biết, Nhẫn quả thật hết
sức trọng yếu. Từ kinh Kim Cang, chúng ta thấy
cương lănh tu học của Bồ Tát gồm có sáu
điều, tức là Lục Độ. Kinh Kim Cang đặc
biệt nhấn mạnh Bố Thí và Nhẫn Nhục trong Lục
Độ. Quư vị thấy bốn điều kia
được nói rất ít, c̣n Bố Thí được
nói rất nhiều, Nhẫn Nhục cũng được
nói rất nhiều! Do vậy có thể biết, quan trọng
nhất trong sáu đại cương ấy chính là Bố
Thí và Nhẫn. Bố Thí là buông xuống. Nếu không buông xuống
được, sẽ chẳng thể nhẫn. Chẳng thể
nhẫn, sẽ không buông xuống được! Đây là
đạo lư nhất định, có mối quan hệ nhân
quả hỗ tương.
Ngũ
Nhẫn theo kinh Nhân Vương là: Thứ nhất là Phục
Nhẫn, thứ hai là Tín Nhẫn, thứ ba là Thuận Nhẫn,
thứ tư là Vô Sanh Nhẫn, thứ năm là Tịch Diệt
Nhẫn. Đem Ngũ Nhẫn trong kinh Nhân Vương phối
hợp với Thập Địa Bồ Tát th́ Phục Nhẫn
là địa vị Tam Hiền (Thập Trụ, Thập Hạnh,
Thập Hồi Hướng); Tín Nhẫn là Sơ Địa,
Nhị Địa, Tam Địa; c̣n Tứ Địa,
Ngũ Địa, Lục Địa là Thuận Nhẫn; Thất
Địa, Bát Địa, Cửu Địa là Vô Sanh Nhẫn;
Thập Địa và Đẳng Giác là Tịch Diệt Nhẫn.
Tiêu chuẩn của chữ Tín cũng rất cao, quả thật
là hễ thật sự nói đến hàng Bồ Tát th́ phải
nên có tiêu chuẩn cao như vậy! Chưa nhập Sơ
Địa, vẫn chưa thể nói là tin Phật nghiêm túc
được! Nhưng kinh Nhân Vương nói theo Biệt
Giáo, chẳng nói theo Viên Giáo. Sơ Địa trong Biệt
Giáo chính là Sơ Trụ trong Viên Giáo. V́ thế, ḍng thứ
nhất ở đây (trong trang một trăm ba mươi tám) là: “Sớ vân, Vô
Sanh Pháp Nhẫn, thị Sơ Trụ Sơ Địa” (Sớ rằng:
Vô Sanh Pháp Nhẫn là Sơ Trụ hay Sơ Địa).
Sơ Trụ Bồ Tát là nói theo Viên Giáo, c̣n Sơ Địa
là nói theo Biệt Giáo, phá một phẩm vô minh, chứng một
phần Pháp Thân, khi ấy mới có thể gọi là Vô Sanh
Pháp Nhẫn. Nhưng nếu nói nghiêm ngặt th́ vẫn chưa
được, kinh Nhân Vương nói tương đối
nghiêm ngặt. Nói [thật sự] nghiêm ngặt th́ Thất
Địa Bồ Tát chứng hạ phẩm Vô Sanh Nhẫn,
Bát Địa là trung phẩm Vô Sanh Nhẫn, Cửu Địa
là thượng phẩm Vô Sanh Nhẫn, đó là nói theo sự
chứng đắc chánh thức. Do vậy có thể biết,
Vô Sanh Nhẫn do Sơ Trụ hay Sơ Địa chứng
đắc chính là Tương Tự Vô Sanh Nhẫn, v́ sao?
Các Ngài [thật sự] là Tín Nhẫn hay Thuận Nhẫn,
tương tự mà thôi! Phục Nhẫn càng khỏi phải
bàn tới, “phục” (伏) là ǵ? Chế phục phiền năo. Nói theo Tịnh
Tông, giai đoạn “phục
phiền năo” là công phu thành phiến, Tín Nhẫn mới là
Sự nhất tâm bất loạn, đạt đến Vô
Sanh Nhẫn sẽ là Lư nhất tâm bất loạn. Tín Nhẫn
và Thuận Nhẫn đều là Sự nhất tâm. Trong Sự
nhất tâm, có mức độ cạn hay sâu khác nhau. Lư nhất
tâm là Vô Sanh Nhẫn và Tịch Diệt Nhẫn, [hai loại
Nhẫn này] đều thuộc loại Lư nhất tâm,
nhưng Tịch Diệt Nhẫn là công phu Lư nhất tâm sâu,
c̣n Vô Sanh Nhẫn công phu Lư nhất tâm khá cạn. [Do vậy],
đặc biệt coi trọng chữ Nhẫn.
Kinh Kim Cang dạy chúng ta: “Nhất thiết pháp đắc
thành ư Nhẫn” (Hết thảy các pháp đều do
Nhẫn mà thành tựu). Pháp thế gian và xuất thế
gian nếu chẳng thể nhẫn nại, sẽ chẳng
thể thành tựu, có thể thấy Nhẫn Nhục Ba La
Mật trong Lục Độ là then chốt của sự
thành bại. Nhẫn th́ mới có thể có tinh tấn, tinh
tấn th́ mới có thể đắc Định. Nếu
nói theo Tịnh Độ Tông, Định là nhất tâm bất
loạn, là tâm thanh tịnh. Đă đắc định,
trí huệ mới mở mang, nên nhẫn nhục quả thật
là then chốt. Ví như nay chúng ta nói đến chuyện tu
học, tu học trong thời cổ và hiện thời khác
nhau. Tu học thời cổ luôn luôn là thâm nhập một
môn. Phải nhẫn nơi một môn, những pháp môn khác ta
tạm thời đều phải buông xuống hết, hết
thảy các kinh luận ta chẳng thể xem, mà cũng chẳng
thể nghe giảng, ta chỉ rất ngoan ngoăn học một
môn, điều này đ̣i hỏi phải nhẫn! Thâm nhập
một môn, một môn sẽ tinh (chuyên ṛng), nhiều môn chẳng
tinh. Tấn trong nhiều môn th́ gọi là Tạp Tấn, chẳng
phải là Tinh Tấn. Tạp Tấn sẽ khó đắc
Định. Nói cách khác, khó đắc tâm thanh tịnh! Tinh Tấn
sẽ dễ đắc tâm thanh tịnh. V́ vậy, từ
xưa, tổ sư đại đức tạo lập
môn đ́nh sai khác, thường ca ngợi pháp môn của
chính ḿnh, chê bai, hạ thấp các pháp môn khác. Đó là một
phương thức quyền xảo, tuyệt đối
chẳng phải là khinh thường các pháp môn khác. Nếu
[người đọc, người nghe] có sự phân biệt,
chấp trước ấy th́ sai mất rồi. Các Ngài dùng
phương pháp ấy để cường điệu,
nhằm tăng cường tín tâm của kẻ mới học.
Tham Thiền th́ từ Thiền thâm nhập một môn, chẳng
thể vừa học Giáo, vừa niệm Phật. V́ sao?
Như vậy th́ sẽ biến thành tạp. Người niệm
Phật cũng chẳng thể học Giáo, cũng chẳng
thể tham Thiền. Nói chung, pháp môn nhất định là một
môn th́ mới có thể thâm nhập.
Môn
nào cũng đều hay, v́ sao? Môn nào cũng đều có
thể minh tâm kiến tánh, đều có thể đạt
đến mục đích. V́ thế, nói “pháp môn b́nh đẳng, chẳng có cao thấp”,
chúng ta phải nhớ kỹ điều này. Trong nhiều
pháp môn ngần ấy, chúng ta chỉ có thể chọn lựa
một môn, điều này quan trọng lắm! Nếu đồng
thời chọn lựa nhiều môn, rất khó thành tựu.
Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, dạy học
tṛ, mỗi học tṛ cũng đều là học một
môn. Đức Phật giảng kinh, họ đều đến
nghe, đó gọi là “bàng thính”
(dự thính), đến làm Ảnh Hưởng Chúng. Nói theo
cách hiện thời là “hộ
tŕ đạo tràng”, khiến cho số lượng thính
chúng trong đạo tràng đông thêm, có thể tăng cường
tín tâm cho người mới học. Nếu đức Phật
giảng kinh chỉ có dăm ba người nghe, người
ta trông thấy cảnh tượng ấy cũng chẳng
tin tưởng, mất đi tín tâm. V́ thế, những vị
Bồ Tát, La Hán giúp Phật trang nghiêm đạo tràng,
tăng cường tín tâm của hàng sơ học, mục
đích ở chỗ này! Các Ngài ngồi ở đó, nghe hay
không nghe chẳng nhất định! Có lúc đức Phật
giảng kinh, các Ngài ngồi đó niệm Phật, về
căn bản là cũng chẳng nghe câu nào. Đó là trang
nghiêm đạo tràng, chúng ta phải hiểu điều
này. Chư vị hiểu đạo lư này là được
rồi!
C̣n
như Vô Sanh Pháp Nhẫn là ǵ? Ở đây, tôi nói đại
lược. “Pháp” là hết
thảy các pháp. Vô Sanh Pháp Nhẫn là một pháp, c̣n chữ
Pháp chỉ hết thảy các pháp thế gian và xuất thế
gian. Vô Sanh là hết thảy các pháp bất sanh, bất diệt.
Khi nào quư vị chứng đắc, thừa nhận, đồng
ư, tán thành “hết thảy các
pháp bất sanh, bất diệt”, cảm thấy đức
Phật nói lời ấy chắc chắn chẳng có vấn
đề ǵ, là sự thật, quư vị bèn chứng đắc
Vô Sanh Pháp Nhẫn. Nay chúng ta đang thấy hết thảy
các pháp có sanh, có diệt, thấy động vật có sanh,
lăo, bệnh, tử, thấy thực vật có sanh, trụ,
dị, diệt, thấy khoáng vật
có thành, trụ, hoại, không, hết thảy các pháp là vô
thường. Đó là cách nh́n của chúng ta, chúng ta cảm
thấy đó là sự thật. Nay đức Phật bảo
chúng ta “hết thảy các pháp bất
sanh, bất diệt”, chúng ta nghe chẳng hiểu, nghe
xong bèn hoài nghi, v́ sao? Hoàn toàn tương phản với sự
quan sát của chúng ta, cảnh giới của Phật và cảnh
giới của chúng ta khác nhau. V́ sao cách nh́n của chúng ta
khác với cách nh́n của đức Phật? Chúng ta dùng cái
tâm sanh diệt để nh́n hết thảy các pháp, nên hết
thảy các pháp biến thành sanh diệt. Đức Phật
dùng tâm bất sanh, bất diệt để nh́n hết thảy
các pháp, nên hết thảy các pháp bất sanh, bất diệt.
Từ chỗ này cũng chứng thực “hết thảy
các pháp chỉ do tâm biến, hết thảy các pháp chỉ
do tâm chuyển, tâm chuyển cảnh giới, chẳng phải
là cảnh giới chuyển tâm”, chứng minh lư luận này.
V́ lẽ đó, đức Phật dạy chúng ta thấy
chân tướng của hết thảy các pháp, đó chính là
Thật Tướng của các pháp. Thật Tướng của
các pháp là bất sanh, bất diệt.
Phải
như thế nào th́ mới có thể
thấy Thật Tướng của các pháp? Phải có Thiền
Định rất sâu. Thiền Định rất sâu là tâm
định. Tịnh đến tột cùng, tâm ấy là bất
sanh, bất diệt, chân tâm thường trụ, thấy cảnh
giới bên ngoài là cảnh giới chân thật. V́ thế,
đó là cảnh giới của Phật và đại Bồ
Tát; hàng Bồ Tát từ Thất Địa trở lên thấy
hết thảy vạn pháp bất sanh, bất diệt.
Đó chẳng phải là cảnh giới của bọn phàm
phu chúng ta, v́ chúng ta chẳng có cách nào sử dụng chân tâm,
toàn là dùng vọng tâm. Vọng tâm là tâm sanh diệt, là trong
tâm có ư niệm. Khi nào trong tâm chẳng có ư niệm, chẳng
có vọng niệm, khôi phục chân tánh của chính ḿnh.
Điều này cũng nói rơ: Tu hành trong Phật pháp, bất
luận tông nào, bất luận là Hiển Giáo hay Mật
Giáo, Thiền Tông hay Giáo Hạ, mục tiêu tu học cuối
cùng là minh tâm kiến tánh. Nếu chẳng phải là mục
tiêu này, sẽ chẳng phải là Phật pháp. Phật pháp bất
luận bao nhiêu pháp môn, bao nhiêu tông phái, chỉ là phương
pháp, đường lối, cách thức khác nhau, nhưng
phương hướng và mục tiêu nhất định
là nhất trí: Thành Phật! Thành Phật là ǵ? Minh tâm kiến
tánh là thành Phật; minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật,
quyết định là nhất trí. Tịnh Độ Tông
nói “nhất tâm bất loạn”, nhất tâm bất loạn
là minh tâm kiến tánh, là kiến tánh thành Phật. Chỉ là
các tông sử dụng danh từ thuật ngữ khác nhau, thật
ra là một chuyện. V́ vậy, học Phật nói
đơn giản là “tu tâm thanh
tịnh, tu nhất tâm bất loạn”. Trong cuộc sống
hằng ngày, chúng ta thấy sắc, nghe tiếng, xử sự,
đăi người, tu tâm thanh tịnh, tu nhất tâm trong ấy,
đó là đúng!
Người
sơ tâm, tức là kẻ mới học, v́ tập khí nặng
nề, phiền năo sâu đậm, chẳng có cách nào tu hành
trong một xă hội phức tạp, công phu chẳng thể
đắc lực, nên phải chọn lựa hoàn cảnh.
Nghĩ đến thuở đức Phật tại thế,
đă răn dạy đệ tử trụ A Lan Nhă. A Lan
Nhă (Araṇya) là tiếng Phạn,
dịch sang nghĩa tiếng Hán là “nơi chẳng ồn
ào”. A là Vô, Lan Nhă là náo nhiệt, ồn ào. [Do vậy, A Lan
Nhă] là một nơi chẳng ồn ào, náo nhiệt, nên dịch
nghĩa sang chữ Hán là Tịch Tĩnh Xứ, đó là một
hoàn cảnh hết sức an tĩnh. Trong lời Phật dạy,
có một thí dụ rất đơn giản về tiêu chuẩn
của A Lan Nhă, Ngài nói: Đó là nơi chẳng nghe thấy
tiếng trâu kêu. V́ xưa kia, người tu hành phần
đông ở nông thôn, cày cấy ở nông thôn đều
dùng trâu, tiếng trâu kêu rất lớn. Nông dân nuôi trâu,
nơi chẳng nghe thấy tiếng trâu kêu, chỗ ấy
cũng rất an tĩnh. Nếu là hiện tại th́
nơi không nghe thấy tiếng xe cộ sẽ khá an
tĩnh, nhất định phải tránh chỗ ồn náo.
Đối với định nghĩa này, cũng phải nên
tùy theo thời đại mà [xét theo] tiêu chuẩn khác nhau.
Xưa kia, tiếng trâu kêu rất lớn, hiện thời tạp
âm của xe lửa hoặc máy bay c̣n to hơn xưa kia quá
nhiều. Nơi mà những âm thanh ồn ào ấy chúng ta
đều chẳng nghe thấy th́ chỗ ấy là A Lan Nhă.
Điều này nhằm tạo tiện lợi cho hàng sơ
học.
Nhưng
tâm địa đă thật sự thanh tịnh rồi th́
chẳng thể ở măi nơi đó; ở miết nơi
đó, chưa chắc tâm địa thật sự thanh tịnh.
Sau khi đă đạt đến một mức độ
thanh tịnh [kha khá], phải đến chỗ ồn náo,
đến nơi ồn náo để xem cái tâm có c̣n thanh tịnh
hay không? Trong nơi náo nhiệt ấy, nếu tâm lập tức
bị ảnh hưởng, hăy nên lui về, chớ nên ở
nơi đó. Nếu ở trong nơi náo nhiệt mà không bị
ảnh hưởng, tâm vẫn thanh tịnh th́ có thể ở
nơi đó, [bởi lẽ], động tĩnh như
nhau, nhiễm tịnh chẳng hai, đó là thật sự
thành tựu. Do đó, người Tiểu Thừa chẳng
dám tiếp xúc thành thị, Đại Thừa Bồ Tát tu
Định trong chốn chợ búa. Quư vị xem kinh Hoa
Nghiêm, trưởng giả Dục Hương tu Thiền
Định ở nơi đâu? Kinh nói là trong chốn chợ
búa. “Chợ búa” có nghĩa là ǵ? Là nơi buôn bán, phồn hoa
nhất, náo nhiệt nhất, ông ta tu Thiền Định ở
nơi đó. Ông ta tu Thiền tại đó, có phải là ngồi
xếp bằng nh́n vào vách hay không? Chẳng phải vậy!
Ở nơi đó, ông ta la cà trên phố, cái này cũng nh́n,
cái kia cũng ngắm, đó gọi là tu Thiền Định.
Chúng ta hoàn toàn chẳng nh́n ra ông ta đang tu Thiền Định
nơi đó. Ông ta xoay qua, lộn lại trong chốn náo nhiệt,
nhưng là Định Huệ song tu. Thứ ǵ cũng đều
xem, giống như những sản phẩm mới hiện
thời ông ta đều biết, “đều biết” là Huệ,
thứ ǵ ông ta cũng đều hiểu. Xem xong, như
như bất động, như như bất động
là Định, ông ta tu Định nơi ấy. Chẳng giống
như lũ phàm phu chúng ta, thấy vật này tốt bèn vội
vă mua về, tâm đă động mất rồi. Định
đă chẳng có, mà Huệ cũng chẳng có luôn! V́ thế,
ông ta thường dạo phố, thường la cà chốn
náo nhiệt, thứ ǵ cũng đều biết, Huệ
thành tựu. Sau khi đă xem xong, như như bất động,
nên Định thành tựu. Người ta tu Định Huệ
ở chỗ này! Chuyện này hàng Tiểu Thừa chắc
chắn chẳng dám tu, đó là nói công phu đă đạt mức,
phương pháp tu hành của họ và
phương pháp tu hành của chúng ta khác nhau!
Giới
thiệu đơn giản cùng chư vị chỗ sai biệt giữa
Đại Thừa và Tiểu Thừa tới đây là
được rồi! Chúng ta xem đoạn kế tiếp.
Trong đoạn này, [đức Phật] chánh thức dạy
bà Vi Đề Hy phương pháp tu học, tức là mười
sáu diệu quán.
Phật cáo Vi Đề
Hy: “Nhữ thị phàm phu, tâm tưởng luy liệt, vị
đắc Thiên Nhăn, bất năng viễn quán.
Chư Phật Như Lai hữu dị phương tiện,
linh nhữ đắc kiến.
佛 告 韋 提 希。汝 是 凡 夫。心 想 羸 劣。未 得 天 眼。不 能 遠 觀。諸 佛 如 來 有 異 方 便。令 汝 得 見。
(Đức Phật bảo Vi Đề Hy: “Bà là phàm
phu, tâm tưởng yếu hèn, chưa đắc Thiên Nhăn,
chẳng thể nh́n xa. Chư Phật Như Lai có
phương tiện lạ khiến cho bà được thấy”).
Nh́n
từ dấu tích [thị hiện], phu nhân Vi Đề Hy là
phàm phu giống như chúng ta, cũng là mê hoặc, điên
đảo, cũng là cảm t́nh rất nặng, phiền năo
trùng trùng, giống hệt như chúng ta. V́ thế, “tâm tưởng luy liệt, vị
đắc Thiên Nhăn” (tâm tưởng yếu hèn, chưa
đắc Thiên Nhăn), sẽ chẳng thể thành tựu Diệu
Quán. Nhưng đức Phật có sức mạnh, gia tŕ,
giúp đỡ bà ta. “Chư Phật
Như Lai hữu dị phương tiện, linh nhữ
đắc kiến” (Chư Phật Như Lai có
phương tiện lạ, khiến cho ngươi
được thấy). Nếu muốn thấy Tịnh
Độ, nhất định phải do Phật lực
gia tŕ, đây là chỉ ra “hiện
tiền, tương lai, nhất định thấy Phật”.
Phàm phu tu hành, nói thật ra, dẫu có công phu Định
lực nho nhỏ, vẫn chẳng thấy Tây Phương
Tịnh Độ. Giống như trong phần trước
chúng tôi đă nói, Viễn Công đại sư một đời
ba lần thấy Tịnh Độ của Phật, đó
là do phương tiện thù thắng, lạ lùng của
chư Phật Như Lai gia tŕ Ngài, khiến cho Ngài trông thấy.
Viễn Công có thể thấy, chúng ta cũng có thể thấy.
Phật đă gia tŕ Ngài, Phật cũng sẽ gia tŕ chúng
ta; nhưng chúng ta chớ nên có tâm niệm mong được
thấy. V́ sao? Niệm niệm cầu thấy, tâm chẳng
thanh tịnh, công phu không đắc lực. Không cầu thấy,
đến lúc đó, đôi khi Phật gia tŕ khiến cho quư
vị trông thấy, chứng minh cho quư vị, tăng cường
tín tâm của quư vị: [Chắc chắn là] quư vị đă
đi đúng đường. Chẳng thấy cũng không
khẩn yếu, chớ nên thường hoài nghi: “Ta chẳng
trông thấy điều ấy, chỉ sợ công phu lui sụt”.
Đó là dấy vọng tưởng, đă sai lầm mất
rồi! Phải hiểu pháp môn này đặc biệt coi trọng
tu tâm thanh tịnh. V́ lẽ đó, dẫu thấy, cũng
phải như kinh Kim Cang đă nói: “Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng”.
Thấy mà như chẳng thấy, chẳng mảy may trở
ngại cái tâm thanh tịnh của quư vị. Đó là
đúng. V́ thế, người tu Tịnh Độ, không chỉ
[riêng người] tu Tịnh Độ, người tu Phật pháp Đại Thừa quyết
định chớ nên tham chuộng thần thông.
Chiều
hôm qua, có một cư sĩ đến gặp tôi, ông ta
đang gặp khó khăn rất lớn. Hai vợ chồng
đều ở trong ngành giáo dục, ông ta kể: Gần
đây, bà vợ ông ta nẩy sanh vấn đề, chẳng
biết bả thân cận đạo tràng nào, nay đang
vướng ma chướng, nên tới t́m tôi. Tôi liền
khuyên ông ta: “Tốt nhất là ông bảo bà ta đừng tiếp
xúc với những kẻ đó nữa”. Ông ta nói: “Nói rồi
mà bả có nghe đâu! Ham thần thông lắm”. Phàm những
kẻ bị ma dựa đều là ham thần thông. Nếu
quư vị nh́n thần thông và những chuyện kỳ quái rất
nhạt nhẽo, chẳng quan tâm đến, yêu ma quỷ
quái chẳng t́m quư vị, [v́ chúng] chẳng có cách nào tiếp
cận quư vị. Quư vị tham chuộng, ưa thích thần
thông, hiếu kỳ, quư vị liền bị yêu ma quỷ
quái nắm thóp, đùa bỡn quư vị! Ở trong và ngoài
nước, chúng tôi đă thấy rất nhiều kẻ trẻ
tuổi được hưởng sự giáo dục cao cấp,
toàn là những kẻ ưu tú, học [thần thông] chưa
đến một năm hay nửa năm, bèn phải vào bệnh
viện tâm thần, tinh thần phân liệt, tương lai
cả một đời bị hủy hoại. Nói thật
ra, những thứ đó chẳng phải là Phật giáo, mà
là tà giáo! Yêu ma quỷ quái đang quậy phá. Có phải là thật
sự thấy họ phóng quang hay không? Thật sự trông
thấy, chẳng phải là giả. Họ nói phóng quang,
[thân h́nh] ĺa khỏi mặt đất ba thước, là thật,
chẳng giả tí nào! Yêu ma quỷ quái hiện những thứ
thần thông ấy cho quư vị trông thấy. Quư vị càng
thấy, càng nghĩ chúng nó rất tuyệt. Chúng ta bảo họ:
“Bọn chúng nó là giả”, [họ sẽ nạt lại]:
“Ngươi không bằng người ta! Nếu không,
ngươi phóng quang cho ta xem thử coi!” Họ chẳng tin
tưởng chánh pháp, muốn tin tưởng yêu ma quỷ
quái, càng mê sâu hơn. Chuyện này không chỉ là đem lại
nỗi đau khổ cho chính người ấy, mà c̣n khiến
cho cả gia đ́nh đau khổ, rất đáng
thương, chúng ta phải chú ư điều này.
Lăo
cư sĩ Hoàng Niệm Tổ đôi ba lượt khuyến
khích chúng ta: “Học Phật th́
đạo tràng coi trọng thực chất, chẳng coi trọng
h́nh thức. Tu hành quư nơi cái tâm thanh tịnh, tuyệt
đối chẳng chú ư thần thông cảm ứng, ngay cả
cảm ứng cũng không mong cầu”. Người thật
sự tu hành, tu tâm thanh tịnh, [nhận biết] “ta phiền năo ngày càng ít hơn, tâm địa
ngày càng thanh tịnh hơn, ngày càng sung sướng hơn,
pháp hỷ sung măn, trí huệ càng ngày càng tăng trưởng
hơn”. Trí huệ tăng trưởng nh́n từ chỗ
nào? Xử sự, đăi người, tiếp vật chẳng
hồ đồ giống như trước, dường
như mỗi ngày có trí huệ hơn, đó đều là hiện
tượng tiến bộ. Đó là hiện tượng tốt.
Nếu nói hằng ngày thấy rất nhiều quỷ, thấy
khá nhiều thần, nguy hiểm rồi! Đó chẳng phải
là một hiện tượng tốt lành, mà là sắp vào
nhà thương điên! Đôi khi trông thấy th́ phải
làm sao? Có thấy th́ chẳng cần quan tâm tới, chẳng
cần nghĩ đến họ, niệm Phật cho nhiều,
đọc kinh cho nhiều, về sau, cơ hội trông thấy
họ sẽ ít đi. Trước kia, cư sĩ Giản
Phong Văn thường trông thấy, mỗi tháng thấy
khá nhiều lần, đến kể với tôi. Ông ta chẳng
bịa chuyện, trước kia, ông ta thích tĩnh tọa.
Trong khi tĩnh tọa, thấy khá nhiều cảnh giới
kỳ quái, từng thấy Thập Điện Diêm
Vương. Sau này, tôi dạy ông ta: “Từ nay về sau, ông
thấy những điều đó đừng quan tâm tới,
chẳng cần để ư, cứ niệm Phật cho nhiều”.
Về sau, dần dần ít đi. Hiện nay, trong ṿng một
hai năm qua chẳng thấy nữa, không c̣n nữa, khôi phục
b́nh thường.
[Thấy
những cảnh tượng kỳ quái, quỷ thần],
chắc chắn chẳng phải là b́nh thường, chẳng
phải là chuyện tốt đẹp. Chẳng cần nói
thấy yêu ma quỷ quái chẳng phải là chuyện tốt,
mà thấy chư Phật, Bồ Tát cũng chẳng phải
là chuyện tốt. Quư vị hăy xem kinh Lăng Nghiêm, [phần
nói về] năm mươi thứ Ấm Ma, yêu ma quỷ
quái biến hiện cảnh giới của Phật, Bồ
Tát, đơn giản là khiến cho quư vị chẳng có
cách nào phân biệt là thật hay giả. Trong kinh Lăng
Nghiêm, đức Phật đă dạy chúng ta một nguyên tắc:
“Bất tác thánh giải” (chẳng
nghĩ [những cảnh giới kỳ quái, lạ lùng ta
được thấy] là chính ḿnh đă đạt
được sự giải ngộ của bậc thánh),
[đối với] những cảnh giới tốt đẹp,
căn bản là chẳng quan tâm tới, chúng sẽ là cảnh
giới tốt đẹp. Nếu quư vị nghĩ chúng là
thật, sẽ bị mắc lừa, “tức thọ quần tà” (liền rớt vào
lũ tà), quư vị đă bị những thứ yêu ma quỷ
quái ấy đùa bỡn, gạt gẫm. Đúng là đối
với các cảnh giới như trong Lăng Nghiêm đă
nói, chúng ta chẳng có cách nào phân biệt là thật hay giả,
c̣n những thứ như ta trông thấy trong hiện thời
vừa trông thấy liền biết là giả, tuyệt
đối chẳng phải là thật.
Đây là nói một
người tu hành, trên đường Bồ Đề, tất
nhiên sẽ gặp những cảnh giới ấy, khi gặp
những cảnh giới đó, quyết định chẳng
cần quan tâm tới. Chính v́ như vậy, chúng tôi thường
khuyên nhủ các đồng tu, hễ quư vị thờ Phật,
bèn thờ một pho tượng, hằng ngày nh́n bức
tượng Phật ấy, mọi người phải biết
điều này. Hết thảy yêu ma quỷ quái có thể lừa
gạt người, chúng nó gạt người v́ quư vị
tự nguyện bị lừa, bằng ḷng bị gạt!
Nói thật ra, chúng nó trọn chẳng phạm pháp to lớn
ǵ! Chúng nó biến hiện thành h́nh tượng của Phật,
Bồ Tát, nhưng chẳng dám biến thành h́nh Bổn Tôn,
nên nói là chúng nó chẳng phạm pháp. Tuy chúng nó có thể giả
mạo, nhưng giả mạo tương tự, chẳng
rất giống, nên chẳng phạm pháp. Ví như đối
với “thương tiêu” (nhăn hiệu cầu chứng,
trademark), tôi thiết kế thương tiêu chẳng khác
thương tiêu của quư vị cho mấy, nhưng có
đôi chút bất đồng, tôi chẳng giả mạo
chiêu bài của quư vị, v́ sao? Thương tiêu do tôi thiết
kế có đôi chút khác với quư vị, chẳng thể
coi là giả mạo nhăn hiệu, chẳng thể trị tội
theo pháp luật được. Hoàn toàn giống hệt th́
là giả, tức là hàng nhái, phải bị trị tội.
V́ lẽ đó, yêu ma quỷ quái chẳng dám hiện thành Bổn
Tôn.
Ta
thờ phụng A Di Đà Phật, A Di Đà Phật là Bổn
Tôn của ta, yêu ma quỷ quái chẳng dám biến thành A Di
Đà Phật. Chúng biến thành các vị Phật, Bồ
Tát khác đến dụ dỗ, mê hoặc quư vị, tuyệt
đối chẳng dám biến thành A Di Đà Phật. Ta thờ
phụng Quán Thế Âm Bồ Tát, hằng ngày lễ bái Quán
Âm Bồ Tát, xưng niệm Quán Âm Bồ Tát, chúng nó chẳng
dám biến thành Quán Âm Bồ Tát. Biến thành h́nh tượng
Ngài, thần hộ pháp quyết định chẳng chấp
nhận. Biến thành [h́nh tượng] tương tự,
chẳng phải là thật, thần hộ pháp cũng chẳng
quan tâm tới, v́ sao? Dẫu sao, chúng nó chẳng thật sự
phạm pháp. Thần hộ pháp giống như cảnh sát,
chẳng can thiệp, không bắt giữ chúng nó. Chúng ta thờ
một bức tượng A Di Đà Phật, suốt đời
thờ một tượng ấy, chúng ta thấy h́nh tượng
ấy rất rơ ràng. Nếu chúng nó biến ra một vị
A Di Đà Phật, có h́nh dạng khác với tượng ấy,
chúng ta sẽ chẳng quan tâm tới. Khi lâm chung, A Di Đà
Phật đến tiếp dẫn chúng ta, quyết định
là có h́nh dáng giống như bức tượng chúng ta
đang thờ, khiến cho bản thân chúng ta chẳng có
chút hoài nghi nào. Ta mỗi ngày nh́n bức tượng ấy,
đến cuối cùng, quả nhiên Phật hiện tiền,
Ngài dẫn chúng ta đi, há có lầm lẫn ư? Tuyệt
đối sẽ chẳng sai lầm! Đó là cái hay của
việc cúng dường một h́nh tượng Bồ Tát
[hay h́nh tượng Phật, suốt đời chẳng
thay đổi]. Hiện thời, thờ một bức rất
dễ dàng. Chúng ta đi ra ngoài, hăy chụp ảnh bức
tượng chính ḿnh đang thờ để có thể
đem theo thân, đến chỗ nào cũng đều có thể
cúng dường, chẳng cần phải mang theo tượng
khắc hoặc tượng đắp! Nhất là tượng
thờ rất lớn, mang theo chẳng thuận tiện.
Chúng ta chụp h́nh mang theo rất thuận tiện. Giống
như tượng Phật của chúng ta ở đây, chúng
ta đều đă in ra, tượng Quán Âm Bồ Tát
cũng được in ra, cuốn thành một cuộn,
đặt trong hành lư, đi đến đâu cũng đều
có thể mang theo. Tượng Phật trông thấy mỗi
ngày là cùng một tượng Phật, tốt lắm!
Chúng ta lại xem
phần kinh văn tiếp theo, xem hàng cuối cùng trong trang
một trăm bốn mươi.
Thời
Vi Đề Hy bạch Phật ngôn: - Thế Tôn, như ngă
kim giả dĩ Phật lực cố, kiến bỉ quốc
độ, nhược Phật diệt hậu chư chúng
sanh đẳng, trược ác bất thiện, ngũ khổ
sở bức, vân hà đương kiến A Di Đà Phật
Cực Lạc thế giới?
時 韋 提 希 白 佛 言。世 尊。如 我 今 者 以 佛 力 故。見 彼 國 土。若 佛 滅 後 諸 眾 生 等。濁 惡 不 善。五 苦 所 逼。云 何 當 見 阿 彌 陀 佛 極 樂 世 界。
(Khi ấy, bà Vi Đề Hy bạch Phật: - Bạch
đức Thế Tôn! Như con nay do Phật lực
được thấy cơi nước ấy, nếu sau khi
đức Phật đă diệt độ, các loài chúng sanh
trược ác, chẳng lành, bị năm nỗi khổ bức
bách, sẽ thấy thế giới Cực Lạc của A
Di Đà Phật bằng cách nào?)
Đây
là ḷng từ bi của phu nhân Vi Đề Hy. Do Thích Ca Mâu Ni
Phật dùng thần lực triển hiện các cơi nước
Phật trước mặt bà, bà được thấy thế
giới Tây Phương. Bà là phàm phu, chẳng có Thiên Nhăn, do
Phật lực gia tŕ khiến bà trông thấy để chọn
lựa. Do đó, bà ta liền nghĩ: Trong tương lai,
sau khi đức Phật diệt độ,
đến thời kỳ Mạt Pháp, ngũ trược ác
thế, chúng sanh khi ấy làm thế nào để có thể
thấy thế giới Cực Lạc của A Di
Đà Phật? Đối với chữ “trược ác”, phần chú giải đă trích dẫn
đoạn Ngũ Ác, Ngũ Thống, Ngũ Thiêu được
nói trong kinh Vô Lượng Thọ. Đoạn kinh văn này
chúng ta rất quen thuộc, nên nội dung đoạn này giống
như Đại Kinh đă nói. Ở đây, ta thấy tấm
ḷng từ bi của phu nhân: Sau khi chính ḿnh đă đắc
độ, bèn nghĩ đến hết thảy chúng sanh sẽ
đắc độ như thế nào, kiến giải chẳng
giống vua Tần Bà Sa La! Quư vị thấy một đằng
là Đại Thừa, một đằng là Tiểu Thừa.
Tiểu Thừa th́ chính ḿnh đắc độ là
được rồi, chẳng nghĩ đến người
khác. Tâm Đại Thừa Bồ Tát th́ chính ḿnh c̣n chưa
đắc độ, đă ngay lập tức nghĩ đến
người khác. Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n chưa dạy bà ta
phương pháp tu hành, mà bà ta đă nghĩ đến
người khác: Người khác làm thế nào để có
cơ duyên này ngơ hầu cũng có thể đắc độ?
Đó là sự khác biệt giữa tâm lượng Tiểu
Thừa và Đại Thừa, tư tưởng khác nhau!
Chúng ta xem phần
kinh văn tiếp theo trong trang một trăm bốn
mươi lăm.
Phật cáo Vi Đề
Hy: - Nhữ cập chúng sanh, ưng đương chuyên tâm
hệ niệm nhất xứ, tưởng ư Tây
Phương.
佛 告 韋 提 希。汝 及 眾 生。應 當 專 心 繫 念 一 處。想 於 西 方。
(Đức Phật bảo Vi Đề Hy: - Bà và chúng
sanh hăy nên chuyên tâm hệ niệm nhất xứ, tưởng
Tây Phương).
Hàm
nghĩa trong kinh văn này hết sức sâu xa. Chữ “nhữ” (汝) chỉ phu nhân Vi Đề
Hy. Chữ “chúng sanh” bao gồm
chúng ta trong đó; chỉ cần là kẻ đời sau, có
duyên đọc bộ kinh điển này, liền được
bao gồm trong đó. Do vậy có thể biết, đức
Phật khai thị lần này cho phu nhân Vi Đề Hy,
cũng là khai thị cho mỗi vị đồng tu chúng ta.
Bà Vi Đề Hy là bậc đương cơ; chúng ta mở
bộ kinh điển này ra, đọc tụng, tiếp xúc
bộ kinh điển này th́ cũng là đương cơ
của bản kinh này. Do đó, sự giáo học của
đức Phật là một Thể hoàn toàn b́nh đẳng,
dạy chúng ta “hăy nên chuyên tâm hệ
niệm nhất xứ, tưởng Tây Phương”, câu
này là khuyên tu. “Chuyên tâm hệ niệm”
th́ mới có thể bỏ vọng tưởng. V́ sao
người b́nh phàm chẳng thể chế phục vọng
tưởng? Do ư niệm của họ chẳng chuyên. Nếu
ư niệm chuyên nhất, những vọng niệm khác sẽ
tự nhiên chẳng sanh. Phàm phu chẳng thể nào chẳng
có niệm. Phương pháp của đức Phật rất
xảo diệu, tức là dùng ngay ư niệm [niệm Phật]
này để ngưng dứt vọng niệm. Dùng
phương pháp này khiến cho trong ư niệm của quư vị
chỉ nghĩ đến một chuyện. Chẳng khởi
niệm th́ thôi, hễ khởi niệm bèn nghĩ tới một
chuyện, tưởng Tây Phương Cực Lạc thế
giới, tưởng A Di Đà Phật là được rồi.
Dùng niệm để dứt niệm, dạy chúng ta sử
dụng phương pháp này. Tu học phương pháp này sẽ
thuận tiện hơn nhiều!
Dưới
đây, đức Phật dạy chúng ta cách tưởng,
[hăy xem] trang một trăm bốn mươi sáu.
Vân
hà tác tưởng?
云 何 作 想。
(Quán tưởng như thế nào?)
Cách
tưởng ra sao?
Phàm tác tưởng giả, nhất thiết chúng sanh,
tự phi sanh manh, hữu mục chi đồ, giai kiến
nhật một.
凡 作 想 者。一 切 眾 生。自 非 生 盲。有 目 之 徒。皆 見 日 沒。
(Phàm là quán tưởng, hết thảy chúng sanh nếu
chẳng phải là kẻ mù từ lúc mới sanh ra, những
ai có mắt đều thấy mặt trời lặn).
Đây là nêu thí dụ
để dạy cách tưởng như thế nào. Hết
thảy chúng sanh nếu chẳng phải là kẻ sanh manh, “sanh manh” (生盲) là sanh ra liền
bị mù th́ gọi là “sanh manh”.
Nếu chẳng phải là t́nh h́nh ấy, nhất định
đă từng thấy mặt trời ngả bóng, ắt phải
là đă từng thấy cảnh tượng mặt trời
lặn. Thật ra, đức Phật dạy điều
này là nói về xưa kia, trước kia cảnh mặt trời
lặn, đặc biệt là sống ở hương
thôn, chúng ta thường trông thấy. Hiện thời, tại
đô thị, sống trong cao ốc, có thể là có kẻ
suốt đời chưa hề thấy cảnh mặt trời
mọc hay lặn, người ấy tu phép quán tưởng
này cũng rất khó khăn, v́ chẳng có kinh nghiệm này.
Người hiện thời sống tại đô thị,
khi đến chơi núi A Lư[1],
thấy mặt trời xuất sơn, tức là thấy mặt
trời mọc. Thấy mặt trời mọc th́ có, chứ
thấy mặt trời lặn dường như vẫn
chưa hề nghe nói tới! Do đó, trước hết,
đức Phật dạy chúng ta quán tưởng
phương hướng, tưởng Tây Phương,
nơi mặt trời lặn là Tây Phương, tưởng
h́nh dạng mặt trời lặn.
Đoạn
kinh văn kế tiếp [bắt đầu] từ hàng cuối
cùng trong trang một trăm bốn mươi bảy.
Đương khởi
tưởng niệm, chánh tọa Tây hướng, đế
quán ư nhật dục một chi xứ.
當 起 想 念。正 坐 西 向。諦 觀 於 日 欲 沒 之 處。
(Hăy nên khởi tưởng niệm, ngồi ngay ngắn
hướng về phía Tây, quán kỹ lưỡng nơi mặt
trời sắp lặn).
“Đế quán” là quán sát cặn
kẽ, hăy xem nơi mặt trời lặn.
Linh tâm kiên trụ, chuyên tưởng bất di, kiến
nhật dục một, trạng như huyền cổ.
令 心 堅 住。專 想 不 移。見 日 欲 沒。狀 如 懸 鼓。
(Khiến cho tâm trụ chắc, chuyên quán tưởng
chẳng đổi dời, thấy mặt trời sắp
lặn, h́nh dạng như cái trống treo).
Khi
mặt trời sắp lặn, chỉ thấy một vầng
mặt trời đỏ rực, giống như một
cái trống, tức cái trống đang treo lơ lửng
trong không trung.
Kư kiến nhật
dĩ, bế mục, khai mục, giai linh minh liễu.
既 見 日 已。閉 目 開 目。皆 令 明 了。
(Đă thấy mặt trời rồi, [hăy quán tưởng
sao cho] nhắm mắt, mở mắt, đều thấy rơ
ràng).
Quán
thành công sẽ là cảnh giới như thế này: Nhắm
mắt, mặt trời ở trước mặt; mở mắt,
mặt trời vẫn ở trước mặt. Đó là
quán tưởng thành công. Nếu mở mắt, mặt trời
ở trước mặt, nhưng nhắm
mắt, mặt trời chẳng c̣n nữa, tức là
quán chưa thành công. Hoặc là nhắm mắt, h́nh tượng
ấy ở trước mặt, nhưng mở to mắt lại
chẳng c̣n, cũng chẳng thể coi như là thành công
được! Phép Quán này cũng rất khó. Sau khi quán thành
công, bất luận ở nơi nào, mở to mắt, mặt
trời quả thật ở trước mặt; nhắm
mắt, mặt trời vẫn ở trước mặt.
Đó là phép Quán thứ nhất thành tựu. Trong mười
sáu phép Quán, đây là phép Quán đầu tiên, là phép Quán dễ
nhất. Quư vị thử tập xem, quư vị có bản
lănh quán thành công hay chăng? Có thể quán thành công, sẽ có
thể văng sanh. Trong mười sáu phép Quán, chỉ cần
quán một phép thành công, sẽ đều có thể văng sanh.
Chẳng cần phải là mỗi phép Quán trong mười
sáu phép Quán đều thành công, chỉ cần thành một
phép Quán là được rồi. Nói rất dễ dàng, làm
th́ sẽ rất khó thực hiện! Nếu chẳng chuyên
tâm đến tột bậc, cảnh giới này sẽ chẳng
thể hiện tiền.
Thị
vi nhật tưởng, danh viết Sơ Quán.
是 為 日 想。名 曰 初 觀。
(Đó là phép tưởng mặt
trời, gọi là phép Quán đầu tiên).
Đây là phép Quán
thứ nhất trong mười sáu phép Quán. Sau đoạn
kinh văn này, có chú giải rất nhiều, nhưng không ǵ
chẳng nhằm nói rơ nguyên lư này. Thiên Thai đại sư
dùng đạo lư Nhất Tâm Tam Quán để thuyết minh
sự thật này. Nếu chẳng đạt đến Nhất
Tâm Tam Quán, cảnh giới này chẳng thể hiện tiền!
Do vậy, quán thành công hết sức khó khăn. Sau khi quán
thành công, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
đă đến Tây Phương Cực Lạc thế giới,
c̣n phải trừ bỏ tướng hư vọng ấy.
V́ sao? Trong tâm thanh tịnh vốn chẳng có một vật,
lẽ đâu có mặt trời? Quư vị phải hiểu
đạo lư này, mới hiểu trong bốn loại niệm
Phật, Tŕ Danh thù thắng bậc nhất. Trước
đây, tôi đă từng hỏi thầy Lư chuyện này, thầy
Lư bảo tôi: “Quán rất khó thành tựu! Quán thành công, anh
nghĩ xem ấn tượng sâu đậm cỡ nào! Giống
như chúng ta tưởng niệm một ai đó, thời
thời khắc khắc đều nghĩ nhớ người
ấy. Người ấy ở ngay trước mặt,
tưởng niệm khắc sâu ngần ấy.Trong A Lại
Da Thức, sức mạnh ấy phải mạnh mẽ lắm
th́ hiện tượng ấy mới hiện thành
được! Nhưng nó toàn là tướng hư vọng,
sau khi đă đến Tây Phương Cực Lạc thế
giới, lại c̣n phải trừ bỏ tướng ấy.
Quán thành công khó khăn, về sau, trừ bỏ nó cũng
khó, xóa bỏ cũng khó, v́ sao? Ấn
tượng quá sâu!” V́ vậy, thầy nói [mười
lăm phép Quán trước] chẳng bằng [niệm] danh
hiệu. [Bởi lẽ], xóa bỏ danh hiệu dễ dàng,
do biết danh hiệu là giả danh. V́ vậy, chấp
tŕ danh hiệu văng sanh thế giới Tây Phương dễ
dàng; sau khi đă sanh về thế giới Tây Phương,
trừ bỏ danh hiệu cũng dễ dàng. So với chuyện
đă quán thành công rồi, sau đó lại bỏ phép Quán ấy,
chúng ta suy nghĩ sẽ tự biết sự khó hay dễ
trong ấy.
Thầy
khuyên chúng tôi, biết lư luận và phương pháp quán
tưởng niệm Phật, nhưng chẳng cần phải
dùng tới, vẫn giữ lối tŕ danh niệm Phật,
giữ cách này sẽ tốt đẹp. Tŕ Danh tương ứng
với Thật Tướng, c̣n phương pháp [quán tưởng]
này chẳng tương ứng với Thật Tướng.
Quán Tưởng Niệm Phật và Quán Tượng Niệm
Phật đă khó, lại c̣n chẳng tương ứng.
Tŕ danh niệm Phật dễ dàng, tương ứng với
Thật Tướng. Đó là lư do v́ sao chư Phật, Bồ
Tát, tổ sư đại đức đặc biệt
nhấn mạnh, đề xướng pháp môn Niệm Phật,
đạo lư ở ngay chỗ này.
Tập
22
Thứ, tác thủy
tưởng.
次 作 水 想。
(Tiếp đó là tưởng
nước).
Đây
là phép Quán thứ hai, chúng ta xem kinh văn, hàng thứ ba trong
trang một trăm năm mươi hai.
Kiến
thủy trừng thanh, diệc linh minh liễu, vô phân tán ư.
見 水 澄 清。亦 令 明 了。無 分 散 意。
(Thấy nước trong lặng, cũng quán cho rành rẽ,
ư chẳng phân tán).
“Vô phân tán ư” là Nhất Tâm Tam
Quán.
Kư kiến
thủy dĩ, đương khởi băng tưởng.
既 見 水 已。當 起 冰 想。
(Đă thấy nước rồi,
hăy nên dấy ư niệm tưởng băng).
Phép
Quán thứ hai là quán biển cả đóng băng.
Kiến
băng ánh triệt, tác lưu ly tưởng.
見 冰 映 徹,作 琉 璃 想。
(Thấy băng trong suốt,
quán tưởng là lưu ly).
Sau
khi kết thành băng, giống như lưu ly (Vaiḍūrya, Tỳ Lưu Ly). Lưu ly trong suốt,
có màu hơi xanh, người Hoa gọi là Phỉ Thúy (翡翠), tức ngọc có màu xanh. Nước biển có màu
xanh dương, nên nếu kết thành băng, quả thật
giống như lưu ly.
Thử
tưởng thành dĩ, kiến lưu ly địa, nội
ngoại ánh triệt.
此 想 成 已。見 琉 璃 地,內 外 映 徹。
(Phép quán tưởng này đă thành, sẽ thấy
đất lưu ly, trong ngoài thấu suốt).
Sau
khi phép quán tưởng này đă thành, đại địa
là lưu ly. Đại địa trong thế giới Tây
Phương bằng lưu ly. Nếu quán thành công phép quán
tưởng này, bất luận ở chỗ nào, quư vị
đều thấy đất quyết định là đất
lưu ly. Nếu thấy đất ở chỗ chúng ta
đây vẫn là sàn bằng đá mài, tức phép quán tưởng
này chẳng thành công, tuyệt đối là chẳng quán
thành công. Sau khi quán thành công, đất là đất lưu
ly. Do vậy, chúng ta cũng có thể hiểu rơ, trong kinh,
đức Phật đă nói “hết
thảy các pháp sanh từ tâm tưởng”, đó là thật.
Tâm quả thật có thể biến cảnh giới, tùy thuộc
vào mức độ tưởng của quư vị. Nay chúng
ta chẳng thể biến cảnh giới, là do tưởng
rất cạn, nay đang tưởng chỗ này, qua niệm
thứ hai bèn tưởng chỗ khác; do vậy, chẳng thể
biến thành cảnh giới. Nếu chuyên chú tưởng một
chuyện, sẽ thật sự có thể biến cảnh
giới. Hết thảy các pháp đều sanh từ tâm
tưởng. Dưới mặt đất của Tây
Phương c̣n có rất nhiều kho báu, dưới mặt
đất trong cơi chúng ta cũng có kho báu.
Hạ
hữu kim cang thất bảo kim tràng, ḱnh lưu ly địa.
下 有 金 剛 七 寶 金 幢。擎 琉 璃 地。
(Dưới đó có tràng vàng kim
cang bảy báu nâng đỡ đất lưu ly).
Chúng
ta biết địa cầu có h́nh cầu, trong h́nh cầu
có lơi. Cái lơi ấy như được nói ở nơi
đây, có h́nh dáng giống cái tràng, “nâng đỡ đất lưu ly”.
Kỳ
tràng bát phương, bát lăng cụ túc, nhất nhất
phương diện, bách bảo sở thành. Nhất nhất
bảo châu hữu thiên quang minh. Nhất nhất quang minh bát
vạn tứ thiên sắc, ánh lưu ly địa, như ức
thiên nhật, bất khả cụ kiến.
其 幢 八 方。八 楞 具 足。一 一 方 面。百 寶 所 成。一 一 寶 珠。有 千 光 明。一 一 光 明。八 萬 四 千 色。映 琉 璃 地。如 億 千 日。不 可 具 見。
(Tràng ấy có
tám mặt, tám cạnh trọn đủ. Mỗi một mặt
do trăm thứ báu hợp thành. Mỗi một bảo châu
có ngàn quang minh. Mỗi một quang minh có tám vạn bốn
ngàn màu, chiếu rực đất lưu ly như ức
ngàn mặt trời, chẳng thể thấy trọn).
Phía
dưới có chất báu, chất báu tỏa ánh sáng, có vô
lượng quang minh. Như vậy là đất nơi thế
giới Tây Phương tỏa ánh sáng, đại địa
có quang minh. Chúng ta nghĩ xem địa cầu của chúng
ta có quang minh hay không? Nói thật ra, cũng tỏa sáng,
cũng có ánh sáng, nhưng nhục nhăn của chúng ta chẳng thấy. Nay chúng
ta dùng máy móc thăm ḍ, bèn phát hiện ánh sáng có bước
sóng dài hay ngắn khác nhau. Những tia sáng mà chúng ta có thể
thấy bằng mắt thường có bước sóng vô
cùng hữu hạn, [những tia sáng] có bước sóng dài
hơn th́ chúng ta chẳng thấy, mà những tia sáng có
bước sóng ngắn hơn chúng ta cũng không thấy.
Chẳng phải là [đại địa] không phóng quang, thảy
đều phóng quang. Nay ta dùng dụng cụ khoa học
để thăm ḍ, chúng ta đă thăm ḍ được
các tia sáng như tia X, hồng ngoại tuyến (Infrared), tử ngoại tuyến (Ultraviolet), đó là những tia sáng thăm ḍ
được. Trên mặt đất hay trong không trung
đều có ánh sáng, nhưng chúng ta chẳng thể thấy
bằng mắt thường. Ḷng người trong thế
giới Tây Phương thanh tịnh, nên đối với
các thứ sóng ánh sáng đều có thể trông thấy. V́ vậy,
thế giới ấy khác hẳn. Nếu chúng ta cũng
trông thấy các loại sóng ánh sáng th́ [sẽ thấy] dưới
mặt đất cũng trong suốt, cũng thấy
dưới ḷng đất, chúng ta gọi chuyện này là
Thiên Nhăn. Người có Thiên Nhăn Thông chẳng bị chướng
ngại, có thể thấy phía dưới mặt đất.
Hiện thời có những kẻ khoe có Thiên Nhăn, nhưng “Thiên
Nhăn” rất hữu hạn. Có nhiều kẻ nói thật ra
chẳng hề có Thiên Nhăn, nhưng tự xưng là có Thiên
Nhăn, chưa chắc đă là thật. Thiên Nhăn thật sự
th́ vách tường chẳng trở ngại được,
chúng ta ngồi trong nhà, người bên ngoài qua lại đều
có thể thấy rất rơ ràng, đó mới là Thiên Nhăn. Nếu
người bên ngoài đang hoạt động tại
đó mà chúng ta không biết, chẳng phải là Thiên Nhăn!
Thiên Nhăn chẳng có chướng ngại, trông thấy t́nh
h́nh dưới mặt đất.
Lưu ly địa thượng,
dĩ hoàng kim thằng, tạp xí gián thác, dĩ thất bảo
giới, phân tề phân minh. Nhất nhất bảo trung, hữu
ngũ bách sắc quang, kỳ quang như hoa. Hựu tự
tinh nguyệt, huyền xử hư không, thành quang minh đài, lâu các thiên vạn,
bách bảo hợp thành.
琉 璃 地 上。以 黃 金 繩。雜 廁 間 錯。以 七 寶 界。分 齊 分 明。一 一 寶 中。有 五 百 色 光。其 光 如 華。又 似 星 月。懸 處 虛 空。成 光 明 臺。樓 閣 千 萬。百 寶 合 成。
(Trên đất lưu ly, dùng dây bằng vàng ṛng phân
chia ngang dọc xen kẽ, lại dùng bảy báu để
làm giới tuyến, chia thành từng khu vực phân minh.
Trong mỗi món báu, có ánh sáng năm trăm màu, ánh sáng ấy
như hoa, lại giống như mặt trời, mặt
trăng, treo lơ lửng trên hư không, tạo thành
đài quang minh, ngàn vạn lầu gác do trăm thứ báu hợp
thành).
Đây
là sự trang nghiêm trên mặt đất. “Dĩ hoàng kim thằng, tạp xí gián thác”: Nói về
giới tuyến ngăn cách, giống như trên nền
đá mài ở đây cũng có những sợi dây đồng
để ngăn cách; ở đây, chúng ta chẳng dùng dây
đồng, mà dùng chất plastic để ngăn thành từng
ô một, đó là trang hoàng cho đẹp mắt. Tây
Phương Cực Lạc thế giới cũng chẳng
ra ngoài lệ ấy, nhưng người ta dùng vàng ṛng
để làm vạch ngăn xen kẽ, chẳng như chúng
ta ở đây dùng chất plastic. Mặt đất cơi ấy
bằng lưu ly, những hoa văn ngăn thành ô nơi
đất trong cơi ấy bằng vàng ṛng, dùng vàng ṛng để
ngăn thành từng khu.
Ư
đài lưỡng biên, các hữu bách ức hoa tràng, vô
lượng nhạc khí, dĩ vi trang nghiêm.
於 臺 兩 邊。各 有 百 億 華 幢。無 量 樂 器。以 為 莊 嚴。
(Ở hai bên đài, mỗi bên có trăm ức tràng
hoa, vô lượng nhạc khí để trang nghiêm).
Đây
là thiên nhạc rền vang trên hư không. Những nhạc
khí ấy chẳng cần người diễn tấu, mà có
thể tự diễn tấu. Hiện thời, khoa học
tiến bộ, tôi đă thấy đàn điện tử
cũng chẳng cần có người diễn tấu. Nhấn
bàn phím một chút, nó tự ḿnh phát ra âm thanh, tấu đàn
tại đó. Chúng ta biết t́nh h́nh ấy chẳng có ǵ lạ
lùng, nhưng nếu đem thứ ấy đến những
chỗ hẻo lánh tại Hoa Lục, trước nay họ
chưa hề trông thấy, sẽ bị dọa mất hồn!
Họ sẽ tưởng là quỷ đánh đàn, chẳng
có ai đánh, làm sao đàn có thể vang ra tiếng được?
Đó là v́ kiến thức rộng hay hẹp khiến cho
con người nhận biết sai lạc. Nhưng những
thứ do khoa học phát minh trong hiện thời vẫn c̣n
có phạm vi diễn tấu nhất định, v́ sao? Những
ca khúc diễn tấu đều được chúng ta thâu
nhập vào computer, [các bài nhạc do đàn tự động
diễn tấu] bị khống chế trong ấy (trong phạm
vi vận hành và bộ nhớ của computer). Tây
Phương Cực Lạc thế giới chẳng có, chẳng
cần dùng đến những thứ ấy. V́ vậy, những
thứ được diễn tấu là “thuận theo tâm chúng sanh, ứng với khả
năng nhận biết của họ”, thiên biến vạn hóa, chẳng bị hạn chế.
Thật sự là thiên nhạc, chẳng do con người tạo
ra.
八 種 清 風。從 光 明 出。鼓 此 樂 器。演 說 苦 空 無 常 無 我 之 音。是 為 水 想。名 第 二 觀。
(Tám thứ gió mát từ quang minh phát ra, tấu các nhạc
khí ấy, diễn nói các âm thanh Khổ, Không, Vô Thường,
Vô Ngă. Đấy là thủy tưởng, được gọi
là phép Quán thứ hai).
V́
sao thiên nhạc có thể vang ra tiếng? Ở đây
cũng nói cho chúng ta biết: Từ trong Phật quang, sanh ra
gió mát lay động nhạc khí. Nhạc khí diễn tấu
Phật pháp, giảng kinh, thuyết pháp. Nếu chúng ta lại
xét sâu hơn, những chuyện này đều do thần lực
của A Di Đà Phật biến hóa tạo ra. Không chỉ
là đức Phật thuyết pháp, mà Ngài c̣n biến hiện
những con chim thuyết pháp, trong phần sau chúng ta sẽ
thấy hữu t́nh thuyết pháp. Ở đây là vô t́nh
cũng thuyết pháp, t́nh và vô t́nh cùng diễn nói âm thanh vi diệu.
Đó là sự trang nghiêm khôn sánh trong thế giới Tây
Phương. Đó là phép Quán thứ hai. Lại xem phép Quán
thứ ba là Địa Quán, [hăy xem từ] hàng thứ ba
đếm từ dưới lên trong trang một trăm
năm mươi lăm.
此 想 成 時。一 一 觀 之。極 令 了 了。閉 目 開 目。不 令 散 失。唯 除 食 時。恆 憶 此 事。如 此 想 者。名 為 麤 見 極 樂 國 土。
(Khi tưởng này đă thành, bèn quán mỗi điều
sao cho tột bậc rành rẽ. Nhắm mắt, mở mắt,
chẳng bị tan mất. Chỉ trừ lúc ăn, luôn nhớ
đến chuyện này. Tưởng như vậy th́ gọi
là thấy cơi nước Cực Lạc về phần thô).
Từ
phần kinh văn này, chúng ta có một chút tin tức, thế
giới Cực Lạc do tâm tưởng của chúng ta biến
hiện. Thế giới Cực Lạc là như thế, mà
hết thảy các thế giới của mười
phương chư Phật đều chẳng ra ngoài lệ
ấy. Thật sự là hết thảy các pháp sanh từ
tâm tưởng. Kinh luận Duy Thức đă nói: “Tâm sanh tắc chủng chủng
pháp sanh, tâm diệt tắc chủng chủng pháp diệt” (tâm
sanh th́ các pháp sanh, tâm diệt th́ các pháp diệt), điều
ấy cũng được chứng thực trong kinh này.
Thế giới hiện thời do loạn tưởng của
chúng ta biến hiện, nên thế giới này rất loạn.
Do [người trong thế giới này] suy nghĩ lung tung,
nên tưởng ra thế giới này cũng lộn xộn.
Người trong thế giới Tây Phương chuyên tưởng,
nên thế giới của họ thanh tịnh. Họ chuyên
tưởng, c̣n chúng ta loạn tưởng, nên biến hiện
hai cảnh giới chẳng giống nhau. A Di Đà Phật
chuyên tưởng, hiện ra sự trang nghiêm thanh tịnh ấy.
Phàm là người văng sanh, cũng phải chuyên tưởng
giống như A Di Đà Phật th́ mới có thể hiện
cảnh giới giống như vậy. V́ thế, tâm chẳng
thanh tịnh, chẳng thể văng sanh Tịnh Độ! Dẫu
niệm Phật, mỗi ngày niệm mười vạn câu
Phật hiệu, vẫn chẳng thể văng sanh. Điều
kiện cơ bản để văng sanh là “tâm tịnh, ắt cơi nước tịnh”, như
vậy th́ mới có thể cảm ứng đạo giao
cùng Tây Phương Cực Lạc thế giới. Dưới
đây là đoạn tổng kết trong trang một
trăm năm mươi sáu. Chúng ta xem phần kinh văn
được in theo lối đảnh cách.
Nhược
đắc tam-muội, kiến bỉ quốc địa liễu
liễu phân minh, bất khả cụ thuyết, thị vi
địa tưởng, danh đệ tam quán.
若 得 三 昧。見 彼 國 地 了 了 分 明。不 可 具 說。是 為 地 想。名 第 三 觀。
(Nếu đắc tam-muội, sẽ thấy đất
trong cơi ấy rành rẽ, phân minh, chẳng thể nói trọn.
Đấy là địa tưởng, gọi là phép Quán thứ
ba).
Đây
là tổng kết. Nhất định là phải “đắc tam-muội”, bèn thấy
rơ ràng. Chẳng đắc tam-muội th́ là “thô kiến”, tức là thấy cảnh giới
tương tự. Nếu đắc tam-muội, tam-muội
ở đây thuộc loại Niệm Phật tam-muội,
kinh Di Đà gọi Niệm Phật tam-muội là “nhất
tâm bất loạn”. Niệm đến nhất tâm bất
loạn, cảnh giới này sẽ hết sức rơ ràng, thấy
rất thân thiết. Tiếp theo đây là nói đến lợi
ích.
佛 告 阿 難。汝 持 佛 語。為 未 來 世 一 切 大 眾 欲 脫 苦 者。說 是 觀 地 法。若 觀 是 地 者。除 八 十 億 劫。生 死 之 罪。捨 身 他 世。必 生 淨國。心 得 無 疑。
(Phật bảo A Nan: - Ông hăy vâng giữ lời Phật,
hăy v́ hết thảy đại chúng muốn thoát khổ trong đời vị lai
mà nói phép quán đất này. Người quán đất này,
sẽ trừ được tội trong tám mươi ức
kiếp sanh tử, khi xả báo thân, ắt sanh về cơi tịnh,
tâm chẳng ngờ vực).
Chú
giải đoạn này, lời Sớ do Trí Giả đại
sư nói. Trí Giả đại sư là một vị tu hành
chứng quả, chắc chắn sẽ chẳng nói sai lầm.
Tại Trung Hoa, các đời đều truyền tụng
Trí Giả đại sư là Thích Ca Mâu Ni Phật hóa thân tái
lai. Nếu lời này là thật, những ǵ Trí Giả đại
sư đă nói chính là lời Phật nói. “Sớ vân: Tiền thủy thị tưởng, bất
năng diệt tội” (Sớ rằng: “Phép quán tưởng
nước trong phần trước chẳng thể diệt
tội”). Những phép quán mặt trời và quán nước
trong phần trước là do tưởng tượng biến
hiện ra, chẳng thể diệt tội. V́ sao? Những
tướng ấy hoàn toàn là huyễn tướng, mở mắt,
các tướng ấy ở trước mặt; nhắm mắt,
các tướng ấy cũng ở trước mặt. “Địa quán thị thật, cố
năng đoạn trừ dă” (Quán đất là thật,
nên có thể đoạn trừ). Thật ra, cũng chẳng
thể nói điều đó là chân thật, “thật” chẳng
thể coi là chân thật, [bởi lẽ], những ǵ có h́nh
tướng đều là hư vọng. Thực tại là
chúng ta có “thật cảm”, [tức là] có cảm xúc [nhận
thấy chúng dường như là có thật], giống
như nay chúng ta thấy đại địa, thấy bàn,
ghế, ghế dài, đưa tay sờ mó bèn có cảm nhận
[chúng là] chân thật, nhưng chúng có phải là thật hay
không? Chẳng phải là thật, có ư nghĩa này. Chẳng
giống như tâm tưởng thấy mặt trời, quư
vị thấy, nhưng người khác chẳng thấy.
Quư vị mở mắt vẫn thấy, mà nhắm mắt
cũng thấy, nhưng người khác mở mắt hay
nhắm mắt đều chẳng thấy, tuy ở cùng một
chỗ mà đều chẳng thấy. V́ thế, [những
phép Quán mặt trời và nước] chẳng thể diệt
tội. C̣n [trong phép quán đất] này, có cảm nhận
chân thật, công phu sâu hơn những phép Quán trước,
v́ người ấy (người tu Quán) đă đắc
tam-muội, đương nhiên là diệt tội.
Tôn
giả Tứ Minh chú giải, tức là trong lời Sao, Ngài
có nói: “Sao vân, cái thác thử
phương thủy thành băng sự, đản thị
giả tưởng, cố danh ‘thô kiến’. Kim thành tam-muội,
thật kiến bỉ địa, tắc danh Thật Quán.
Ngôn ‘giả tưởng bất năng diệt tội’, thị
đại sư thuận kinh sách tấn, linh hành giả
tam-muội tốc thành, toàn phi giả tưởng bất
năng diệt tội. Hà dĩ tri nhiên? Nhật quán thượng
loại hạ hạ diệt tội chi số, khởi thô
kiến địa toàn bất trừ khiên ma?” (Lời
Sao viết: “Đây chính là do chuyện tưởng nước
đóng thành băng trong cơi này chỉ là giả tưởng,
nên gọi là ‘thô kiến’. Nay thành tựu tam-muội, thật
sự thấy đất trong cơi kia, nên gọi là Thật
Quán. Nói ‘giả tưởng chẳng thể diệt tội’
là đại sư thuận theo kinh văn để sách tấn,
ḥng làm cho hành giả mau chóng thành tựu tam-muội, hoàn toàn
chẳng phải là ‘giả tưởng chẳng thể diệt
tội’! V́ sao biết như thế? [Phần Sớ giảng
về] phép quán mặt trời c̣n liệt kê số lượng
tội đă diệt [của kẻ đă tu thành tựu phép
Quán ấy ở mức độ] hạ hạ. Há có phải
là thấy đất về phần thô bèn hoàn toàn chẳng
thể trừ diệt tội khiên ư?”). Như vậy là
Trí Giả đại sư nói kiểu này nhằm khích lệ
chúng ta tinh tấn, cũng có nghĩa là Nhật Quán thành tựu
hay Thủy Quán thành tựu đều có thể văng sanh.
Thành tựu bất cứ phép Quán nào trong mười sáu phép
Quán đều có thể văng sanh, đă văng sanh th́ có lẽ
nào chẳng diệt tội? Chỉ là mức độ diệt
tội có sâu hay cạn khác nhau! Dụng ư của Trí Giả
đại sư là mong mỏi chúng ta hăy nâng cao cảnh giới,
nên Ngài nói như vậy.
Tác
thị quán giả, danh vi chánh quán. Nhược tha quán giả,
danh vi tà quán.
作 是 觀 者。名 為 正 觀。若 他 觀 者。名 為 邪 觀。
(Quán như vậy th́ gọi là chánh quán. Nếu quán
khác đi th́ là tà quán).
Phần Sao giảng: “Quán dữ kinh hợp, tắc xứng tánh kiến,
danh vi chánh quán. Kiến tướng quai kinh, thị phát ma sự,
cố danh tà quán, hạ khứ giai nhiên” (Quán phù hợp với
kinh dạy sẽ là cái thấy xứng tánh, gọi là chánh
quán. Nếu thấy các tướng mâu thuẫn với kinh,
chính là ma sự phát khởi, nên gọi là tà quán. Từ
đây trở đi, đều [phán định sự quán
tưởng là tà hay chánh] giống như vậy). Từ
đây trở xuống, hễ gặp câu này th́ đều
có ư nghĩa này. Nói cách khác, tu hành nhất định phải
căn cứ trên lư luận và phương pháp do đức
Phật đă nói trong kinh điển, đó là chánh xác. Nếu
chúng ta tu học mâu thuẫn với lư luận trong kinh, trái
nghịch phương pháp, th́ hết thảy cảnh giới
đă trông thấy đều là ma cảnh. Thấy cảnh
giới tương ứng với kinh th́ là cảnh giới
tốt đẹp; cảnh giới chẳng tương ứng
với kinh chính là ma cảnh. Gần đây nhất, tại
Hương Cảng, dường như gần đây tại
Đài Loan cũng thấy có, xuất bản một tập
sách nhỏ, nghe nói hiện thời c̣n có h́nh vẽ, bản
tôi thấy ở Hương Cảng vẫn chưa có h́nh vẽ,
chỉ có văn tự, không có h́nh minh họa. Sách ấy nói
một vị pháp sư tại Đại Lục đến
thế giới Cực Lạc, quay về kể lại rất
nhiều chuyện trong thế giới Cực Lạc[2].
Hiện thời, tập sách nhỏ ấy được
lưu truyền ngày càng nhiều, càng truyền càng là ma! Gần
đây nhất, tại Đại Lục cũng có. Người
ở Đại Lục nhận biết sách ấy là tà tri
tà kiến, chẳng cho phép lưu thông. Tôi đến Đại
Lục lần này, có nghe nói [sách ấy] không được
phép lưu thông, nhưng ở hải ngoại, lưu thông với
số lượng rất nhiều!
Lần
đầu tiên tôi thấy sách ấy tại Hương Cảng,
pháp sư Sướng Hoài đưa cho tôi xem. Pháp sư
Sướng Hoài rất hoài nghi, Ngài nói: “Chỉ sợ chẳng
phải là thật”. Tôi xem tập sách nhỏ ấy, vừa
lật ra xem [liền biết] là giả, giả như thế
nào? Ông ta nói thế giới Cực Lạc có nữ nhân, chuyện
này chẳng phù hợp với kinh. Từ câu ấy, biết
sách ấy là giả trất. Ông ta nói [chính ḿnh] thấy hết
thảy chúng sanh trong thế giới Cực Lạc, tướng
mạo của hết thảy mọi người đều
khác nhau, đó là giả! Kinh đă dạy rơ ràng: Tới Tây
Phương Cực Lạc thế giới, tướng mạo
hoàn toàn giống nhau, làm sao có thể khác nhau cho được?
V́ thế, chắc chắn sách ấy lời
lẽ quái gở, tà vạy, nhằm mê hoặc chúng sanh. Nghe
nói hiện thời có rất nhiều người lầm
mê cuốn sách ấy, chẳng tin kinh do đức Phật
giảng, mà tin “kinh” do ông ta nói. Như vậy th́ có hỏng
bét hay là không? Đúng là tin tà, chẳng tin chánh, nghe lừa,
chẳng nghe theo lời khuyên, chẳng có cách nào hết!
Chúng sanh tội nghiệp, nghiệp chướng nặng lắm.
Từ điều này mà thấy được nghiệp
chướng
.
Chúng
ta lại xem phần tiếp theo là phép Quán thứ tư.
Phép Quán thứ tư là quán cây báu [được tŕnh bày]
trong trang một trăm năm mươi tám:
Phật
cáo A Nan cập Vi Đề Hy: “Địa tưởng thành
dĩ, thứ quán bảo thụ”.
佛 告 阿 難 及 韋 提 希。地 想 成 已。次 觀 寶 樹。
(Đức Phật bảo A Nan
và Vi Đề Hy: “Quán tưởng đất đă thành, kế
đó là quán cây báu).
Chúng
ta xem kinh văn trong trang một trăm năm mươi
chín.
觀 寶 樹 者。一 一 觀 之。作 七 重 行 樹 想。一 一 樹。高 八 千 由 旬。其 諸 寶 樹。七 寶 華 葉 無 不 具 足。
(Quán cây báu, quán từng điều một: Tưởng
bảy lớp hàng cây, mỗi cây cao tám ngàn do-tuần. Các cây
báu ấy, hoa và lá bằng bảy báu, không ǵ chẳng trọn
đủ).
Thật ra, phép Thụ
Quán khá khó khăn. Càng nói đến những phép Quán về
sau, cảnh giới càng thù thắng, càng vi tế, chẳng
dễ ǵ quán tưởng! Phải quán những cây ấy
rành mạch, cây lại cao đến tám ngàn do-tuần
như thế. Một do-tuần (yojana), chúng tôi nói theo cách
tính nhỏ nhất, Ấn Độ nói do-tuần là
đơn vị đo độ dài, có đại, trung, tiểu.
Đại do-tuần ứng với tám mươi dặm
Tàu[3], trung do-tuần là sáu mươi dặm, tiểu
do-tuần là bốn mươi dặm. Tính theo tiểu do-tuần,
bốn mươi dặm là một do-tuần. [Cây cao] tám
ngàn do-tuần, chỉ tưởng độ cao ấy không
thôi, e rằng đă chẳng thể tưởng nổi.
Làm sao quán tưởng thân, cành, lá, hoa, quả của cây ấy?
Do đó, xác thực là khá khó khăn! Cổ nhân nói: “Chúng ta ở
nơi đây, phàm phu tâm thô cảnh tế. Quán tưởng
khó thành, chẳng dễ ǵ quán thành công”. Lại xem những
tướng kế tiếp, đó là tế tướng
(tướng vi tế, tướng trạng chi tiết),
[hăy xem từ] hàng thứ hai từ dưới đếm
lên trong trang một trăm năm mươi chín.
Nhất
nhất hoa diệp.
一 一 華 葉。
(Mỗi
một hoa lá).
Mỗi
đóa hoa, mỗi phiến lá.
Tác dị
bảo sắc, lưu ly sắc trung xuất kim sắc
quang. Pha ly sắc trung, xuất hồng sắc quang.
作 異 寶 色。琉 璃 色 中。出 金 色 光。玻 璃 色 中,出 紅 色 光。
(Có màu báu lạ. Trong màu lưu ly, hiện ra ánh sáng màu
vàng ṛng. Trong màu pha lê, hiện ra ánh sáng đỏ).
Nay
chúng ta gọi pha lê là thủy tinh. Thời cổ không có thủy
tinh, pha lê [thời đó] nay gọi là “thủy tinh”, [pha lê]
chính là thủy tinh hiện thời.
瑪 瑙 色 中。出 硨 磲 光。硨 磲 色 中。出 綠 珍 珠 光。珊 瑚 琥 珀。一 切 眾 寶 以 為 映 飾。妙 珍 珠 網。彌 覆 樹 上。一 一 樹 上 有 七 重 網。一 一 網 間。有 五 百 億 妙 華 宮 殿。如 梵 王 宮。
(Trong sắc mă năo, tỏa ánh sáng
màu xa cừ. Trong màu xa cừ, tỏa ánh sáng màu lục trân
châu. San hô, hổ phách, hết thảy các thứ báu
trang hoàng chói ngời. Lưới trân châu mầu nhiệm
che phủ trên cây. Trên mỗi cây, có bảy tầng lưới.
Nơi giữa mỗi tầng lưới, có năm trăm
ức cung điện diệu hoa giống như cung Phạm
Vương).
Chúng
ta vừa đọc vừa tưởng tượng cảnh
giới này, tưởng tượng không ra! Tuy chúng ta là
phàm phu, phu nhân Vi Đề Hy cũng là phàm phu, nhưng bà ta
nghe đức Phật nói liền thuận theo lời giảng
ấy để nhập quán. Bộ kinh này được
giảng xong, phu nhân Vi Đề Hy liền chứng đắc
Vô Sanh Pháp Nhẫn, đắc Lư nhất tâm bất loạn.
Vị phu nhân này thiện căn sâu dầy, tâm tinh tế,
nên có thể thuận theo kinh văn để nhập quán,
hiện thời chúng ta chẳng quán được! “Năm trăm ức cung điện
diệu hoa”: Trong ấy c̣n có cung điện. Lại xem
trang kế tiếp là trang một trăm sáu mươi mốt.
Chư
thiên đồng tử, tự nhiên tại trung.
諸 天 童 子。自 然 在 中。
(Các đồng tử cơi trời
tự nhiên ở trong ấy).
Trong
cung điện có người.
Nhất
nhất đồng tử.
一 一 童 子。
(Mỗi một đồng tử).
Mỗi
một đứa bé trai.
Ngũ
bách ức Thích Ca Tỳ Lăng Già ma-ni, dĩ vi anh lạc.
五 百 億 釋 迦 毗 楞 伽 摩 尼 以 為 瓔 珞。
(Dùng năm trăm ức Thích Ca Tỳ Lăng Già ma-ni
làm anh lạc).
Mỗi
người trên thân đều trang sức bằng anh lạc.
“Anh lạc” [được
miêu tả] tỉ mỉ tới tột cùng. Trong chú giải
có giải thích chữ Thích Ca Tỳ Lăng Già Ma-ni (Śakrābhi Lagna-mani-ratna)[4], nói đơn giản
là Như Ư Bảo Châu. Xâu Như Ư Bảo Châu thành chuỗi
anh lạc.
Kỳ ma-ni quang, chiếu bách do-tuần, do như ḥa hợp
bách ức nhật nguyệt, bất khả cụ danh.
其 麾 尼 光。照 百 由 旬。猶 如 和 合 百 億 日 月。不 可 具 名。
(Ánh sáng ma-ni ấy chiếu xa một trăm do-tuần,
ví như ḥa hợp trăm ức mặt trời, mặt
trăng, chẳng thể kể trọn).
Sự
tốt đẹp này chẳng thể diễn tả
được.
Chúng bảo gián thác, sắc trung
thượng giả. Thử chư bảo thụ, hàng hàng
tương đương, diệp diệp tương thứ.
Ư chúng diệp gian, sanh chư diệu hoa. Hoa thượng
tự nhiên hữu thất bảo quả. Nhất nhất
thụ diệp, tung quảng chánh đẳng nhị
thập ngũ do-tuần, kỳ diệp thiên sắc, hữu
bách chủng hoạch.
眾 寶 間 錯。色 中 上 者。此 諸 寶 樹。行 行 相 當。葉 葉 相 次。於 眾 葉 間。生 諸 妙 華。華 上 自 然 有 七 寶 果。一 一 樹 葉。縱 廣 正 等 二 十 五 由 旬。其 葉 千 色 。有 百 種 畫。
(Các thứ báu xen lẫn, màu sắc thuộc bực
thượng. Các cây báu ấy, từng hàng đối nhau, từng
lá ngang nhau. Khoảng giữa các lá, sanh ra các loại hoa mầu
nhiệm. Trên hoa tự nhiên có quả
bảy báu. Mỗi chiếc lá lại to rộng kích thước
đến hai mươi lăm do-tuần. Lá ấy có ngàn
màu, có trăm đường gân).
“Hoạch” (畫) ở đây là
những đường gân trên lá.
Như thiên anh lạc.
Hữu chúng diệu hoa, tác Diêm Phù Đàn kim sắc, như
toàn hỏa luân, uyển chuyển diệp gian, dũng sanh
chư quả, như Đế Thích b́nh.
如 天 瓔 珞。有 眾 妙 華。作 閻 浮 檀 金 色。如 旋 火 輪。宛 轉 葉 間。涌 生 諸 果。如 帝 釋 瓶。
(Giống như chuỗi anh lạc cơi trời. Có
các thứ hoa mầu nhiệm mầu như vàng Diêm Phù Đàn[5],
giống như ṿng lửa xoay tṛn giữa các kẽ lá, sanh
ra các thứ quả giống như cái b́nh của Đế
Thích[6]).
Cảnh
để quán này, đừng nói là tưởng tỉ mỉ
chẳng nổi, ngay cả tưởng thô thiển cũng
chẳng tưởng được! Trong đoạn này,
pháp sư Đế Nhàn có giảng một vài câu, hăy xem từ
ḍng thứ hai đếm từ dưới lên trong trang một
trăm sáu mươi hai: “Thiết
vị” (trộm cho rằng), đây là lời của pháp
sư Đế Nhàn. “Thụ
vơng phi t́nh pháp dă” (lưới và cây chẳng phải là
pháp hữu t́nh), “phi t́nh” là
vô t́nh, nay chúng ta gọi nó là vật chất, tức là hoàn cảnh
vật chất, [bao gồm] cây báu, lưới, mành. “Đồng tử hữu t́nh
pháp dă” (đồng tử là pháp hữu t́nh), đó là
người. “Kim vơng gian xuất
cung điện” (nay giữa lưới, xuất hiện
cung điện), đây là cây báu. Cây báu rất nhiều, phía
trên che phủ lưới báu. Trong lưới tỏa ánh
sáng, trong ánh sáng hiện ra cung điện. Trong cung điện
có đồng tử; do đó, cung điện nơi lưới
báu ấy “cung điện xuất
chư đồng, t́nh dữ phi t́nh, hà thường nhất
định” (trong cung điện xuất hiện các
đồng tử, [như vậy th́] hữu t́nh và vô t́nh có
bao giờ là nhất định!), hoàn toàn giống hệt
cảnh giới “t́nh và vô t́nh
cùng viên thành Chủng Trí” trong kinh Hoa Nghiêm. “Nhân hữu tánh cụ, cố hữu
sự tạo. Tức dĩ thụ quán, lộ xuất bất
tư nghị cảnh giới, phi phàm tiểu sở suy
độ nhĩ” (Do tánh sẵn có đủ, nên có tạo
tác nơi mặt Sự. Dùng ngay phép quán cây báu để hiển
lộ cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, phàm phu và
Tiểu Thừa chẳng thể suy lường được).
Nói thật ra, ngay cả Quyền Giáo Bồ Tát cũng than
là tuyệt diệu! Cảnh giới ấy vẫn là vô
lượng đức năng vốn sẵn trọn đủ
trong Chân Như bản tánh. Trong khi tâm địa của
chúng ta thanh tịnh, cảnh giới thù thắng nhiệm mầu
ấy sẽ hiện tiền. Nay chúng ta nói đến cảnh
giới này, nhưng trên thực tế, cảnh giới chẳng
thể hiện tiền. Đức Phật đă giảng
giải, nhưng chúng ta chẳng có cách nào tưởng
tượng để quán tưởng. Đó là do phiền
năo, vô minh, nghiệp chướng của chúng ta quá nặng,
[khiến cho] công đức trong bản tánh chẳng thể
thấu lộ! [Thế nhưng] cảnh giới này vẫn
chưa thấm vào đâu, c̣n có quán cảnh mầu nhiệm
hơn. Hăy xem đoạn kinh văn tiếp theo.
Hữu đại
quang minh, hóa thành tràng phan, vô lượng bảo cái.
有 大 光 明。化 成 幢 幡 無 量 寶 蓋。
(Có quang minh lớn, hóa thành tràng
phan, vô lượng lọng báu).
Càng
chẳng thể nghĩ bàn! Trong quang minh hiện ra tràng phan,
lọng báu.
Thị bảo
cái trung, ánh hiện tam thiên đại thiên thế giới, nhất thiết Phật
sự, thập phương Phật quốc, diệc ư
trung hiện. Kiến thử thụ dĩ, diệc đương thứ
đệ nhất nhất quán chi.
是 寶 蓋 中。映 現 三 千 大 千 世 界。一 切 佛 事。十 方 佛 國。亦 於 中 現。見 此 樹 已。亦 當 次 第 一 一 觀 之。
(Trong lọng báu ấy, hiện bóng hết thảy Phật
sự trong tam thiên đại thiên thế giới, mười
phương cơi Phật cũng hiện trong ấy. Thấy
cây ấy rồi, cũng nên theo thứ tự để lần
lượt quán từng điều một).
V́
thế, nói “sanh về thế
giới Tây Phương là sanh vào các thế giới của
mười phương hết thảy chư Phật”,
v́ sao? Từ cây báu thấy trọn mười phương
vô lượng vô biên thế giới giống như chúng ta
đang xem TV trong hiện thời. Chúng ta ngồi trong nhà, những
chuyện phát sanh tại nơi nào đó trên toàn thế giới,
từ màn h́nh TV chúng ta đều thấy được.
Trong quang minh nơi cây báu của Tây Phương Cực Lạc
thế giới, có thể thấy tận hư không khắp
pháp giới hết thảy các cơi nước Phật, có thể
thấy hết thảy chư Phật đang giảng kinh,
thuyết pháp, hóa độ chúng sanh trong ấy, cũng có thể
thấy những chuyện vụn vặt trong cuộc sống
gia đ́nh của hết thảy chúng sanh, đều thấy
toàn bộ. V́ thế, đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới tốt lắm! Chúng ta ở trong thế giới
này, ví như quê tôi ở Đại Lục, tôi chẳng thấy
người nhà, đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới đều thấy, thấy hằng ngày,
luôn luôn thấy, hoàn toàn chẳng có chướng ngại. Lại
c̣n bảo cùng quư vị, đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới, không chỉ thấy thế giới
hiện tiền này, mà quá khứ cũng thấy, vị lai
cũng thấy. Mười phương ba đời, t́nh
và vô t́nh thảy đều hiện trong quang minh, chẳng
thể nghĩ bàn! Quư vị thật sự liễu giải
trạng huống trong thế giới Tây Phương, há có
lẽ nào chẳng cầu sanh? So sánh giữa hai thế giới
đôi chút, sẽ luôn hy vọng lập tức về ngay
bên đó. Đến nơi ấy mới thật sự là
hết thảy thành tựu, hết thảy thỏa nguyện.
Các nguyện vọng mà tâm ta nghĩ đến đều
được thực hiện, những điều
chưa nghĩ đến cũng hiện tiền. Câu cuối
cùng là lời tổng kết [được ghi] trong trang một
trăm sáu mươi bốn.
Quán
kiến thụ, hành, chi, diệp, hoa, quả, giai linh phân
minh, thị vi thụ tưởng, danh đệ tứ
quán.
觀 見 樹 莖 枝 葉 華 果。皆 令 分 明。是 為 樹 想。名 第 四 觀。
(Quán sao cho thấy cây, thân cây,
cành, lá, hoa, quả đều phân minh, đó là phép quán tưởng
cây báu, gọi là phép Quán thứ tư).
Dưới
đây là phép Quán thứ năm. Phép Quán thứ năm là quán
ao bảy báu.
Thứ đương tưởng thủy. Dục
tưởng thủy giả, Cực Lạc quốc độ,
hữu bát tŕ thủy.
次 當 想 水。欲 想 水 者。極 樂 國 土。有 八 池 水。
(Kế đó là tưởng nước. Muốn
tưởng nước th́ trong cơi nước Cực Lạc
có ao chứa nước tám công đức).
“Bát tŕ thủy” là nước
tám công đức, “bát”
nghĩa là nước trong ao có tám công đức, mang ư
nghĩa này. Hăy xem phần kinh văn kế tiếp nơi
ḍng thứ ba trong trang một trăm sáu mươi lăm.
一 一 池 水。七 寶 所 成。其 寶 柔 軟。從 如 意 珠 王 生。分 為 十 四 支。一 一 支 作 七 寶 妙 色。黃 金 為 渠。渠 下 皆 以 雜 色 金 剛 以 為 底 沙。一 一 水 中。有 六 十 億 七 寶 蓮 華。一 一 蓮 華。團 圓 正 等 十 二 由 旬。
(Nước trong mỗi ao do bảy báu hợp thành,
các thứ báu ấy mềm mại, từ Như Ư Châu
Vương sanh ra, chia thành mười bốn nhánh. Mỗi
nhánh có màu sắc đẹp đẽ của bảy thứ
báu. Vàng ṛng làm thành ao[7],
dưới đáy ao đều dùng kim cang nhiều màu để
làm cát phủ đáy. Trong mỗi ao có sáu mươi ức
hoa sen bằng bảy báu. Mỗi đóa hoa sen tṛn trặn,
to bằng mười hai do-tuần).
Dạy
chúng ta hăy quán ao bảy báu. Ao có lớn, nhỏ, vuông, tṛn. Những
ao bảy báu giống như vậy trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới cũng là vô lượng vô biên. Thế
giới Tây Phương thuộc loại Pháp Tánh Độ,
thật sự chẳng thể nghĩ bàn. Do đó, xưa
nay, kẻ hoài nghi thế giới Tây Phương rất nhiều.
Chúng sanh trong mười phương thế giới đều
văng sanh thế giới Tây Phương, rốt cuộc thế
giới Tây Phương lớn cỡ nào? Có thể dung nạp
hay chăng? Nhất là xem từ kinh điển, người
trong thế giới Tây Phương thân tướng lớn
như vậy, cây cối cũng to như vậy, nơi ấy
phải lớn cỡ nào th́ mới có thể dung nạp
được? V́ lẽ đó, vọng niệm ngày càng nhiều
hơn. Bất luận người ấy tưởng
tượng như thế nào, cũng chẳng có cách nào
tưởng tượng trạng huống trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới, mà cũng chẳng
có cách nào chứng thực. Đó là do chẳng hiểu
căn cứ lư luận. Chẳng giống các cơi nước
của chư Phật trong mười phương thế
giới, chúng ta thường nói các thế giới ấy do
Pháp Tướng tạo thành, chúng là Pháp Tướng độ,
c̣n Tây Phương Cực Lạc thế giới là Pháp Tánh
độ. Như kinh Hoa Nghiêm đă nói, Pháp Tánh là “một và nhiều vô ngại, Lư
Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”; pháp tướng
th́ có chướng ngại.
Hết
thảy các vật chất trong cơi chúng ta do đâu mà có? Quá
tŕnh biến hiện của chúng là do một niệm bất
giác mà có vô minh. Từ vô minh sanh ra ba tướng vi tế là
Nghiệp Tướng, Chuyển Tướng, Cảnh Giới
Tướng. Nghiệp Tướng là tướng động,
kinh Lăng Nghiêm nói bản tánh của nó là “bất thủ tự tánh”, chẳng tuân giữ tự
tánh bèn là Nghiệp Tướng của A Lại Da Thức.
Do không tuân giữ tự tánh, bèn lập tức biến thành
Kiến Tướng, biến thành Năng Kiến (cái chủ
thể có thể thấy), tức là nói đến Kiến
Phần trong bốn phần[8]. Nếu
Kiến Phần muốn thấy, sẽ biến thành Tướng
Phần. Tướng do đâu mà có? Tướng do Kiến
Phần biến ra. Nguyên lư của mười sáu phép Quán
được căn cứ trên điều này, quư vị
nhất tâm nhất ư muốn thấy, tướng liền
hiện ra. Do vậy, vật chất do đâu mà có? Vật
chất từ tinh thần biến hiện, tâm và vật có
cùng một nguồn. Tinh thần và vật chất đều
biến hiện từ tự tánh. Không chỉ Tướng
Phần là hư vọng, mà Kiến Phần cũng là hư
vọng. Kiến Phần là tám thức, năm mươi mốt
Tâm Sở, hai mươi bốn pháp bất tương ứng,
những thứ này đều thuộc về Kiến Phần.
Tướng Phần gồm mười một sắc pháp.
Hai pháp sắc và tâm đều là vật được biến
hiện bởi tự tánh. Đó là nói theo pháp tướng.
Tây Phương Cực Lạc thế giới là pháp tánh; do
đó, cảnh giới này là cảnh giới chẳng thể
nghĩ bàn.
Nếu
trong tương lai, trong khi chúng ta niệm Phật, niệm
Phật đến mức tâm thanh tịnh, duyên chín muồi,
Phật lực gia tŕ, chúng ta thấy cảnh giới này;
sau khi đă thấy, nhất định phải tưởng
giống hệt như trong kinh đă nói. Quư vị thấy
nước trong ao bảy báu hoàn toàn giống như kinh
đă nói, chẳng có mâu thuẫn! Đó là cảnh giới tốt
đẹp, đó là chánh quán. Nếu ta thấy khác với
kinh nói, [hăy nghĩ xem kinh dạy] nước trong ao bảy
báu do đâu mà có? Giống như trong cơi này, giống như
nước suối phun ra, Như Ư Châu là nguồn nước.
Sau khi từ nguồn nước ấy phun ra, nước
sẽ tách thành mười bốn nhánh. Nếu quư vị thấy
là mười ba nhánh tức là không đúng, chẳng phù hợp.
Nếu thấy mười lăm nhánh hoặc mười
sáu nhánh, cũng trật luôn! Quyết định là mười
bốn nhánh, quyết định chẳng sai! Đấy mới
là thật sự thấy Tịnh Độ, đó là chánh
quán. Nếu chẳng phải là như vậy, sẽ là tà
quán, sai mất rồi. Nước chẳng thể nghĩ
bàn, chúng ta lại xem kinh văn trong trang một trăm sáu
mươi bảy.
Kỳ ma-ni thủy, lưu chú hoa gian, tầm thụ
thượng hạ.
其 摩 尼 水。流 注 華 間。尋 樹 上 下。
(Nước ma-ni ấy
chảy rót vào trong hoa, lên xuống theo thân cây[9]).
Cảnh
giới này chẳng thể nghĩ bàn. Ở nơi đây,
chúng ta chỉ thấy nước chảy xuống, chẳng
thấy nước chảy ngược lên. Nước bên
cơi kia có thể lên cao, xuống thấp, không chỉ chảy
xuống, mà c̣n chảy ngược lên trên, hết sức
đẹp mắt.
Kỳ
thanh vi diệu.
其 聲 微 妙。
(Âm thanh ấy vi diệu).
Nước
không chảy sẽ chẳng có âm thanh. Nước vừa chảy
bèn có âm thanh, âm thanh ấy lại thuyết pháp.
Diễn
thuyết Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă, chư Ba La Mật.
演 說 苦 空 無 常 無 我 諸 波 羅 蜜。
(Diễn nói Khổ, Không, Vô
Thường, Vô Ngă, các Ba La Mật).
Phần kinh
văn này nằm trong hàng thứ hai trang một trăm sáu
mươi tám. Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă là
pháp Tiểu Thừa. Như chúng ta là phàm phu hoặc Tiểu
Thừa phát tâm, phát nguyện cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, chẳng đoạn phiền năo, tập
khí, nghe Phật, Bồ Tát, t́nh và vô t́nh thuyết pháp, quá nửa
là nói những pháp này, giúp cho chúng ta chuyển phiền năo
thành Bồ Đề, nên nghe những pháp ấy. Nếu là
chúng sanh căn tánh viên đốn, sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, họ sẽ
nghe pháp là các Ba La Mật. Do đó, câu này nói chung về Phật
pháp Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa, chắc chắn
là ứng cơ thuyết pháp. Ta muốn nghe pháp ǵ, tức
là ta cần thiết, mong được nghe pháp ấy, sau
khi đă nghe bèn đạt được pháp ích (lợi
ích nơi pháp), chẳng thể nghĩ bàn!
Phục hữu
tán thán chư Phật tướng hảo giả. Như Ư
Châu Vương dũng xuất kim sắc vi diệu quang
minh, kỳ quang hóa vi bách bảo sắc điểu, ḥa minh
ai nhă, thường tán niệm Phật, niệm Pháp, niệm
Tăng.
復 有 讚 歎 諸 佛 相 好 者。如 意 珠 王。涌 出 金 色 微 妙 光 明。其 光 化 為 百 寶 色 鳥。和 鳴 哀 雅。常 讚 念 佛 念 法 念 僧。
(Lại có âm thanh tán thán tướng
hảo của chư Phật. Như Ư Châu Vương tỏa
ra quang minh sắc vàng vi diệu. Quang minh ấy hóa thành các
loài chim có màu như trăm thứ báu, ḥa tiếng hót thánh
thót, du dương, thường ca ngợi niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng).
Cảnh
giới này hoàn toàn giống như Tiểu Bổn A Di Đà
Kinh và kinh Vô Lượng Thọ đă nói. Lời chú giải
khá hay, tuy văn tự không nhiều, nhưng chú giải khá
tỉ mỉ, chư vị đồng tu có thể dùng làm
[tài liệu] tham khảo. Cuối cùng là lời tổng kết
trong trang một trăm sáu mươi chín.
Thị
vi bát công đức thủy tưởng, danh đệ
ngũ quán.
是 為 八 功 德 水 想。名 第 五 觀。
(Đó là phép tưởng nước
tám công đức, gọi là phép Quán thứ năm).
Dưới
đây là phép Quán thứ sáu, Tổng Quán, [hăy xem từ] ḍng
thứ ba đếm từ dưới lên trong trang một
trăm bảy mươi.
Chúng
bảo quốc độ, nhất nhất giới thượng,
hữu ngũ bách ức bảo lâu.
眾 寶 國 土。一 一 界 上。有 五 百 億 寶 樓。
(Trong cơi nước bằng các thứ báu, nơi mỗi
khu vực có năm trăm ức lầu báu).
Đây
là nói tới lầu gác.
其 樓 閣 中。有 無 量 諸 天 作 天 伎 樂。又 有 樂 器 懸 處 虛 空。如 天 寶 幢。不 鼓 自 鳴。此 眾 音 中。皆 說 念 佛 念 法 念 比 丘 僧。
(Trong các lầu gác ấy, có vô lượng chư
thiên trỗi kỹ nhạc cơi trời. Lại có nhạc
khí treo lơ lửng trên hư không như tràng báu cơi trời,
không đánh mà tự kêu. Trong các âm thanh ấy, đều
nói niệm Phật, niệm Pháp, niệm tỳ-kheo
Tăng).
Đấy
là lầu báu, trong lầu gác có âm nhạc diễn tấu.
Bên ngoài lầu gác có thiên nhạc, những thứ âm nhạc
ấy đều đang thuyết pháp. Giảng kinh, thuyết
pháp nghe hồi lâu sẽ khô khan, vô vị, nên lại kèm theo
ca múa, [v́ thế], trong khi giải trí [người trong cơi Cực
Lạc] được huân tu Phật pháp. Do đó, nếu
nói theo cách hiện thời, giáo học tại Tây
Phương Cực Lạc thế giới là nghệ thuật.
Có thể nói là thế giới Tây Phương đă vận
dụng nghệ thuật đạt đến tột
đỉnh. V́ thế, kẻ thích ca hát, thích nhảy múa,
thích xem tuồng, hăy đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Thế giới Tây Phương kèm theo ca
múa, hoàn toàn khác Tiểu Thừa, Tiểu Thừa cấm ngặt
xem, nghe. Thế giới Tây Phương
khắp nơi đều là như vậy, lúc nào cũng
đều có thể thấy, lúc nào cũng đều có thể
nghe. Nội dung thuần túy là Phật pháp.
Trong
Đại Tạng Kinh có kịch bản, ca phổ[10]
đă thất truyền, nhưng ca từ vẫn c̣n. Tôi thấy
trong tập thứ hai của Trung Hoa Đại Tạng
Kinh có không ít bản ca từ, đều để hát, tức
là lời bài hát, nội dung hết sức phong phú, c̣n kịch
là kịch bản của B́nh Kịch[11],
tức Quy Nguyên Kính. Có lần tôi xuống phương Nam,
thấy Đài Trung Liên Xă in thành bản lưu hành riêng, lúc
đó, tôi thấy vậy rất hoan hỷ, xin họ mười
mấy bản mang về. Hai mươi mấy năm
trước, tôi đă từng xem Quy Nguyên Kính, nội dung
trong ấy là chuyện về Tịnh Độ Tông Huệ
Viễn đại sư, đó là đoạn thứ nhất.
Đoạn thứ hai là chuyện về Vĩnh Minh Diên Thọ
đại sư; đoạn cuối cùng là chuyện của
Liên Tŕ đại sư. Sự xuất gia, tu hành, hoằng
pháp của các Ngài đều được đưa lên
sân khấu biểu diễn. Lời ca cũng viết rất
hay, do người thuở trước biên soạn, họ
đă đưa Phật pháp lên biểu diễn trên sân khấu.
Khi ấy, tôi đọc tác phẩm đó xong, đă có ư
nghĩ: Nếu các đồng tu đang học kịch nghệ,
thật sự chịu phát tâm, biên soạn Đại Tạng
Kinh thành kịch bản truyền h́nh, chiếu trên đài
truyền h́nh, sẽ khiến cho ai nấy đều học
Phật tại nhà mà vẫn chẳng biết, phương
pháp này hay lắm.
Tây
Phương Cực Lạc thế giới đă vận dụng
hết thảy Phật pháp vào phương thức ca kịch
để giáo hóa chúng sanh. V́ lẽ đó,
học Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới là sống động, chẳng khô khan như vậy.
Suốt ngày từ sáng đến tối niệm Phật
khá vất vả, học Phật trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới là học tập có thể kèm theo ca
vũ. Chúng ta đọc cho hết đoạn cuối,
đoạn này là kết thúc.
此 想 成 已。名 為 麤 見 極 樂 世 界。寶 樹。寶 地。寶 池。是 為 總 觀 想。名 第 六 觀。
(Tưởng này đă thành th́ gọi là thấy thế
giới Cực Lạc về phần thô, [tức là thấy]
cây báu, đất báu, ao báu. Đây chính là phép tổng quán, gọi
là phép Quán thứ sáu).
Kế đó, c̣n
có một đoạn là phần Lợi Ích, xem hàng thứ
hai trong trang một trăm bảy mươi hai.
若 見 此 者。除 無 量 億 劫 極 重 惡 業。命 終 之 後。必 生 彼 國。作 是 觀 者。名 為 正 觀。若 他 觀 者。名 為 邪 觀。
(Nếu thấy những điều này, sẽ trừ
ác nghiệp cực nặng trong vô lượng ức kiếp.
Sau khi mạng chung, ắt sanh về cơi ấy. Quán như vậy
th́ gọi là chánh quán. Nếu hắn khác đi th́ là tà quán).
Được
rồi! Chúng tôi giảng tới chỗ này.
Tập
23
Xin xem trang một trăm bảy
mươi hai, hàng cuối cùng. Phép Quán thứ bảy là quán
chánh báo, đây là Hoa Ṭa Quán.
Phật cáo A Nan cập Vi
Đề Hy: - Đế thính, đế thính, thiện
tư niệm chi! Ngô đương vị nhữ phân
biệt, giải thuyết trừ khổ năo pháp, nhữ
đẳng ức tŕ, quảng vị đại chúng phân
biệt giải thuyết.
佛 告 阿 難 及 韋 提 希。諦 聽 諦 聽。善 思 念 之。吾 當 為 汝 分 別 解 說 除 苦 惱 法。汝 等 憶 持。廣 為 大 眾 分 別 解 說。
(Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy: - Lắng nghe,
lắng nghe! Hăy khéo suy nghĩ! Ta nay sẽ v́ các ngươi
phân biệt, giải thích pháp trừ khổ năo. Các
ngươi hăy ghi nhớ, vâng giữ, rộng v́ đại
chúng phân biệt, giải thích).
Trong
đoạn kinh văn này, “đế
thính” là Văn Huệ, “thiện
tư” là Tư Huệ, “niệm
chi” là Tu Huệ, Tam Huệ Văn, Tư, Tu. Kinh đă nói
minh bạch “trừ khổ năo
pháp”. Mọi người đều cảm thấy rất
khổ năo. Làm thế nào để diệt trừ pháp khổ
năo? Trong chương này, đức Phật sẽ dạy
chúng ta pháp trừ khổ năo. Nếu chúng ta học hiểu,
sẽ cũng có thể diệt trừ khổ năo giống
như bà Vi Đề Hy. Hăy xem kinh văn:
Thuyết
thị ngữ thời, Vô Lượng Thọ Phật trụ
lập không trung. Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, thị
nhị đại sĩ thị lập tả hữu, quang
minh xí thịnh, bất khả cụ kiến, bách thiên Diêm
Phù Đàn kim sắc, bất đắc vi tỷ.
說 是 語 時。無 量 壽 佛 住 立 空 中。觀 世 音。大 勢 至。是 二 大 士 侍 立 左 右。光 明 熾 盛。不 可 具 見。百 千 閻 浮 檀 金 色。不 得 為 比。
(Lúc nói lời ấy, Vô Lượng Thọ Phật
đứng trên không trung. Hai vị đại sĩ Quán Thế
Âm và Đại Thế Chí đứng hầu hai bên, quang
minh chói lọi, chẳng thể thấy trọn. Màu sắc
của trăm ngàn vàng Diêm Phù Đàn chẳng thể sánh bằng).
Trong
kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn đă dạy
A Nan và đại chúng: Nếu muốn thấy A Di Đà Phật,
hăy nên nhất tâm đảnh lễ, khen ngợi, A Di Đà
Phật liền hiện tiền. Ở đây, trong phần
trước, đức Phật dùng thần lực thị
hiện các cơi Phật cho phu nhân Vi Đề Hy thấy. Kinh
giảng đến chỗ này, A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế
Chí, tức Tây Phương Tam Thánh hiện thân ở nơi
đây, đều nhằm chứng minh cho chúng ta thấy
tánh chất chân thật của bộ kinh này. Trong kinh Vô
Lượng Thọ, những người thấy khi ấy,
không kể hàng Bồ Tát, chỉ tính riêng đại chúng dự
hội, chư thiên cũng không tính, khi chỉ tính riêng nhân
gian, bèn có hai vạn người tham dự pháp hội ấy.
Tỳ-kheo xuất gia là một vạn hai ngàn người,
tức là cư sĩ, quốc vương, đại thần…
[nói đúng ra là] hơn hai vạn người. Ở đây
là hoàng cung, nhằm lúc phu nhân Vi Đề Hy bị giam cầm,
trong cung chỉ có năm trăm cung nữ hầu hạ
hoàng hậu. Những người thấy Tây Phương
Tam Thánh ở đây là A Nan, Mục Liên, phu nhân Vi Đề
Hy và năm trăm cung nữ. Do đó, cũng chẳng phải
là một người thấy, mà là đại chúng thấy,
chúng ta phải nên tin tưởng. Chớ nên nghĩ: Kinh viết
như vậy, nhưng ta chẳng thấy, những ǵ bản
thân chúng ta chẳng thấy nhiều lắm! Người
đông ngần ấy trông thấy, chúng ta hăy nên tin sâu, chẳng
ngờ. Tây Phương thế giới Di Đà Tam Thánh quyết
định chẳng phải là giả. Chúng ta xem kinh
văn:
Thời Vi Đề
Hy kiến Vô Lượng Thọ Phật dĩ, tiếp túc
tác lễ, bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Ngă kim nhân Phật
lực cố, đắc kiến Vô Lượng Thọ Phật
cập nhị Bồ Tát, vị lai chúng sanh đương
vân hà quán Vô Lượng Thọ Phật cập nhị Bồ
Tát.
時 韋 提 希 見 無 量 壽 佛 已。接 足 作 禮。白 佛 言。世 尊。我 今 因 佛 力 故。得 見 無 量 壽 佛 及 二 菩 薩。未 來 眾 生。當 云 何 觀 無 量 壽 佛 及 二 菩 薩。
(Khi ấy, Vi Đề Hy thấy
Vô Lượng Thọ Phật rồi bèn làm lễ áp sát chân
Phật, bạch đức Phật rằng: “Bạch đức
Thế Tôn! Con nay do Phật lực nên được thấy
Vô Lượng Thọ Phật và hai vị Bồ Tát. Chúng
sanh trong đời mai sau hăy nên quán Vô Lượng Thọ Phật
và hai vị Bồ Tát như thế nào?”)
Vi
Đề Hy phu nhân thấy Tây Phương Tam Thánh liền
lập tức đảnh lễ, “tiếp túc tác lễ” là cách đảnh lễ cung
kính nhất. Trong chú giải đă nói rơ, chẳng phải là
bà ta lễ bái Tây Phương Tam Thánh, mà là lễ bái Thích Ca
Mâu Ni Phật, nên trong những câu tiếp đó, bà ta
thưa hỏi Thích Ca Mâu Ni Phật. Bà ta thấy Tây
Phương Tam Thánh, chúng sanh trong đời tương lai
phải như thế nào th́ mới có cơ duyên được
Phật lực gia tŕ thấy Tây Phương Tam Thánh giống
như tôi? Có thể thấy phu nhân tâm lượng khác hẳn
[vua Tần Bà Sa La], chính ḿnh vừa mới đạt
được lợi ích, đă ngay lập tức nghĩ
đến hết thảy chúng sanh. Không chỉ nghĩ
đến chúng sanh thuở ấy, mà c̣n nghĩ đến
chúng sanh trong đời tương lai sau này, điều
này đáng để chúng ta học tập, đáng cho chúng
ta làm theo. Đó là tâm Đại Thừa, là Bồ Đề
tâm. Chúng ta xem kinh văn:
Phật
cáo Vi Đề Hy: - Dục quán bỉ Phật giả,
đương khởi tưởng niệm, ư thất
bảo địa thượng, tác liên hoa tưởng.
佛 告 韋 提 希。欲 觀 彼 佛 者。 當 起 想 念,於 七 寶 地 上 作 蓮 華 想。
(Đức Phật bảo bà Vi Đề Hy: “Muốn
quán đức Phật ấy, hăy nên dấy lên tưởng
niệm, trên đất bảy báu, tưởng có hoa sen).
Đây
là dạy chúng ta phương pháp quán tưởng Phật, Bồ
Tát. Hăy xem kinh văn:
Linh kỳ
liên hoa nhất nhất diệp thượng, tác bách bảo
sắc. Hữu bát vạn tứ thiên mạch, do như thiên
họa. Mạch hữu bát vạn tứ thiên quang, liễu
liễu phân minh, giai linh đắc kiến. Hoa diệp tiểu
giả, tung quảng nhị bách ngũ thập do-tuần,
như thị liên hoa, cụ hữu bát vạn tứ thiên diệp.
令 其 蓮 華 一 一 葉 上 作 百 寶 色。 有 八 萬 四 千 脉。猶 如 天 畫。脉 有 八 萬 四 千 光。了 了 分 明。皆 令 得 見。華 葉 小 者。縱 廣 二 百 五 十由 旬。如 是 蓮 華。具 有 八 萬 四 千 葉。
(Sao cho hoa sen ấy mỗi cánh có màu của trăm thứ
báu. Hoa có tám vạn bốn ngàn mạch, giống như nét vẽ
cơi trời. Mỗi mạch có tám vạn bốn ngàn ánh sáng,
đều quán sao cho thấy rành rẽ, rơ ràng. Cánh hoa nhỏ
có kích thước là hai trăm năm mươi do-tuần.
Hoa sen như thế có tám vạn bốn ngàn cánh).
Phần
trước là nói đến quán Phật, nay là trước
hết quán từ hoa sen. Trước hết, quán ṭa sen báu của
đức Phật, quán bắt đầu từ chỗ
này. Lại xem kinh văn trong trang một trăm bảy
mươi sáu.
Nhất
nhất diệp gian.
一 一 葉 間。
(Trong mỗi cánh hoa).
Đây
là khoảng giữa cánh hoa sen và lá sen.
Hữu bách ức ma-ni châu
vương dĩ vi ánh sức, nhất nhất ma-ni châu
phóng thiên quang minh. Kỳ quang như cái, thất bảo hợp
thành, biến phú địa thượng.
有 百 億 摩 尼 珠 王 以 為 映 飾。一 一 摩 尼 珠。放 千 光 明。其 光 如 蓋。七 寶 合 成。遍 覆 地 上。
(Có trăm ức ma-ni châu vương trang hoàng chói lọi,
mỗi một viên ma-ni châu tỏa ra ngàn tia quang minh. Quang
minh ấy như cái lọng do bảy báu hợp thành, che khắp
mặt đất).
Đây là nói sự
trang nghiêm trên bản thể của hoa. Ở khoảng giữa
hoa và lá giao nhau, c̣n có nhiều thứ trân bảo trang hoàng.
Đă thế, thứ nào cũng đều phóng quang, mỗi
viên ma-ni châu đều tỏa ánh sáng. Nói thật ra, hoa
cũng tỏa ánh sáng, mà lá cũng tỏa ánh sáng.
Thích
Ca Tỳ Lăng Già bảo dĩ vi kỳ đài.
釋 迦 毗 楞 伽 寶 以 為 其 臺。
(Dùng báu Thích Ca Tỳ Lăng Già
làm đài hoa).
Trong
phần trước, chúng ta đă thấy chất báu này, nó
là Như Ư bảo.
Thử
liên hoa đài, bát vạn kim cang chân thúc ca bảo, phạm
ma-ni bảo, diệu trân châu vơng, dĩ vi hiệu sức.
此 蓮 華 臺。八 萬 金 剛 甄 叔 迦 寶。梵 摩 尼 寶。妙 珍 珠 網。以 為 校 飾。
(Đài sen ấy được trang hoàng bằng tám
vạn kim cang chân thúc ca bảo, Phạm ma-ni bảo và
lưới trân châu mầu nhiệm).
“Hiệu sức” (校飾) là trang hoàng trên đài sen. Trong phần sau có chú giải
về Chân Thúc Ca (Kimśuka)[12], đó là một
chất báu có màu đỏ. Lại xem kinh văn.
Ư
kỳ đài thượng, tự nhiên nhi hữu tứ trụ
bảo tràng, nhất nhất bảo tràng, như bách thiên vạn
ức Tu Di sơn, tràng thượng bảo mạn, như
Dạ Ma thiên cung. Phục hữu ngũ bách ức vi diệu
bảo châu, dĩ vi ánh sức. Nhất nhất bảo châu,
hữu bát vạn tứ thiên quang. Nhất nhất quang tác
bát vạn tứ thiên dị chủng kim sắc.
於 其 臺 上。自 然 而 有 四 柱 寶 幢。一 一 寶 幢。如 百 千 萬 億 須 彌 山。幢 上 寶 幔。如 夜 摩 天 宮。復 有 五 百 億 微 妙 寶 珠。以 為 映 飾。一 一 寶 珠。有 八 萬 四 千 光。一 一光。作 八 萬 四 千 異 種 金 色。
(Trên đài ấy, tự nhiên có bốn trụ tràng
báu. Mỗi một tràng báu như trăm ngàn vạn ức
núi Tu Di. Trên tràng giăng màn báu như cung trời Dạ Ma.
Lại có năm trăm ức bảo châu vi diệu trang
hoàng chói ngời. Mỗi một bảo châu có tám vạn bốn
ngàn ánh sáng; mỗi một tia sáng có tám vạn bốn ngàn màu
vàng khác loại).
Nh́n
từ đoạn kinh văn này, trước hết nói rơ
màu sắc và số lượng hoa sen, sau đó mới nói tới
quang minh của các bảo châu trong hoa. Rồi lại quán
đài hoa, lưới báu, lại nh́n thấy những thứ
trang sức trên đài hoa. Những thứ trang sức trên
đài sen gồm có tràng báu, bảo châu, đều tỏa
quang minh. Đoạn kế tiếp trong trang một trăm
bảy mươi tám nhằm nói về tác dụng của
nó.
Nhất nhất
kim sắc, biến kỳ bảo độ, xứ
xứ biến hóa, các tác dị tướng, hoặc vi kim cang đài, hoặc tác trân châu vơng, hoặc
tác tạp hoa vân, ư thập phương diện, tùy ư biến
hiện, thi tác Phật sự. Thị vi hoa ṭa tưởng,
danh đệ thất quán.
一 一 金 色。遍 其 寶 土。處 處 變 化。各 作 異 相。或 為 金 剛 臺。或 作 珍 珠 網。或 作 雜 華 雲。於 十 方 面 隨 意 變 現。施 作 佛 事。是 為 華 座 想。名 第 七 觀。
(Mỗi một sắc
vàng trọn khắp cơi ấy, biến hóa khắp nơi, ở
mỗi nơi đều hiện tướng lạ: Hoặc
là đài kim cang, hoặc biến thành lưới trân châu, hoặc
thành mây các loại hoa, tùy ư biến hiện trong mười
phương, thực hiện Phật sự. Đó là quán
tưởng hoa ṭa, là phép Quán thứ bảy).
Ở
đây, có một câu phải đặc biệt chú ư. Trong phần
trước, tôi đă nói các thứ trang nghiêm, nhưng vẫn
chưa nói đến tượng Phật, chỉ là nh́n vào
hoa sen, ṭa sen, đài sen của đức Phật mà thôi. Câu
“thi tác Phật sự” rất
trọng yếu. “Phật sự”
là giáo hóa chúng sanh, giúp chúng sanh phá mê, khai ngộ, ĺa khổ,
được vui, đó là Phật sự. Ṭa sen của Phật
trang nghiêm như vậy. Hoa sen cũng có thể khiến cho
chúng sanh thấy sắc, nghe tiếng, trông thấy quang minh ấy
đều có thể diệt tội, tăng phước,
đều có thể phá mê, khai ngộ. Đó mới là hiển
thị y báo và chánh báo trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn
trong thế giới Tây Phương. Đoạn kinh văn
kế tiếp cho chúng ta biết những thứ trang nghiêm ấy
do đâu mà có, xin hăy xem kinh văn.
Phật cáo A Nan: - Như thị
diệu hoa, bổn thị Pháp Tạng tỳ-kheo nguyện
lực sở thành.
佛 告 阿 難。如 此 妙 華。本 是 法 藏 比 丘 願 力 所 成。
(Phật bảo A Nan: - Hoa mầu
nhiệm như thế vốn do nguyện lực của tỳ-kheo
Pháp Tạng tạo thành).
Do
đó, quy kết về cuối cùng, vẫn là do bốn
mươi tám nguyện của A Di Đà Phật thành tựu.
Từ kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta thấy đức
Phật đă phát nguyện, năm kiếp tu hành, thành tựu
trang nghiêm thế giới. Trong kinh này, những ǵ chúng ta
được đọc và trông thấy đều do bốn
mươi tám nguyện thành tựu. Hăy xem trang một
trăm bảy mươi chín.
Nhược
dục niệm bỉ Phật giả, đương tiên
tác thử hoa ṭa tưởng.
若 欲 念 彼 佛 者。當 先 作 此 華 座 想。
(Nếu muốn niệm đức
Phật ấy, trước hết hăy nên tưởng hoa
ṭa này).
“Niệm” ở đây là quán
tưởng niệm Phật, trước khi chưa quán
tượng Phật, hăy quán hoa ṭa trước.
Tác
thử tưởng thời, bất đắc tạp quán,
giai ưng nhất nhất quán chi, nhất nhất diệp,
nhất nhất châu, nhất nhất quang, nhất nhất
đài, nhất nhất tràng, giai linh phân minh, như ư
kính trung, tự kiến diện tượng. Thử tưởng
thành giả, diệt trừ ngũ vạn ức kiếp
sanh tử chi tội, tất định đương
sanh Cực Lạc thế giới. Tác thị quán giả,
danh vi chánh quán. Nhược tha quán giả, danh vi tà quán.
作 此 想 時。不 得 雜 觀。皆 應 一 一 觀 之。一 一 葉。一 一 珠。一 一 光。一 一 臺。一 一 幢。皆 令 分 明。如 於 鏡 中。自 見 面 像。此 想 成 者。滅 除 五 萬 億 劫 生 死 之 罪。必 定 當 生 極 樂 世 界。作 是 觀 者。名 為 正 觀。若 他 觀 者。名 為 邪 觀。
(Khi quán tưởng phép này, chớ nên tạp quán, hăy
đều nên quán từng điều một. Mỗi một
cánh hoa, mỗi một viên châu, mỗi một ánh sáng, mỗi
một đài, mỗi một tràng đều quán phân minh,
như từ trong gương, tự thấy vẻ mặt.
Phép quán tưởng này đă thành, sẽ diệt trừ tội
trong năm vạn ức kiếp sanh tử, nhất định
trong tương lai sẽ sanh về thế giới Cực
Lạc. Quán như vậy th́ là chánh quán. Nếu quán khác
đi sẽ là tà quán).
Trong
phần chú giải cho đoạn này có mấy câu, chúng ta
đọc xong liền hiểu rơ, lại c̣n biết tầm
quan trọng của sự chuyên nhất trong tu học. “Thủ cú niệm, tác quán khán”
(Hăy nên hiểu chữ Niệm trong câu đầu tiên là
Quán), đó là Quán Tưởng Niệm Phật. “Quán tưởng tu chuyên, nhất
bất khả giáp tạp, thiểu nhất bất thận,
quán tức bất thành” (Quán tưởng th́ cần phải
chuyên, chẳng được xen tạp. Hễ chẳng cẩn
thận một chút, sẽ chẳng quán thành công). Cảnh giới
được giảng trong kinh quả thật quá vi tế.
Suy gẫm lời cổ nhân, chúng ta [sẽ nhận thấy]
tâm chúng sanh trong cơi Diêm Phù Đề quá thô thiển, cảnh
giới quá vi tế, quán tưởng rất khó thành tựu!
Càng về sau, sự quán tưởng càng tinh tế, đối
với đài hoa mà chúng ta đă chẳng có cách nào quán tưởng,
phần sau lại nói tới thánh tượng, càng chẳng
dễ dàng, càng khó khăn! Ở đây, chúng ta biết một
nguyên tắc là “phải chuyên”, quyết định chẳng
thể xen tạp. Nói thật ra, chúng ta tu học hiện thời
phạm lỗi lầm lớn nhất là xen tạp; v́ thế,
tu học đă lâu mà chẳng thể thành tựu. Đọc
kinh, đọc lời khai thị của cổ đức,
tuy [các Ngài] luôn luôn nhắc nhở, chỉ dạy chúng ta
như vậy, nhưng chúng ta rất hàm hồ, lơ mơ
đọc lướt qua, chẳng biết mối quan hệ
có tánh chất trọng yếu giữa câu nói ấy và sự
thành bại trong sự tu học suốt một đời
chúng ta.
Niệm
Phật là một trong mười sáu phép Quán. Ở đây
nói đến “chẳng thể xen tạp”, niệm Phật
cũng vậy, cũng chẳng thể xen tạp. Do vậy,
tôi dạy các đồng tu phương pháp, quư vị phải
thật sự chịu làm. Nói thật thà th́ công phu cũng
chưa tới ba năm hoặc năm năm đều có
thể làm được, tu mà không đến mức ấy
tức là chính quư vị sai lầm. Do đó, một câu Phật
hiệu quyết định chẳng thể gián đoạn,
chẳng thể xen tạp, trong ba
năm hay năm năm chắc chắn sẽ thành tựu.
Không xen tạp là công phu chân chánh, khởi một niệm là
xen tạp. Hễ xen tạp, tất nhiên là gián đoạn,
gián đoạn bèn xen tạp; chẳng phải là xen tạp
vọng tưởng, th́ là xen tạp vô minh. Tâm ấy chẳng
thể chuyên nhất, ở đây nói là “thiểu nhất bất thận,
quán tức bất thành” (hễ chẳng cẩn thận
đôi chút, phép Quán ấy sẽ chẳng thể thành).
Hơi thiếu cẩn thận, công phu bị mất đi.
Do đó, trước hết khuyên chư vị niệm
kinh, niệm kinh nhuần nhuyễn, niệm đến mức
có thể đọc thuộc ḷng. Đọc thuộc ḷng rất
thuần thục, sau đấy mới bắt đầu
tu hành. Tu hành th́ phải là niệm bộ kinh này từ đầu
đến đuôi, chẳng thể có một vọng tưởng.
Kinh này không dài, chúng ta chọn kinh Vô Lượng Thọ
cũng chẳng dài! Khi niệm đến mức có thể
đọc thuộc ḷng, niệm bộ kinh này từ đầu
đến cuối một lượt cũng chẳng lâu
hơn nửa giờ. Trong nửa giờ, chẳng khởi
một vọng niệm, công phu ấy cũng khá lắm. Nếu
dấy lên vọng niệm sẽ chẳng tính, lượt
tụng kinh ấy chẳng tính, lại niệm từ đầu
đến cuối, xem thử mỗi ngày có thể niệm
mấy bộ.
Nếu
một ngày có thể niệm năm bộ, hoặc mười
bộ đều chẳng dấy vọng niệm, xét theo
Ngũ Nhẫn Bồ Tát, quư vị đă đắc môn thứ
nhất là Phục Nhẫn; trong Tịnh Độ nói đó
là “công phu thành phiến”. Sau đó, quư vị chẳng niệm
kinh, mà chuyên niệm một câu Phật hiệu A Di Đà Phật
là được rồi. Đấy là “một niệm tương ứng một niệm Phật,
niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”,
công phu mới đắc lực! Công phu niệm Phật hiệu
của chúng ta chẳng đắc lực là do vừa niệm
Phật, vừa dấy vọng tưởng, xen tạp. V́
vậy, “quán tức bất
thành” (quán cũng chẳng thành); Niệm Phật cũng
là Quán, cho nên cũng chẳng thể thành tựu, đạo
lư ở chỗ này. Nếu niệm thành công, liền diệt
tội; chư vị biết tội là ǵ vậy? Tội là
vọng tưởng, chẳng có vọng tưởng,
đương nhiên tội tiêu diệt. Tội đă diệt,
tâm liền thanh tịnh, tâm thanh tịnh là phước. Tâm thanh
tịnh khởi tác dụng là huệ, phước huệ
đều hiện tiền, há có lẽ nào chẳng sanh về
Tây Phương? Chúng ta lại xem đoạn kế tiếp.
Đoạn kế tiếp quan trọng lắm. Đó là phép
quán thứ tám, tức Thánh Tượng Quán.
Phật
cáo A Nan cập Vi Đề Hy: Kiến thử sự dĩ.
佛 告 阿 難。及 韋 提 希。見 此 事 已。
(Phật bảo A Nan và Vi Đề
Hy: - Trông thấy chuyện ấy rồi).
“Kiến thử sự dĩ”
là nói đến đài hoa trên hoa sen.
Thứ
đương tưởng Phật, sở dĩ giả
hà? Chư Phật Như Lai thị pháp giới thân, nhập
nhất thiết chúng sanh tâm tưởng trung. Thị cố
nhữ đẳng tâm tưởng Phật thời, thị
tâm tức thị tam thập nhị tướng, bát thập
tùy h́nh hảo, thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật.
Chư Phật Chánh Biến Tri hải tùng tâm tưởng
sanh.
次 當 想 佛。所 以 者 何。諸 佛 如 來 是 法 界 身。入 一 切 眾 生 心 想 中。是 故 汝 等 心 想 佛 時。是 心 即 是 三 十 二 相。八 十 隨 形 好。是 心 作 佛。是 心 是 佛。諸 佛 正 遍 知 海。從 心 想 生。
(Kế đó, hăy nên tưởng Phật. Do v́ lẽ
nào? Chư Phật Như Lai là pháp giới thân vào trong tâm
tưởng của hết thảy chúng sanh. V́ thế, khi
tâm các ngươi tưởng Phật, tâm này chính là ba
mươi hai tướng, tám mươi tùy h́nh hảo. Tâm
này làm Phật, tâm này là Phật. Biển Chánh Biến Tri của
chư Phật sanh từ tâm tưởng).
Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ,
tốt nhất là phải niệm thuộc ḷng đoạn
kinh văn này, đoạn Tam Phước trong phần
trước cũng phải niệm thuộc, đoạn
này phải niệm thuộc. Nói thật ra, Tam Phước
chính là Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta: Con đường
để phàm phu tu học thành Phật phải đi
như thế nào! Quư vị chẳng nhớ, th́ làm sao được?
Đoạn này nói về lư luận thành Phật: V́ sao niệm
Phật có thể thành Phật? Bất luận quư vị tu
Quán Tưởng Niệm Phật, Quán Tượng Niệm
Phật, Tŕ Danh Niệm Phật, hay Thật Tướng Niệm
Phật, lư luận đều ở trong đoạn này, thuộc
trong ba ḍng kinh văn này. Nhất định phải niệm
thuộc ḷng ba ḍng kinh văn này! Quư vị thấy các vị
tổ sư đại đức từ xưa chú giải
kinh hoặc giảng kinh thường trích dẫn đoạn
kinh văn này, ở đây chúng ta thấy nguyên văn. Câu “sở dĩ giả hà?” [là câu
dẫn nhập] nhằm nêu ra nguyên lư. “Chư Phật Như Lai là pháp giới thân”,
chư Phật Như Lai có tướng hay không? Chẳng có
tướng! Có thân hay chăng? Chẳng có thân! “Nhập nhất thiết chúng
sanh tâm tưởng trung” (vào trong tâm tưởng của
hết thảy chúng sanh), thân của chư Phật Như
Lai là tận hư không khắp pháp giới, được
gọi là Pháp Thân của Phật. “Pháp giới thân” là Pháp Thân. Pháp Thân, tiếng Phạn
là Tỳ Lô Giá Na, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Biến
Nhất Thiết Xứ, v́ nó trọn khắp hết thảy
mọi nơi. Do đó mới “nhập
nhất thiết chúng sanh tâm tưởng trung” (vào trong
tâm tưởng của hết thảy chúng sanh), đó là
nguyên lư.
“Thị cố, nhữ đẳng
tâm tưởng Phật thời, thị tâm tức thị
tam thập nhị tướng, bát thập tùy h́nh hảo”
(v́ vậy, khi tâm các ngươi tưởng Phật, tâm ấy
chính là ba mươi hai tướng, tám mươi tùy h́nh hảo).
Tưởng Phật, tâm quư vị bèn làm Phật. Tưởng
Phật là như thế. Tưởng Bồ Tát sẽ làm Bồ
Tát, tưởng thiên liền sanh thiên, tưởng nhân liền
vào nhân đạo. Tưởng ngũ dục, lục trần,
tham, sân, si, mạn, liền biến thành súc sanh, biến
thành ngạ quỷ, biến thành địa ngục. Y báo và
chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều do
tâm tưởng sanh. “Thị tâm
tác Phật, thị tâm thị Phật” (tâm này làm Phật,
tâm này là Phật): “Tâm này làm Phật”
là nói về Tu Đức, “tâm
này là Phật” là nói đến Tánh Đức. Trong bản
tánh có trọn đủ y báo và chánh báo trang nghiêm của
mười pháp giới, thứ ǵ cũng chẳng thiếu,
quư vị tưởng điều ǵ sẽ biến thành
điều đó. “Chư Phật
Chánh Biến Tri hải, tùng tâm tưởng sanh” (biển
Chánh Biến Tri của chư Phật sanh từ tâm tưởng),
trong mười pháp giới nêu lên một pháp giới, Phật
pháp giới sanh từ tâm tưởng, [suy ra] Bồ Tát pháp
giới cũng sanh từ tâm tưởng. Y báo và chánh báo
trang nghiêm trong lục đạo không có ǵ chẳng sanh từ
tâm tưởng. Chúng ta phải biết nguyên lư này, biết
nguyên lư này th́ mới biết trong Phật pháp chẳng có mê
tín. Phật pháp nói câu nào cũng là lời chân thật, xác thực
là chân tướng của vũ trụ và nhân sinh, nhưng bản
thân chúng ta biết quá ít.
Trong
đoạn chú giải này, có những điều trọng
yếu mà tôi phải nêu ra cùng quư vị đôi chút. Chúng ta
xem lời chú giải: “Sao vân, dục
tưởng Phật thân, tu tri quán Thể” (Sao rằng:
Muốn tưởng thân Phật th́ cần nên biết quán
Thể), Quán là phương pháp tu hành, Thể là căn cứ.
Căn cứ để quư vị [tu tập] phép quán tưởng
này là ǵ vậy? “Thể thị
Bổn Giác, khởi thành năng quán” (Thể là Bổn
Giác, khởi tác dụng thành Năng Quán). Điều này chẳng
giả, Bổn Giác ở chỗ nào? Bổn Giác là chính ḿnh,
tức là bản tánh của chính ḿnh. Đức Phật dạy
chúng ta thuận theo tánh sẽ thành quả báo cực thiện;
phàm phu chúng ta trái nghịch bản tánh. Nói cách khác, do vận
dụng Bổn Giác sai quấy, nên mới có lục đạo
luân hồi, mới có phiền năo, ác báo. Kế đó, [sách
Diễn Nghĩa] nói rơ: “Tu tri Bổn
Giác thị chư Phật Pháp Thân” (cần phải biết
Bổn Giác là Pháp Thân của chư Phật). Tôi vừa mới
nói pháp giới thân là Pháp Thân, Pháp Thân của chư Phật
chính là Bổn Giác của chúng ta. Do vậy, có thể biết,
ta và chư Phật có cùng một Pháp Thân. Kinh thường
diễn tả chuyện này như sau: “Mười phương ba đời Phật, cùng
chung một Pháp Thân”, chẳng giả! Mười
phương ba đời Phật đều có chung một
Pháp Thân, vậy th́ lũ phàm phu chúng ta có cùng [chung một Pháp
Thân] với các Ngài hay chăng? Cũng cùng chung. Không chỉ
là hết thảy phàm phu và Phật có cùng một Pháp Thân, mà
tất cả hết thảy vạn vật
cũng đều có cùng một Pháp Thân, “t́nh dữ vô t́nh, đồng viên Chủng Trí”. Y
báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới
đều do cùng một thứ biến hiện, trong Phật
pháp, bất đắc dĩ đặt cho thứ ấy một
cái tên, chứ trên thực tế, há có tên gọi ư? Gọi
tên nó là Bản Tánh, là Chân Như, là Pháp Tánh, là Đệ Nhất
Nghĩa. Kinh Phật có khoảng mấy chục danh từ
như vậy!
Nếu
chúng ta hỏi: “Nếu đă là cùng một thứ, đặt
một tên là được rồi, v́ sao đặt lắm
tên gọi như thế?’ Đặt một tên bèn sợ
quư vị chấp trước, hễ chấp trước
th́ sai mất rồi. Đức Phật nói các thứ tên nhằm
vào ư nghĩa: “Chớ nên chấp trước. Chỉ cần
là một chuyện th́ quư vị nói thế nào cũng đều
được”. Hễ chấp trước th́ sai mất rồi,
đă mê rồi! Đức Phật nói ra các thứ tên gọi
nhằm vào ư nghĩa: Phá chấp trước, chớ nên chấp
trước tướng danh tự. Tiếp đó, sách [Quán
Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa] viết: “Dĩ chư Phật vô sở chứng, chứng
ư chúng sanh bản tánh cố” (dùng vô sở chứng của
chư Phật để chứng bản tánh của chúng
sanh). Kinh Đại Thừa cũng thường diễn tả
điều này là: “Viên măn Bồ
Đề, quy vô sở đắc”, kinh Lăng Nghiêm nói
như vậy. Đến cuối cùng, đă thành Phật,
thành Phật bèn đạt được ǵ? Tâm Kinh nói rất
hay: Thành Phật là “vô trí mà
cũng vô đắc”. Trí là cái có thể chứng, “đắc” là cái chứng
được. Đạt đến cảnh giới ấy,
trí có thể chứng (năng chứng trí) và Bồ Đề
Niết Bàn là cái có thể đạt được đều
chẳng có, đó là thật sự chứng đắc. Chỉ
cần có trí, có đắc, th́ vẫn chẳng thể rời
khỏi Năng và Sở, tuy đă thành Phật, nhưng
thành đức Phật ǵ vậy? Thành Tạng Giáo Phật,
Biệt Giáo Phật, Thông Giáo Phật. Tạng, Thông, Biệt
Phật đều là có tu, có chứng, nhưng Viên Phật
(Phật của Viên Giáo) chẳng có. V́ trong ba loại Phật
trước, Biệt Giáo Phật cao nhất, Biệt Giáo Phật
tương đương với địa vị Đệ
Nhị Hạnh Bồ Tát trong Viên Giáo. Trên địa vị
Đệ Nhị Hạnh Bồ Tát, c̣n có Tam Hạnh, Tứ
Hạnh, cho đến Thập Hạnh, Thập Hồi
Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu
Giác, vẫn c̣n cách xa lắm! V́ thế, các địa vị
ấy (Tạng Giáo Phật, Biệt Giáo Phật, Thông Giáo Phật)
có tu, có chứng, thật sự chứng đắc thành Phật.
Đạt đến Viên Giáo Phật sẽ là vô tu vô chứng.
Câu
kế tiếp rất trọng yếu: “Nhược Thỉ Giác hữu công, Bổn Giác năi hiển”
(nếu Thỉ Giác có công, Bổn Giác bèn hiển lộ). Do
vậy có thể biết, nếu muốn biết chân tướng
của vũ trụ và nhân sinh, chúng ta thường nói là “muốn
biết rành mạch, rơ ràng mười phương, ba đời,
quá khứ, hiện tại, tương lai, hoàn toàn cậy
vào Thỉ Giác có công, Bổn Giác liền hiển lộ”. Bổn
Giác là tự tánh. Câu “Bổn
Giác năi hiển” nói theo nhà Thiền sẽ là “minh tâm kiến
tánh”. Tánh là Bổn Giác, “hiển”
là kiến tánh. “Cố vân Pháp
Thân tùng tâm tưởng sanh” (nên nói Pháp Thân sanh từ tâm
tưởng): Nay chúng ta dùng vọng tâm, sử dụng vọng
tưởng, sử dụng vọng tưởng cũng được,
quư vị chỉ tưởng một chuyện, vĩnh viễn
cứ tưởng măi. Tới khi nào tưởng hết, trở
về nguồn, bèn kiến tánh. V́ thế, chớ nên loạn
tưởng, chớ nên nghĩ nhiều, nghĩ nhiều, sẽ
chẳng được đâu, chẳng trở về nguồn
được! Càng tưởng càng xa! Phải chuyên tưởng,
tưởng một chuyện, [đó là] chuyên tưởng. “Tư tận hoàn nguyên” (hết
sạch suy nghĩ, sẽ trở về nguồn) bèn thành
công. Do đó, [biển Chánh Biến Tri] sanh từ tâm tưởng!
“Hựu Di Đà dữ chư Phật,
nhất tâm, nhất trí, ứng dụng diệc nhiên. Di
Đà thân hiển, tức chư Phật thân. Chư Phật
tướng minh, tức Di Đà thể. Thị cố, phiếm
minh chư Phật thân, dĩ vi quán sát Di Đà quán thể”
(Lại nữa, Phật Di Đà và chư Phật một
tâm, một trí, ứng dụng cũng thế. Thân của Phật
Di Đà hiển lộ, chính là thân của chư Phật [hiển
lộ]. Giảng rơ về tướng của chư Phật,
chính là [giảng rơ về] Thể của Phật Di Đà.
V́ thế, giảng chung về thân chư Phật, coi đó
là cách quán sát Phật Di Đà theo phương diện quán Thể).
Trong đoạn này, đức Phật vẫn chưa dạy
chúng ta, chưa nói rơ cách quán tưởng A Di Đà Phật,
tức là quán tưởng Vô Lượng Thọ Phật, chỉ
nói đến chư Phật Như Lai, hiểu là đức
Phật nào cũng đều được. Nếu quư vị
có thể nương theo nguyên lư và nguyên tắc này để
tu, chẳng có ai không thành tựu. Niệm Phật, thành Phật,
Lư và Sự đều ở trong đoạn kinh văn này.
Chuyên tưởng, tâm liền thanh tịnh. V́ sao tâm chúng ta
chẳng thanh tịnh? Do tâm loạn tưởng. Loạn
đến mức độ nào? Chính ḿnh chẳng thể khống
chế! Do chính ḿnh chẳng thể khống chế, nên một
hồi tưởng Đông, một hồi nghĩ Tây, ngay cả
đêm ngủ cũng chẳng thật thà, mộng mị
tơi bời! Mộng do đâu mà có? Mộng cũng sanh từ
tưởng. V́ thế, ban đêm nằm mộng, có thể
kiểm nghiệm mức độ tịnh uế trong tâm
ḿnh. Tâm hơi thanh tịnh một chút, sẽ chẳng gặp
ác mộng, sẽ chẳng nằm mộng rất loạn,
mà sẽ có chút lớp lang. Đó cũng là hiện tượng
niệm Phật có tiến bộ. Nếu tiến bộ
hơn, ban đêm nằm mộng thường mộng thấy
niệm Phật, mộng thấy gặp Phật, mộng
thấy nghe kinh, do nguyên nhân nào? Các chủng tử được
huân tập trong A Lại Da khởi tác dụng, tự nhiên
hiện hành, có sức mạnh to lớn, mạnh mẽ. Chủng
tử nghiệp tập nào to lớn, mạnh mẽ sẽ
hiện hành. Khi chẳng khống chế được, nó
sẽ tự nhiên hiện hành. Nếu tâm thật sự
thanh tịnh, mộng sẽ ít đi. Ít mộng là một hiện
tượng tốt.
Đoạn
văn này hết sức trọng yếu, nên tổ sư
chú giải cũng đặc biệt tường tận.
Tôi nghĩ các đồng tu tự xem đoạn này cũng
hiểu được. Xin mở sang trang một trăm
tám mươi sáu, xem ḍng thứ hai. Ḍng kinh văn này dạy
chúng ta phương pháp tu hành, là cương lănh tổng quát
của cách tu, hết sức trọng yếu. Có thể nói
là ba kinh nhất trí nguyên lư này, kinh Vô Lượng Thọ và
kinh A Di Đà đều chẳng ra ngoài lệ ấy.
Thị
cố ưng đương nhất tâm hệ niệm.
是 故 應 當 一 心 繫 念。
(V́ thế, hăy nên nhất tâm hệ
niệm).
Phương
pháp tu học của Tịnh Tông là nhất tâm hệ niệm.
Đế
quán bỉ Phật, Đa Đà A Già Độ, A La Ha, Tam Miệu
Tam Phật Đà.
諦 觀 彼 佛。多 陀 阿 伽 度。阿 羅 訶。三 藐 三 佛 陀。
(Quán kỹ vị Phật ấy,
Như Lai, Ứng Cứng, Chánh Đẳng Chánh Giác).
Ba hiệu sau hoàn
toàn là tiếng Phạn dịch âm. Đa Đà A Già Độ
(Tathāgata) dịch sang
nghĩa tiếng Hán là Như Lai. A La Ha (Arhat) dịch sang nghĩa tiếng Hán là Ứng Cúng. Tam Miệu
Tam Phật Đà (Samyak-saṃbuddha) dịch sang nghĩa tiếng
Hán là Chánh Biến Tri, hoặc dịch là Đẳng Chánh
Giác. Đây là ba hiệu trong mười hiệu của Như Lai, dịch
âm tiếng Phạn. V́ vậy, chúng ta hiểu: Hết thảy
chư Phật là một Thể. Là một Thể, nhưng
thuận theo tâm niệm của hết thảy chúng sanh mà hiện
ra các hiện tượng bất đồng. V́ thế, Phật
là vô lượng vô biên. Vô lượng vô biên là đức dụng
của bản tánh, là tác dụng của Tánh Đức, tức
là bản tánh khởi tác dụng. Xét theo phía chúng ta, chúng ta
chưa kiến tánh, dẫu đă kiến tánh th́ chẳng
viên măn, đều thuộc loại Tu Đức. Sau khi
đă kiến tánh viên măn, sẽ là Tánh Đức. Phàm các
danh hiệu của Phật được dùng trong kinh
điển đều nhằm hiển lộ Tánh Đức,
c̣n danh hiệu của các vị Bồ Tát được
dùng để hiển lộ Tu Đức. Tánh và Tu chẳng
hai, Tánh là Bổn Giác, Tu là Thỉ Giác. Thỉ Giác hợp với
Bổn Giác, Thỉ Giác và Bổn Giác chẳng hai, đó là
đạt đến Cứu Cánh Giác. V́ lẽ này, Phật
Di Đà và chư Phật bất tăng, bất giảm.
Kinh Hoa Nghiêm nói “một chính là
nhiều, nhiều chính là một, một chính là vô lượng,
vô lượng chính là một”.
Chuyện
này đă là sự thật, [vậy th́] ta niệm Thích Ca Mâu
Ni Phật chẳng được hay sao? Ta niệm Thích Ca
Mâu Ni Phật chính là niệm A Di Đà Phật, cần ǵ phải
niệm A Di Đà Phật? Nói theo Lư th́ xuôi lọt, nhưng
xét theo Sự bèn chẳng đúng pháp! Cớ sao chẳng
đúng pháp? Chẳng nghe lời thầy! Thầy, Thích Ca Mâu
Ni Phật là Bổn Sư của chúng ta, lăo nhân gia bảo
chúng ta niệm A Di Đà Phật, ta khăng khăng chẳng
nghe lời! Quư vị hăy nghĩ tới Tam Phước trong
phần trước, [không nghe lời] chính là chẳng thực
hiện điều khoản “phụng
sự sư trưởng”. Phụng sự sư trưởng
th́ phải y giáo phụng hành. Y giáo phụng hành, chúng ta niệm
A Di Đà Phật là niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
tùy thuận, thuận tánh. Nếu ngược lại, ta niệm
Thích Ca Mâu Ni Phật là niệm A Di Đà Phật, đă nghịch
tánh! Nói theo Lư th́ chẳng sai, nhưng chẳng tùy thuận lời
thầy dạy, nên văng sanh khó thể thành tựu! Quư vị
muốn t́m nguyên nhân thật sự ở đâu ư? Chẳng
thuận theo lời thầy dạy là chẳng thuận
tánh. Không thuận tánh tức là thuận theo phiền năo, thuận
theo tà kiến, thuận theo vọng tưởng, chấp
trước, làm sao có thể kiến tánh cho được?
Giống như nước, nước có thể tùy thuận.
Quư vị đựng nó trong ống tṛn, nó có h́nh dạng
tṛn. Đựng trong hộp vuông, nó có h́nh dạng vuông. Nếu
nó nhất định chấp trước, ta là vuông, quyết
định chẳng thể tṛn. Đựng trong vật
h́nh tṛn, ta vẫn vuông, tức là chẳng thuận tánh. Vậy
th́ cớ sao chẳng chịu nghe lời thầy? V́ sao chẳng
thể tiếp nhận lời thầy dạy dỗ?
Điều này rất quan trọng.
Tông Thiên Thai gọi nhất tâm hệ
niệm là Nhất Tâm Tam Quán. Trong chú giải có nói [đến
chuyện này], nơi hàng thứ tư đếm từ
dưới lên trong trang một trăm tám mươi sáu, xem
từ hai chữ cuối cùng: “Nhất
tâm hệ niệm bỉ Phật, tức Nhất Tâm Tam Quán
dă” (Nhất tâm hệ niệm đức Phật ấy
chính là Nhất Tâm Tam Quán). Chúng ta không hiểu pháp Quán của
tông Thiên Thai, chẳng sao hết! Chỉ cần nhất tâm,
nhất tâm đích xác là rất khó. Nhất tâm là chẳng
xen tạp, nhất quyết chẳng tán loạn. Người
thế tục gọi “hệ niệm” là vương vấn.
Trong tâm thường luôn có [chuyện ǵ đó], thường
xuyên nghĩ tới [điều ấy]. Đây là bảo quư
vị thời thời khắc khắc niệm câu Phật
hiệu này, nhằm vun bồi nhất tâm hệ niệm. Cổ
đại đức nói: Bí quyết niệm Phật chẳng
có ǵ khác, mà là đổi chỗ sống thành chỗ chín,
đổi chỗ chín thành chỗ sống, bèn thành công. Chỗ
chín nhất (quen thuộc nhất) của chúng sanh là ǵ? Vọng
tưởng, suy nghĩ lung tung. Quư vị thấy [chúng ta]
suốt ngày từ sáng đến tối suy nghĩ rối
bời. Chỗ sống sít nhất là ǵ? Một câu Phật
hiệu! Niệm niệm luôn quên bẵng, rất lạt lẽo,
hờ hững! Làm như thế nào để Phật hiệu
chín muồi như vọng tưởng, suốt ngày từ
sáng đến tối chẳng quên khuấy, biến vọng
tưởng thành xa lạ như Phật hiệu, thường
quên bẵng, sẽ thành công. Đổi chỗ sống thành
chỗ chín là được rồi, chẳng có ai không văng
sanh. Do đó, dạy quư vị niệm Phật mỗi ngày,
hằng ngày nghe Phật hiệu chẳng gián đoạn, hằng
ngày nh́n tượng Phật đừng ĺa bỏ, không ǵ chẳng
nhằm đổi chỗ sống thành chỗ chín, đạo
lư là như vậy đó!
Quư
vị biết đạo lư này, liền biết hết thảy
chẳng có chướng ngại. Tượng Phật chẳng
thể thờ ở nơi nào đó ư? Chẳng thờ,
ta sẽ quên bẵng, chẳng đổi sống thành chín
được! V́ thế, trừ pḥng vệ sinh đừng
nên thờ tượng Phật ra, nơi nào cũng đều
có thể thờ tượng Phật! Nhưng nói thật
ra, âm thanh của câu A Di Đà Phật, ngay ở trong nhà vệ
sinh cũng nghe rơ ràng, rành mạch. Hiện thời có máy niệm
Phật rất hay, càng làm càng tiến bộ, công đức
rất lớn. Được rồi! Chúng ta tan học.
Tập
24
Xin xem trang một trăm tám mươi
bảy, xem phần kinh văn.
Tưởng bỉ
Phật giả, tiên đương tưởng tượng,
bế mục, khai mục, kiến nhất bảo tượng
như Diêm Phù Đàn kim sắc, tọa bỉ hoa thượng.
想 彼 佛 者。先 當 想 像。閉 目 開 目。見 一 寶 像。如 閻 浮 檀 金 色。坐 彼 華 上。
(Hăy tưởng đức Phật ấy: Trước
hết hăy nên tưởng h́nh tượng. Nhắm mắt,
mở mắt đều thấy một tượng báu, có
màu như vàng Diêm Phù Đàn, ngồi
trên hoa ấy).
Đây
là dạy chúng ta cách quán. Trong cách quán, trước hết
nói rơ là Quán Tượng. Hoàn toàn giống như các phép Nhật
Quán, Thủy Quán trong phần trước, ắt phải mở
mắt hay nhắm mắt đều thấy tượng
Phật ấy ở trước mắt, thấy cặn kẽ
như trong kinh đă dạy th́ mới là quán thành công. Dù
trong tâm mục có tượng ấy, nhưng [tượng ấy]
chẳng thể xuất hiện trước mắt tức
là phép Quán này chẳng thành tựu! Tiếp theo đó là “nhân tượng kiến độ”
(do tượng mà thấy cơi nước). Chúng ta xem kinh
văn trong trang một trăm tám mươi tám.
Kiến
tượng tọa dĩ.
見 像 坐 已。
(Đă thấy tượng ngồi rồi).
A Di
Đà Phật ngồi trên đài sen.
Tâm
nhăn đắc khai, liễu liễu phân minh kiến Cực
Lạc quốc thất bảo trang nghiêm, bảo địa,
bảo tŕ, bảo thụ hàng liệt. Chư thiên bảo mạn
di phú kỳ thượng, chúng bảo la vơng măn hư không
trung. Kiến như thử sự, cực linh minh liễu,
như quán chưởng trung.
心 眼 得 開。了 了 分 明 見 極 樂 國 七 寶 莊 嚴。寶 地 寶 池。寶 樹 行 列。諸 天 寶 幔 彌 覆 其 上。眾 寶 羅 網 滿 虛 空 中。見 如 此 事。極 令 明 了。如 觀 掌 中。
(Tâm nhăn mở mang, thấy rành rẽ, phân minh cơi Cực
Lạc trang nghiêm bằng bảy
báu, đất báu, ao báu, cây báu bày thành hàng. Các màn cơi trời
phủ kín bên trên. Các lưới mành báu giăng khắp
hư không. Thấy sự như vậy sao cho hết sức
rơ rệt như nh́n vào bàn tay).
Cổ
đức nói cảnh giới vi tế như vậy đều
từ nhất tâm diệu quán dần dần chuyển sanh,
nên sẽ thấy cảnh giới ngày càng rơ rệt, càng thấy
càng hiểu rơ. Ở chỗ này, phải đặc biệt
chú ư: Thật sự quan sát, hiểu rơ, thật ra là do chân
tâm rất thanh tịnh. Nay chúng ta nói tới Quán Tưởng
Niệm Phật. Đối với phép Quán này, tông Thiên Thai
đề ra Thứ Đệ Tam Quán và Nhất Tâm Tam Quán.
Tông Thiên Thai [đề xướng như vậy] v́ thuở
trước, Trí Giả đại sư lập ra
phương pháp tu hành Tam Chỉ Tam Quán, phương pháp ấy
do Trí Giả đại sư phát minh. Các cao tăng Ấn
Độ đến Trung Hoa bái phỏng Trí Giả đại
sư, Trí Giả đại sư kể với họ
phương pháp tu hành của chính Ngài, các pháp sư Ấn
Độ bội phục khôn cùng. Họ nói với Trí Giả
đại sư: Ở phương Tây (Ấn Độ)
có kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm,
phương pháp tu học được giảng trong kinh ấy
hết sức tương tự, rất gần gũi với
pháp Tam Chỉ, Tam Quán của tông Thiên Thai. Kinh Lăng Nghiêm dạy
Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na. V́ lẽ đó, Thiên Thai đại
sư dựng một đài bái kinh tại núi Thiên Thai, hằng
ngày hướng về phía Tây lễ bái, mong mỏi kinh ấy
truyền sang Trung Hoa. Lạy suốt mười tám năm,
Trí Giả đại sư viên tịch, kinh ấy vẫn
chưa truyền tới Trung Hoa; nhưng về sau, ngài Bát Lạt
Mật Đế đem kinh ấy đến Trung Hoa.
Kinh
ấy ở Ấn Độ được gọi là quốc
bảo, bất cứ kinh điển nào cũng đều
có thể lưu thông sang ngoại quốc, nhưng kinh
điển này (kinh Lăng Nghiêm) chẳng thể lưu
thông tại ngoại quốc. Đấy là do người Ấn
Độ tiếc pháp, nên hiện thời tại Ấn
Độ chẳng có Phật pháp, quả báo do tiếc pháp
đấy! Pháp sư Bát Lạt Mật Đế mang kinh ấy
tới nơi đây (Trung Hoa), hải quan tra xét rất
nghiêm, lén đem vài lần đều chẳng thành công. Cuối
cùng, Ngài rạch mu bàn tay, giấu bản kinh đă
được chép với khổ chữ rất nhỏ vào
trong đó, chờ cho đến khi miệng vết
thương hoàn toàn lành lặn, đem kinh đến Trung
Hoa như vậy. Đem đến Trung Hoa, bèn mổ mu bàn
tay, lấy kinh ra, kinh Lăng Nghiêm được truyền
tới Trung Hoa như vậy đó. Thuở đầu, chú
giải kinh, do bị ảnh hưởng [bởi lời nhận
định của các vị pháp sư Ấn Độ],
nên đều dùng pháp Chỉ Quán của tông Thiên Thai để
giải thích Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na. Măi cho đến
đời Minh, Giao Quang đại sư mới không dùng
phương pháp ấy, trực tiếp dùng cách nói trong kinh
Lăng Nghiêm, đề xướng “bỏ Thức dùng Căn”, hết sức phù hợp ư nghĩa của kinh.
Chúng ta đọc thấy trong lời tựa cho bản Chú
Giải, pháp sư Giao Quang có nói Ngài niệm A Di Đà Phật
cầu sanh Tịnh Độ. Lúc lâm chung, khi A Di Đà Phật
đến tiếp dẫn, A Di Đà Phật đứng
trên không trung tiếp dẫn Ngài văng sanh, Ngài xin A Di Đà Phật
cho hoăn lại. Ngài nói chú giải kinh Lăng Nghiêm từ
xưa tới nay chẳng nêu rơ ư nghĩa trong kinh, những
lời mi chú[13] cũng chẳng giảng
rơ ràng, Ngài xin A Di Đà Phật cho phép Ngài khoan văng sanh để
chú giải kinh Lăng Nghiêm. Sau khi chú giải xong xuôi sẽ
văng sanh. A Di Đà Phật cũng chấp thuận, cho phép
Ngài được ở lại, Ngài trụ thế để
soạn chú giải.
Ngài
nêu ra nguyên nhân ở chỗ nào? Tam Chỉ Tam Quán của tông
Thiên Thai đều dùng ư thức, Nhất Tâm Tam Quán cũng
không ra ngoài lệ ấy. Kinh Lăng Nghiêm nói hoàn toàn chẳng
dùng tâm ư thức, trong chú giải, pháp sư Giao Quang đă
nói rơ ràng! Bản chú giải của Ngài được gọi
là Tân Sớ. Do đó, [chú giải] Lăng Nghiêm có hai phái tân
và cựu. Cựu phái dùng Tam Chỉ Tam Quán của tông Thiên
Thai để giải thích kinh, tân phái không dùng Tam Chỉ Tam
Quán, mà dùng “bỏ Thức dùng
Căn” như pháp sư Giao Quang đă nói, không dùng tâm ư thức.
Bản sớ giải kinh này do Thiên Thai đại sư chú
giải, Ngài dùng Tam Chỉ Tam Quán; nói cách khác, vẫn dùng tâm
ư thức. Dùng tâm ư thức chánh xác, dùng tâm ấy để
tu hành, theo như kinh Lăng Nghiêm đă dạy, sẽ có thể
chứng đắc quả A La Hán, có thể chứng đắc
quả vị Bích Chi Phật. Nói cách khác, nói theo Tịnh
Tông, xác thực là có thể tu đạt đến Sự
nhất tâm bất loạn, có thể đạt đến
cảnh giới này. Trong Sự nhất tâm bất loạn,
đại khái là đối với những cảnh giới
như kinh đă nói đều có thể thành tựu, có thể
thành tựu phép quán tưởng này. Nếu muốn đạt
tới thành tựu viên măn thật sự, ắt phải là
Lư nhất tâm bất loạn th́ mới thật sự thấy.
Chúng ta phải nên hiểu điều này. Đức Phật
dạy chúng ta một nguyên tắc là “y pháp, bất y nhân”, “pháp”
là kinh điển, c̣n chú sớ chỉ là tài liệu tham khảo
do cổ đại đức trao cho chúng ta để tu học
mà thôi. Chúng ta dùng những nhận định của các
Ngài như tài liệu tham khảo th́ là chánh xác, cũng đừng
nên hoàn toàn chấp chết cứng vào lời chú giải. [Hễ
chấp chết cứng] th́ sai mất rồi, nhất
định phải nương vào kinh. Chúng ta lại xem
đoạn thứ hai là Quán Bồ Tát.
Kiến thử sự dĩ, phục
đương cánh tác nhất đại liên hoa, tại Phật
tả biên, như tiền liên hoa, đẳng vô hữu dị.
Phục tác nhất đại liên hoa, tại Phật hữu
biên, tưởng nhất Quán Thế Âm Bồ Tát tượng,
tọa tả hoa ṭa, diệc tác kim sắc, như tiền
vô dị, tưởng nhất Đại Thế Chí Bồ Tát
tượng, tọa hữu hoa ṭa.
見 此 事 已。復 當 更 作 一 大 蓮 華。在 佛 左 邊。如 前 蓮 華。等 無 有 異。復 作 一 大 蓮 華。在 佛 右 邊。想 一 觀 世 音 菩 薩 像。坐 左 華 座。亦 作 金 色。如 前 無 異。想 一 大 勢 至 菩 薩 像。坐 右 華 座。
(Đă thấy sự ấy rồi, lại nên tưởng
một hoa sen to ở bên trái đức Phật, giống
như hoa sen trên đây trọn chẳng khác ǵ. Lại
tưởng một hoa sen to, ở bên phải đức Phật.
Tưởng một tượng Quán Thế Âm Bồ Tát ngồi
trên hoa ṭa bên trái, cũng là thân vàng ṛng, giống như
trước chẳng khác. Tưởng một tượng
Đại Thế Chí Bồ Tát ngồi trên hoa ṭa bên phải).
Hoa
đài và ṭa sen hoàn toàn giống nhau, Phật và Bồ Tát
đều [có hoa đài và hoa sen] giống hệt nhau. Chính
giữa là A Di Đà Phật, bên trái, tức phía bên tay trái của
A Di Đà Phật, là Quán Thế Âm Bồ Tát; phía bên tay phải
là Đại Thế Chí Bồ Tát. Trong chú giải, [có những
câu] rất thú vị. Chú giải giảng: “Tam thánh thiết hóa, động tĩnh tất câu” (tam
thánh hóa hiện như thế, động hay tĩnh ắt
đều như một), “câu”
(俱) là tuy một mà ba, tuy ba mà một. “Nhất chủ nhị thần,
phi tịnh, phi biệt, biểu hồ tam pháp, tam diệu
dung. Chân thân kư nhiên, tượng hợp tương tự,
quán nhị túc Phật, linh diệu quán thành tam” (Một vị
chủ tể, hai vị bầy tôi, chẳng phải giống
hệt như nhau, chẳng phải là khác nhau, biểu thị
ba pháp, ba sự dung thông mầu nhiệm. Chân thân đă là
như thế th́ h́nh tượng [được biến
hiện] cũng phải giống như thế. Quán đức
Phật phước huệ trọn đủ, khiến cho
phép quán mầu nhiệm [một ḿnh đức Phật] trở
thành quán cả ba vị). Đây là quán Tây Phương Tam
Thánh. Theo cách biểu thị pháp thông thường, Phật
biểu thị Pháp Tánh, biểu thị Chân Như bản
tánh; Bồ Tát biểu thị từ Thể khởi tác dụng,
là tác dụng của tự tánh. Tác dụng của tự
tánh là vô lượng vô biên. Vô lượng vô biên đức
dụng có thể quy nạp thành hai loại lớn, một
là Trí, hai là Hạnh, trong Phật pháp nói là Giải Hạnh,
Giải thuộc về trí huệ, Hạnh thuộc về
sự hành tŕ trong cuộc sống. Đây là hai vị đại
Bồ Tát; v́ thế, chúng ta thờ tượng Phật nhất
định là một vị Phật hai vị Bồ Tát, chẳng
thờ thành ba vị Bồ Tát, hay bốn vị Bồ Tát,
chẳng thờ theo cách như vậy, v́ các Ngài biểu thị
ư nghĩa viên măn trọn đủ về mặt pháp.
Trong
Tây Phương Tam Thánh, Quán Thế Âm Bồ Tát đại
biểu Hạnh. Quán Âm Bồ Tát đại từ đại
bi cứu khổ cứu nạn, nên tượng trưng cho
Hạnh môn. Đại Thế Chí Bồ Tát đại biểu
Giải môn, biểu thị trí huệ, chỉ có trí huệ
mới là thế lực chân chánh, thật sự hữu lực.
V́ thế, từ bi nhất định phải lấy trí
huệ làm cơ sở, đó mới là ḷng từ bi thuận
tánh. Nếu chẳng có trí, ḷng từ bi ấy sẽ
được gọi là “lạm
từ bi” (ḷng từ bi luông tuồng), sẽ có ảnh
hưởng bất thiện, đâm ra chẳng tốt
đẹp. Phật môn thường nói: “Từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa”.
Phật pháp hết sức coi trọng đại từ
đại bi và thiện xảo phương tiện;
nhưng người đời sau cũng nói: “Từ bi lắm họa hại,
phương tiện thành hạ lưu”, do nguyên nhân nào?
Đánh mất trí huệ! Ḷng từ bi thiếu trí huệ
và phương tiện thiếu trí huệ đều hỏng!
Có thể nói là Phật pháp hiện thời suy vi đến
nông nỗi này là v́ bỏ mất lư trí, một mực mù
quáng dùng ḷng từ bi bừa băi. Chúng ta biết nghĩa thú của
việc thờ phụng tượng Phật, nói thật ra
th́ “một chính là ba, ba chính là một”, biểu thị nhất
Thể. Tiếp theo đây, chúng ta lại xem phần Tượng
Phóng Quang (tượng Phật và Bồ Tát tỏa quang minh).
Thử
tưởng thành thời, Phật, Bồ Tát tượng
giai phóng quang minh. Kỳ quang kim sắc, chiếu chư bảo
thụ. Nhất nhất thụ hạ, diệc hữu tam
liên hoa. Chư liên hoa thượng, các hữu nhất Phật,
nhị Bồ Tát tượng, biến măn bỉ quốc.
此 想 成 時。佛 菩 薩 像 皆 放 光 明。其 光 金 色。照 諸 寶 樹。一 一 樹 下。亦 有 三 蓮 華。諸 蓮 華 上。各 有 一 佛 二 菩 薩 像。遍 滿 彼 國。
(Khi phép quán tưởng này đă thành, [lại tưởng]
tượng Phật và Bồ Tát đều phóng quang minh.
Quang minh ấy sắc vàng, chiếu các cây báu. Dưới mỗi
cội cây, cũng có ba hoa sen. Trên các hoa sen đều có h́nh
tượng một vị Phật và hai vị Bồ Tát trọn
khắp cơi ấy).
Đoạn
này rất quan trọng mà cũng rất dễ nhớ. V́
chúng ta thường suy nghĩ: Tây Phương Cực Lạc
thế giới to ngần ấy, người đông dường
ấy, làm sao chúng ta có thể thấy Phật cho được?
Đều rất hoài nghi! Chẳng cần nói chi khác,
Đài Loan chẳng lớn, thành phố Đài Bắc càng
bé. Thành phố Đài Bắc có hơn hai trăm vạn thị
dân, mỗi người chúng ta hằng ngày đều có thể
gặp Tổng Thống hay chăng? Đều chẳng gặp
được! Người trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới không ai có thể tính nổi số, đông
ngần ấy, làm sao chúng ta có thể gặp A Di Đà Phật,
Quán Âm, Thế Chí hằng ngày? Xem đoạn kinh văn này mới
biết, vốn là Phật, Bồ Tát hóa thân; dưới mỗi
cây báu đều có Tây Phương Tam Thánh. Số lượng
Tây Phương Tam Thánh và số người bên ấy bằng
nhau. Do đó, mỗi người hằng ngày đều thấy
Phật, mỗi ngày đều chẳng ĺa Phật, tốt
lắm! Trong mười phương thế giới, chúng
ta chưa hề thấy cảnh giới này, các kinh khác
chưa hề nói như thế, chỉ riêng thế giới
Tây Phương là hóa thân của Di Đà, Quán Âm, Thế Chí
đầy khắp nước ấy. Do đó, đến
thế giới Tây Phương, sẽ thường ở
cùng một chỗ với A Di Đà Phật, cùng Quán Âm, Thế
Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, các vị đại Bồ
Tát gặp mặt hằng ngày. Mỗi ngày đều ở
chung với nhau, hóa thân của các Ngài trọn khắp cơi Phật.
Chúng
ta xem phần chú giải cho đoạn này trong trang một
trăm tám mươi chín, xem từ câu thứ ba trong hàng thứ
tư từ dưới đếm lên: “Phật chi thân ṭa, Bồ Tát thân ṭa, tam vô sai biệt”,
[nghĩa là] thân và ṭa của Bồ Tát hoàn toàn giống
như thân và ṭa của Phật, đúng như kinh Vô Lượng
Thọ đă nói. “Duy thủ
tướng các bất đồng nhĩ”, [nghĩa là]
chỉ có [h́nh tướng] nơi đầu là trông thấy
khác nhau. “Phật duy nhục kế,
bất đới hoa quan” (Phật chỉ có nhục kế,
chẳng đội măo hoa). Trên đầu đức Phật
là tướng nhục kế. “Nhị
đại sĩ tuy đồng đới hoa quan”,
[nghĩa là] Quán Âm và Thế Chí đều cùng đội
măo. Măo ấy, tức hoa quan giống nhau, chỉ có một
điểm khác nhau. Giữa măo của Quán Âm Bồ Tát là một
bức tượng Phật. Bức tượng Phật ấy
là tượng đứng, hóa Phật đứng. Một
hôm, có người chụp một tượng bức
tượng Quán Âm, tượng Phật trên măo đội
đầu của Ngài là tượng ngồi tĩnh tọa,
tôi nói: “Không đúng! Đây chẳng phải là Quán Âm Bồ
Tát, [tượng Phật trong] măo Quán Âm Bồ Tát là tượng
đứng”. Tôi nói: “Đây là Bồ Tát nào tôi không biết.
Nếu quư vị bảo là Quán Âm th́ là Quán Âm giả mạo,
chẳng phải là Quán Âm thật sự”. Cũng phải
chú ư điều này. Chính giữa măo của Đại Thế
Chí Bồ Tát là một cái b́nh báu, cũng là b́nh báu đặt
thẳng đứng. Đó là chỗ khác nhau. Trừ điều
đó ra, hoàn toàn giống nhau. Điều này giống
như phần bốn mươi tám nguyện trong kinh Vô
Lượng Thọ đă nói. Chúng ta lại lật sang trang
kế tiếp, xem kinh văn:
Thử
tưởng thành thời, hành giả đương văn
thủy lưu quang minh, cập chư bảo thụ, phù, nhạn,
uyên ương, giai thuyết diệu pháp. Xuất Định,
nhập Định, hằng văn diệu pháp. Hành giả
sở văn, xuất Định chi thời, ức tŕ bất
xả, linh dữ Tu Đa La hợp. Nhược bất hợp
giả, danh vi vọng tưởng. Nhược dữ hợp
giả, danh vi thô tưởng kiến Cực Lạc thế
giới. Thị vi Tượng Tưởng, danh đệ
bát Quán.
此 想 成 時。行 者 當 聞 水 流 光 明。及 諸 寶 樹。鳧 雁 鴛 鴦。皆 說 妙 法。出 定 入 定。恆 聞 妙 法。行 者 所 聞。出 定 之 時。憶 持 不 捨。令 與 修 多 羅 合。若 不 合 者。名 為 妄 想。若 與 合 者。名 為 麤 想 見 極 樂 世 界。是 為 像 想。名 第 八 觀。
(Khi phép quán tưởng này thành tựu, hành giả sẽ
nghe nước chảy, quang minh, và các cây báu, le, nhạn,
uyên ương đều nói diệu pháp. Xuất Định,
nhập Định, luôn nghe diệu pháp. Những điều
hành giả nghe được khi xuất Định bèn nhớ
giữ chẳng bỏ. Phải sao cho hợp với Tu
Đa La. Nếu chẳng hợp th́ là vọng tưởng.
Nếu phù hợp, bèn gọi là quán tưởng thấy thế
giới Cực Lạc về phần thô. Đây là Tượng
Tưởng, được gọi là phép Quán thứ tám).
Đoạn
kinh văn này nói rơ: Trong khi quán tưởng, bèn nghe pháp.
Nước chảy, quang minh, cây báu là vô t́nh thuyết pháp,
các loài chim như le, nhạn… là hữu t́nh thuyết pháp.
T́nh và vô t́nh không ǵ chẳng nói pháp, từ đoạn kinh
văn này, chúng ta đă thấy [điều đó]. Người
tu hành bất luận là trong Định, nhập Định
hay xuất Định thảy đều nghe thấy.
Như trong phép quán tưởng ở phần trước,
mở mắt hay nhắm mắt, tượng ấy đều
hiện tiền. Ở đây nói, trong Định, hoặc
chẳng phải ở trong Định, đều nghe âm
thanh; nhưng những ǵ quư vị nghe được nhất
định phải tương ứng với kinh. Nếu
chẳng tương ứng, sẽ là vọng tưởng.
Nếu tương ứng th́ là “thô
kiến”, [tức là] thấy thế giới Cực Lạc
[ở mức độ thô thiển]. Phải phân biệt
rơ ràng chuyện này, chớ nên coi ma cảnh như Phật cảnh.
Do đó, đối với người học Phật
chúng ta, kinh điển có hai cách sử dụng:
1) Cách sử dụng
thứ nhất là dạy chúng ta phương pháp tu hành. Chúng
ta cũng chẳng biết tu như thế nào th́ trong kinh
điển có lư luận, có phương pháp, có cảnh giới,
dạy cho chúng ta [những điều ấy].
2) Cách sử dụng
thứ hai là khi chúng ta tu đến một cảnh giới
kha khá, nó sẽ chứng minh cho chúng ta. Đến khi chúng ta
tu thành tựu, phải đối chiếu cảnh giới
chúng ta đă thấy với kinh điển, để coi
là giống nhau hay sai khác. Ví như chúng ta thấy Tây
Phương Cực Lạc thế giới th́ chúng ta thấy
Tây Phương Cực Lạc thế giới có giống
như kinh đă nói hay không? Nếu hoàn toàn giống hệt,
đó là thấy thế giới Tây Phương chân thật.
Nếu chẳng giống, vậy là không đúng rồi, giả
mất rồi! Điều này rất quan trọng. Kinh luận
thường nói “Phật Phật
đạo đồng”, hết thảy chư Phật chắc
chắn phải nói các kinh giống như nhau. Chỗ có thể
bất đồng là ngôn ngữ, có thể nói là cũng có
đôi chút bất đồng về phương diện
đó, nhưng chắc chắn là nội dung giảng nói phải
giống nhau. V́ sao? Đó là cảnh giới do chư Phật
đích thân chứng đắc, há có lẽ nào chẳng giống
nhau?
Đối với
những chỗ giống như thế này chúng ta phải
lưu ư hơn. Trong thế giới hiện thời, giả
Phật quá nhiều! Kinh điển ngụy tạo cũng
rất nhiều, rất dễ bị lừa gạt. Kẻ
gặp ma sự quá đông, gần như mỗi tuần
đều có mấy người đến kiếm tôi. Nói
thật ra, bị ma dựa, đến kiếm tôi, tôi chẳng
có cách nào hết. Tôi chẳng có thần
thông, tôi chẳng cùng quỷ thần qua lại. Bị ma dựa,
phải t́m đến những người có qua lại với
quỷ thần, có lẽ họ cũng có cách điều giải
cho quư vị. Nhưng điều giải cũng có hạn độ,
cũng tùy thuộc vào duyên phận. V́ thế, tôi khuyên các đồng
tu hăy thật thà, chân thật niệm Phật, càng ít qua lại
với quỷ thần càng hay. V́ sao? Chúng ta là phàm phu, chớ
nên chèo kéo họ. Đối với quỷ thần, tục
ngữ có câu: “Thỉnh thần
dung dị, tống thần nan”. [Ư nói] quư vị t́m tới
họ rất dễ dàng, sau đó, quư vị làm thế nào
để tiễn họ đi? Chuyện này rất phiền
phức! Nếu họ không đi, sẽ đem lại cho
quư vị lắm nỗi phiền phức. V́ thế, tốt
nhất là giao du với quỷ thần càng ít càng hay. Chúng ta
chẳng mong qua lại với họ, họ cũng chẳng
t́m đến chúng ta. Chúng ta ham thần thông, thích cúng dường
quỷ thần, thích lui tới với họ, họ cảm
thấy quư vị cũng được lắm, chúng ta là bạn
tốt với nhau, kết thành bằng hữu! Phải chú
ư điều này!
Niệm
chú, trong chú có nhiều danh hiệu quỷ thần, quư vị
niệm chú [tức là triệu thỉnh] họ đến,
sau đó niệm như thế nào để tiễn họ
đi? Quư vị muốn niệm chú Lăng Nghiêm, niệm
chú Đại Bi, chú ngữ thật sự là mấy câu cuối
cùng, từ chữ “đát
điệt tha” (tadyathā)[14]
trở đi là chú ngữ, [chú ngữ thật sự chỉ
có] mấy câu ấy. Những câu trước đó đều
là danh hiệu quỷ thần, gọi từng người
trong bọn họ đến, đă gọi đến rồi
chẳng thể tiễn họ đi trọn vẹn, sẽ
rất phiền phức. Thời cổ, những bậc
đại đức thật sự có đạo hạnh,
hằng ngày dùng chú ngữ để thí thực, cúng dường
quỷ thần, thật sự đạt được lợi
ích. Tâm chúng ta chẳng thanh tịnh, chẳng có đạo hạnh,
học bài chú ấy, thỉnh vời quỷ thần đến.
Quỷ thần thấy quư vị chẳng có đạo
đức, cũng chẳng có tu tŕ chi hết, bèn coi thường
quư vị. Coi thường quư vị th́ quỷ thần tốt
sẽ bỏ đi rồi thôi, không đếm xỉa tới
quư vị; quỷ thần xấu có khi bắt nạt quư vị,
rắc rối to! Quư vị chẳng dây dưa với họ,
họ chẳng t́m đến quư vị. Quư vị chèo kéo họ,
họ sẽ t́m đến kiếm chuyện với quư vị.
Nay trong thế gian này, tại Trung Quốc và ngoại quốc,
chúng ta thấy [những t́nh cảnh như vậy] quá nhiều!
V́ thế, tôi mong các đồng tu hễ thấy chuyện
này, chớ nên giới thiệu họ đến gặp
tôi, tôi chẳng có cách nào cả! Hiện thời như tôi
biết, trước kia, dường như pháp sư Quảng
Khâm c̣n có chút thần thông, mọi người đều biết.
Nay tôi biết ở Đài Nam có pháp
sư Khai Tâm, Ngài có thể thấy được đôi
chút, có chút cảm ứng. Pháp sư Khai Tâm và tôi cũng rất
thân thiết. Hễ tôi gặp nghi nan, tạp chứng nào,
chẳng có cách ǵ, thảy đều giới thiệu họ
đến gặp Ngài. Nói thật ra, Ngài cũng chẳng thể
trách tôi! Lần trước tôi gặp Ngài, Ngài tặng
người khác danh thiếp. Tôi nói: “Pháp sư à! Xin thầy
cho tôi một tấm danh thiếp”. Ngài tặng tôi cả hộp.
V́ thế, hiện thời tôi có một hộp danh thiếp,
hễ ai có nghi nan tạp chứng, tôi sẽ đưa cho họ
một tấm danh tiếp, bảo họ đến t́m
Ngài.
Đây
là trong quán tưởng có chánh quán và tà quán, chớ nên không
lưu ư. Do vậy, học Phật th́ phải chân thành, y
giáo phụng hành, đừng cầu thần thông, cũng
đừng cầu cảm ứng, như vậy th́ quư vị
sẽ tâm chánh, hạnh chánh, quỷ thần chẳng dám trêu
vào quư vị. Nhất là một người thật sự
niệm Phật, chư Phật hộ niệm, long thiên hộ
tŕ, các quỷ thần thuộc tà môn ngoại đạo về
căn bản là đều chẳng dám tiếp cận quư vị,
thật đấy, chẳng giả tí nào! Chẳng dám tiếp
cận, lấy đâu ra chuyện ma dựa? Do đó,
người niệm Phật bị ma dựa, đúng là oan
uổng, chắc chắn chẳng phải là người thật
sự niệm Phật, người thật sự niệm
Phật sẽ không thể bị ma dựa. Dễ bị ma
dựa nhất là học Mật và học Thiền, v́ trong
Thiền Định, hoặc trong Định, họ có thể
thấy quỷ thần. Trong chú ngữ của Mật Tông
phần nhiều đều là danh tự của quỷ thần,
nên họ và quỷ thần khá gần gũi, qua lại khá
mật thiết, nên dễ chuốc lấy phiền phức.
Tịnh Tông niệm Phật, nói theo lư, chẳng thể nào
có những chuyện ấy phát sanh.
Đoạn
kế tiếp nói tới lợi ích do tu Quán, hăy xem kinh
văn trong trang một trăm chín mươi mốt:
Tác
thị quán giả, trừ vô lượng ức kiếp
sanh tử chi tội, ư hiện thân trung đắc Niệm
Phật tam-muội.
作 是 觀 者。除 無 量 億 劫 生 死 之 罪。於 現 身 中。得 念 佛 三 昧。
(Người quán pháp này, trừ tội trong vô lượng
ức kiếp sanh tử, nơi thân hiện tại, đắc
Niệm Phật tam-muội).
Nếu
quán tưởng thành tựu, hiện tiền quư vị
đắc Niệm Phật tam-muội. Kinh Di Đà gọi
Niệm Phật tam-muội là nhất tâm bất loạn, có
thể đạt được.
Phép
Quán tiếp theo là một đoạn chánh yếu nhất
trong kinh này, tức là quán Vô Lượng Thọ Phật. Tựa
đề của bản kinh này là Quán Vô Lượng Thọ
Phật Kinh. Quán Vô Lượng Thọ Phật là phép Quán thứ
chín.
Phật
cáo A Nan cập Vi Đề Hy: Thử tưởng thành
dĩ.
佛 告 阿 難 及 韋 提 希。此 想 成 已。
(Đức Phật bảo A Nan
và Vi Đề Hy: “Phép quán tưởng này đă thành”).
Phần
trước là Thánh Tượng Quán, là quán tượng Tam
Thánh. Quán đă thành, bèn tiến hơn nữa là quán Vô Lượng
Thọ Phật.
Thứ
đương cánh quán Vô Lượng Thọ Phật thân
tướng, quang minh.
次 當 更 觀 無 量 壽 佛 身 相 光 明。
(Kế đó hăy nên quán thân
tướng và quang minh của Vô Lượng Thọ Phật).
Phép
Quán này khá vi tế.
A
Nan! Đương tri Vô Lượng Thọ Phật thân
như bách thiên ức vạn Dạ Ma Thiên Diêm Phù Đàn kim
sắc.
阿 難。當 知 無 量 壽 佛 身。如 百 千 億 萬 夜 摩 天 閻 浮 檀 金 色。
(A Nan!
Hăy nên biết thân Vô Lượng Thọ Phật có màu
như vàng Diêm Phù Đàn trong trăm ngàn ức vạn cung trời
Dạ Ma).
Thân
tướng đức Phật là kim sắc. Kinh nói “kim sắc” là dùng màu sắc
tương tự như vàng ṛng trong thế gian chúng ta mà
thôi. Thật sự nói tới kim sắc trong Tây
Phương th́ chẳng biết siêu thắng (vượt
trỗi thù thắng) hơn vàng trong cơi này bao nhiêu lần,
vàng của chúng ta chẳng thể sánh bằng vàng trong cơi
đó. Nhưng trong thế gian này, lại chẳng thấy
có màu nào đẹp hơn sắc vàng, nên bất đắc
dĩ dùng nó để tỷ dụ. Do vậy, ở nơi
đây chẳng phải là nói tới kim sắc của
người thế gian, mà nói đến sắc vàng Diêm Phù
Đàn trong cung trời Dạ Ma.
Phật
thân cao lục thập vạn ức na-do-tha hằng hà sa
do-tuần.
佛 身 高 六 十 萬 億 那 由 他 恆 河 沙 由 旬。
(Thân Phật cao sáu mươi vạn
ức na-do-tha hằng hà sa do-tuần).
Thân Phật cao vời.
Mi
gian bạch hào, hữu toàn uyển chuyển, như ngũ
Tu Di sơn.
眉 間 白 毫。右 旋 宛 轉。如 五 須 彌 山。
(Bạch hào giữa hai mày uyển
chuyển xoay về bên phải, to như năm quả núi
Tu Di).
Trong
bài kệ tán Phật có đoạn: “Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di, cám mục
trừng thanh tứ đại hải”, xuất phát từ đoạn kinh văn này, bạch
hào uyển chuyển to như năm quả núi Tu Di.
Phật nhăn như tứ đại
hải thủy, thanh bạch phân minh.
佛 眼 如 四 大 海 水。青 白 分 明。
(Mắt Phật như nước bốn biển cả,
xanh trắng phân minh).
Thân
tướng của đức Phật, tướng hảo,
quang minh, nói thật ra là vô lượng vô biên. Kinh chỉ
nêu đại lược hai thứ là tướng bạch
hào và mắt Phật, nêu lên hai thứ ấy.
Thân
chư mao khổng, diễn xuất quang minh như Tu Di
sơn. Bỉ Phật viên quang, như bách ức tam thiên
đại thiên thế giới.
身 諸 毛 孔。演 出 光 明。如 須 彌 山。彼 佛 圓 光。如 百 億 三 千 大 千 世 界。
(Các lỗ chân lông trên thân, diễn xuất quang minh
như núi Tu Di. Viên quang của đức Phật ấy
như trăm ức tam thiên đại thiên thế giới).
Lỗ
chân lông trên thân đức Phật tỏa quang minh, [đó gọi
là] “diễn xuất quang minh”,
giống như núi Tu Di. Viên quang của đức Phật,
ở đây là nói tới vầng hào quang tṛn quanh đầu,
lớn cỡ nào? Trăm ức tam thiên đại thiên thế
giới.
Ư
viên quang trung, hữu bách vạn ức na-do-tha hằng hà sa
hóa Phật.
於 圓 光 中。有 百 萬 億 那 由 他 恆 河 沙 化 佛。
(Trong viên quang có trăm vạn ức
na-do-tha hằng hà sa hóa Phật).
“Quang trung hóa Phật vô số ức,
hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên”, toàn bộ kệ tán Phật
đều phát xuất từ đoạn kinh văn này.
Nhất
nhất hóa Phật, diệc hữu chúng đa vô số hóa Bồ
Tát dĩ vi thị giả. Vô Lượng Thọ Phật hữu
bát vạn tứ thiên tướng. Nhất nhất tướng
trung, các hữu bát vạn tứ thiên tùy h́nh hảo. Nhất
nhất hảo trung, phục hữu bát vạn tứ thiên
quang minh. Nhất nhất quang minh, biến chiếu thập
phương thế giới niệm Phật chúng sanh nhiếp
thủ bất xả.
一 一 化 佛。亦 有 眾 多 無 數 化 菩 薩 以 為 侍 者。無 量 壽 佛 有 八 萬 四 千 相。 一 一 相 中。各 有 八 萬 四 千 隨 形 好。一 一 好 中。 復 有 八 萬 四 千 光 明。一 一 光 明,遍 照 十 方 世 界 念 佛 眾 生。攝 取 不 捨。
(Mỗi vị hóa Phật cũng có đông đảo
vô số hóa Bồ Tát làm thị giả. Vô Lượng Thọ
Phật có tám vạn bốn ngàn tướng, trong mỗi một
tướng đều có tám vạn bốn ngàn tùy h́nh hảo.
Trong mỗi một hảo, lại có tám vạn bốn ngàn
quang minh. Mỗi một quang minh chiếu khắp chúng sanh niệm
Phật trong mười phương thế giới nhiếp
thủ chẳng bỏ).
Do
đó, người niệm Phật trong mười
phương thế giới dẫu nhiều đến mấy,
khi văng sanh Tây Phương thế giới, A Di Đà Phật
tuyệt đối chẳng bỏ sót, chẳng quên khuấy
quư vị, chẳng có chuyện ấy. Quư vị nghĩ xem:
A Di Đà Phật hóa thân vô lượng, vô biên, chúng sanh ở
nơi này khởi tâm động niệm, Ngài đều biết,
chúng ta niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, làm sao Ngài quên khuấy được? Chẳng
có lẽ ấy! Phàm phu chúng ta khi lắm việc, có lúc rất
dễ quên bẵng chuyện ǵ đó. Chuyện ngày hôm qua,
hôm nay quên tuốt, đó là chuyện thường có. Chư
Phật, Bồ Tát trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới tâm địa thanh tịnh, trí huệ, thần thông
rộng lớn vô biên, phàm phu chúng ta vừa dấy lên tạp
niệm các Ngài đều biết. V́ thế nói sẽ văng sanh
khi nào, các Ngài cũng đều biết, tới lúc đó, sẽ
tự nhiên đến tiếp dẫn quư vị. Đó là
thân tướng của A Di Đà Phật.
Sau
phần này, có một đoạn chú giải hay lắm, hăy
xem hàng cuối cùng trong trang một
trăm chín mươi bốn, chúng ta xem từ đó: “Nhất nhất hạ” (từ
câu “mỗi mỗi” trở đi), “nhất nhất”
chính là câu “nhất nhất quang
minh, biến chiếu thập phương thế giới
niệm Phật chúng sanh, nhiếp thủ bất xả”, “quang minh nhiếp sanh” ([A Di
Đà Phật] dùng quang minh nhiếp thọ chúng sanh). Trong phần
Sao, tôn giả Tứ Minh đă giảng: “Sanh Phật Thể đồng, tuy độ quảng,
sanh đa” (chúng sanh và Phật có cùng một Thể, tuy
cơi nước rộng lớn, chúng sanh đông đảo).
“Độ” là quốc độ.
Mười phương chư Phật quốc độ
vô lượng vô biên, ư nói phạm vi giáo hóa của A Di
Đà Phật to lớn, hết thảy chư Phật chẳng
thể sánh bằng. Trong kinh đức Phật dạy,
thông thường phạm vi giáo hóa của một đức
Phật là một đại thiên thế giới, cũng có
vị Phật có phạm vi giáo hóa là hai đại thiên thế
giới, hoặc ba đại thiên thế giới, nhưng
cũng chẳng nhiều. Chỉ riêng phạm vi giáo hóa của
A Di Đà Phật là tận hư không khắp pháp giới. V́ chúng sanh niệm Phật trong hết thảy
các cơi nước của chư Phật đều sanh về
thế giới Tây Phương, phải hiểu rơ chuyện
này! Sau khi đă hiểu rơ, chúng ta mới hiểu một sự
thật, thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật
giống như một đại học Phật giáo, A Di
Đà Phật là hiệu trưởng, mở một trường
đại học Phật giáo trong các cơi Phật. Mười
phương chư Phật đều chiêu sinh bên ngoài, thay
A Di Đà Phật chiêu sinh, đối với những học
tṛ đă thâu được, đều đưa đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới. Thích Ca Mâu Ni
Phật chiêu sinh trong thế giới Sa Bà, đưa [học
tṛ] sang huấn luyện trong thế giới Tây
Phương. Mới biết chân tướng của chuyện
này, mới biết pháp môn này rộng lớn vô biên. Chẳng
biết trạng huống thực tế, vô lượng vô
biên pháp môn bày ra trước mặt mà chúng ta không biết
cách chọn lựa, pháp môn nhiều ngần ấy, ta chọn
pháp môn nào? Đă hiểu rơ ràng chân tướng,
đương nhiên chúng ta sẽ chọn lựa pháp môn này.
Đă thế, pháp môn này văng sanh rất dễ dàng, cũng chẳng
khó khăn! Các pháp môn khác chưa chắc đă có thể
thành tựu, pháp môn này chắc chắn đáng tin cậy. V́
thế, tuy là cơi nước rộng lớn, trong hết thảy
các cơi Phật khắp mười phương, ba đời,
chúng sanh đông đảo, nhiều người niệm Phật
văng sanh, đều được “nhiếp vô nhất thất” (nhiếp thủ chẳng
sót một ai), một người cũng chẳng bỏ
sót. Khi lâm chung, đức Phật đến tiếp dẫn
cũng chẳng bỏ sót một ai!
Câu
này là hàng thứ nhất trong trang một trăm chín
mươi lăm, chính là chú giải, chẳng nên in theo lối
đảnh cách, kinh văn mới in đảnh cách, ở
chỗ này lại in sai. Bản này phạm lỗi không ít, chẳng
sửa đổi th́ rất đáng tiếc. Chúng ta in lại
hăy nên sửa đổi cho tốt đẹp hơn.
Cũng may lần này, in không nhiều lắm. Khi chúng ta in lần
tới, hy vọng [các lỗi ấy] sẽ được
sửa đổi. Trong các khóa giảng th́ giảng bằng
bản này vẫn tốt đẹp, bản này tinh yếu!
Do chúng ta bị thời gian hạn chế, nên giảng bản
này thuận tiện hơn giảng Diệu Tông Sao rất
nhiều, bản Diễn Nghĩa này là phần tinh yếu
trong Diệu Tông Sao.
Khoa kế tiếp
là Quán Thành Năng Kiến (quán thành tựu bèn có thể thấy).
Kỳ
quang, tướng hảo, cập dữ hóa Phật bất
khả cụ thuyết.
其 光 相 好。及 與 化 佛。不 可 具 說。
(Quang minh, tướng hảo ấy
và các hóa Phật chẳng thể nói trọn).
Nếu
nói chi tiết, sẽ chẳng nói trọn.
Đản
đương ức tưởng, linh tâm nhăn kiến.
但 當 憶 想。令 心 眼 見。
(Chỉ nên ức tướng
ḥng thấy rành rẽ trong tâm).
Dạy
chúng ta tưởng như thế nào? Thấy cảnh giới
ấy ra sao?
Kiến
thử sự giả, tức kiến thập phương
nhất thiết chư Phật. Dĩ kiến chư Phật
cố, danh Niệm Phật tam-muội.
見 此 事 者。即 見 十 方 一 切 諸 佛。以見 諸 佛 故。名 念 佛 三 昧。
(Kẻ thấy chuyện này liền thấy mười
phương hết thảy chư Phật. Do thấy
chư Phật, nên gọi là Niệm Phật tam-muội).
Niệm
Phật tam-muội thành tựu viên măn. Đây là do chính miệng
đức Thế Tôn tuyên thuyết: Thấy A Di Đà Phật
là thấy mười phương hết thảy chư Phật.
Do đó, sanh vào Tây Phương Cực Lạc thế giới
là sanh trong hết thảy các thế giới của chư
Phật, chớ nên không biết chuyện này. Có nhiều
người học Phật, mong thấy đức Phật
này, mong thân cận Bồ Tát kia, suốt ngày từ sáng đến
tối suy nghĩ lung tung, có thể thấy hay không? Thật
sự là một vấn đề! Tôi thấy có các đồng
tham đạo hữu, có cảm t́nh rất sâu đậm
đối với Di Lặc Bồ Tát, luôn nhất tâm nhất
ư niệm Nam-mô Di Lặc Bồ Tát, niệm Di Lặc Hạ
Sanh Kinh[15], mong thân cận Di Lặc
Bồ Tát, tu Di Lặc Tịnh Độ. Có nắm chắc
sẽ sanh về đó hay không? Rất có vấn đề!
Quư vị xem Hư Vân Lăo Ḥa Thượng Niên Phổ, lăo ḥa
thượng Hư Vân tu Di Lặc Tịnh Độ, văng
sanh Di Lặc Tịnh Độ. Theo ghi chép trong Niên Phổ
của lăo ḥa thượng, Ngài tới Đâu Suất Nội
Viện nghe Di Lặc Bồ Tát giảng kinh, Ngài ở trong
Định, thấy mấy người văng sanh, nhận biết
mấy người, chẳng nhiều lắm, chỉ thấy
mấy người quen mà thôi! Có thể thấy [văng sanh Di
Lặc Tịnh Độ] rất khó, rất ư là khó!
Nhưng
nếu tu niệm pháp môn Di Đà, đến gặp Di Lặc
Bồ Tát rất dễ dàng. Ngài Di Lặc và Tịnh Độ
có mối quan hệ hết sức sâu đậm: Nửa
sau kinh Vô Lượng Thọ, Di Lặc Bồ Tát là
đương cơ. V́ thế, văng sanh Di Lặc Nội Viện
từ Tây Phương Cực Lạc thế giới là đi
theo đường gần, chẳng cần chuốc lấy
lắm nỗi phiền phức dường ấy, thân cận
Di Lặc Bồ Tát rất dễ dàng. Đă thế, Di Lặc
Bồ Tát c̣n hết sức tôn trọng quư vị. V́ sao? Quư
vị là học tṛ của A Di Đà Phật, Ngài phải
đặc biệt tôn trọng quư vị. Quư vị tu Di Lặc
Tịnh Độ đến được Nội Viện,
tức là học tṛ của Ngài, Ngài có thể chẳng cần
khách sáo đối với quư vị. Đệ tử của
A Di Đà Phật là khách quư, phải khéo tiếp đăi, khác
hẳn!
Tác
thị quán giả, danh quán nhất thiết Phật thân. Dĩ
quán Phật thân cố, diệc kiến Phật tâm. Phật
tâm giả, đại từ bi thị. Dĩ vô duyên từ,
nhiếp chư chúng sanh.
作 是 觀 者。名 觀 一 切 佛 身。以 觀 佛 身 故。亦 見 佛 心。佛 心 者。大 慈 悲 是。以 無 緣 慈。攝 諸 眾 生。
(Hành phép Quán này th́ gọi là quán thân của hết thảy
chư Phật. Do quán thân Phật, nên cũng thấy tâm Phật.
Tâm Phật là đại từ bi. Dùng vô duyên từ nhiếp
các chúng sanh).
Câu
sau cùng là một câu khẩn yếu. Rất khó quán thân Phật
thành công, ở đây, chúng ta biết “tâm Phật”. Tâm Phật
là ǵ? Tâm Phật là vô duyên đại từ. Vô Duyên là chẳng
có điều kiện; nói cách khác, từ thanh tịnh, b́nh
đẳng, giác sanh ra tâm từ bi. Nếu nói theo cách thông tục,
tâm từ bi là tâm yêu thương. Hai chữ Bác Ái cũng
phát xuất từ kinh Vô Lượng Thọ. Đó là vô
duyên từ bi, “vô duyên đại
từ, đồng thể đại bi”, chúng ta phải
vun bồi cái tâm ấy. Tâm đại từ bi đối
đăi chúng sanh nhằm thành tựu chúng sanh, thật sự
giúp đỡ, thành tựu họ. Tâm đại từ bi chẳng
phải là yêu thương thiên vị, chẳng phải là sủng
ái mù quáng, khi đáng mắng chửi th́ vẫn phải mắng
chửi, đáng đánh th́ vẫn phải đánh. Khi
đáng nên tống vào địa ngục th́ vẫn phải
đưa kẻ ấy đến địa ngục. Phải
biết: Lợi lạc họ trong hiện thời,
nhưng đời sau họ chẳng được lợi
ích, đó chẳng phải là từ bi. Đời này, đời
sau họ đều được tốt lành, có lợi
ích, nhưng đời sau nữa chẳng đạt
được lợi ích th́ vẫn chưa phải là từ
bi. Do vậy có thể biết, thật sự từ bi, từ
bi đến tột cùng, chính là khuyên họ văng sanh Tây
Phương thế giới, đó đúng là từ bi đến
cùng cực! V́ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới liền chứng trọn vẹn ba thứ Bất
Thoái, thành Phật trong một đời. Do đó, chẳng
khác ǵ công đức hóa độ chúng sanh của chư Phật,
Bồ Tát. Quư vị dùng các pháp môn khác th́ không được,
chưa chắc họ đă có thể thành tựu, tu chẳng
thành th́ vẫn luân hồi trong lục đạo. Do đó,
lợi ích hữu hạn, công đức rất ít. Chỉ
riêng pháp môn này có vô lượng vô biên công đức. Đoạn
kế tiếp là Cử Ích Khuyến Tu (nêu ra lợi ích
để khuyên tu), chúng ta hăy xem kinh văn:
Tác
thử quán giả, xả thân tha thế, sanh chư Phật
tiền, đắc Vô Sanh Nhẫn.
作 此 觀 者。捨 身 他 世。生 諸 佛 前。得 無 生 忍。
(Kẻ hành phép Quán này, bỏ
thân, trong đời sau, sanh ở trước Phật,
đắc Vô Sanh Nhẫn).
Đây
là nói đến công đức lợi ích do tu học. Sau
khi bỏ thân, đời sau sanh trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới bèn đắc Vô Sanh Nhẫn, cũng
tương ứng với những điều được
nói trong bốn mươi tám nguyện của kinh Vô Lượng
Thọ. Phàm là người sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới đều là A Bệ Bạt Trí Bồ
Tát. A Bệ Bạt Trí đắc Vô Sanh Nhẫn, từ Thất
Địa trở lên.
Thị
cố trí giả, ưng đương hệ tâm đế
quán Vô Lượng Thọ Phật.
是 故 智 者。應 當 繫 心 諦 觀 無 量 壽 佛。
(V́ thế, kẻ có trí hăy nên dốc
ḷng chuyên tâm quán kỹ Vô Lượng Thọ Phật).
Qua
câu này, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật rát miệng buốt
ḷng khuyên bảo chúng ta. “Trí giả”
(bậc trí) là nếu quư vị có chút trí huệ, sẽ chẳng
thể vứt bỏ pháp môn này, “ưng
đương” (hăy nên) là khuyên chúng ta “hệ tâm đế quán”. Đó là phương pháp
tu học, hệ tâm đế quán Vô Lượng Thọ Phật,
tức là A Di Đà Phật. Nay chúng ta quán, do chẳng có
năng lực để quán như vậy, bèn chấp tŕ
danh hiệu, nhất tâm hệ niệm, xưng niệm A Di
Đà Phật, sẽ chẳng khác phương pháp tu quán A
Di Đà Phật. Hễ thành tựu th́ công đức hoàn
toàn giống nhau. V́ thế, trong lời mi chú kinh Vô Lượng
Thọ, thầy Lư đă viết: “Chẳng chịu cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, nếu chẳng phải ngu th́ là cuồng”, “ngu” là
ngu si. Nếu chẳng phải là ngu si, bèn là cuồng vọng.
Nói cách khác, kẻ b́nh phàm, hễ là người có đôi
chút trí huệ, chẳng có ai không phát nguyện cầu sanh
Tây Phương. Thầy Lư nói lời ấy, so với lời
kinh dạy, và lời tổ sư đại đức
xưa nay khuyên lơn, khích lệ chúng ta hoàn toàn giống hệt
như nhau.
Cụ
đọc đến đoạn kinh về nhóm năm
trăm người của vương tử A Xà Thế,
đă nêu ra ba điều cảnh giác:
1) Điều thứ
nhất, quư vị hăy nh́n vào nhân quả trong quá khứ của
nhóm vương tử A Xà Thế. “Trụ Bồ Tát đạo, cúng dường bốn
trăm ức Phật”, mà c̣n bị mê khi cách ấm, vẫn
thoái chuyển. “Trụ Bồ
Tát đạo”, có thể thấy trước kia họ
là Bồ Tát, nay phải làm vương tử, hoặc làm
trưởng giả, đă thoái chuyển rồi. Chuyện
trong đời quá khứ hoàn toàn không biết, do bị mê
khi cách ấm. Đă cúng dường bốn trăm ức
Phật mà c̣n bị mê khi cách ấm, vẫn phải thoái
chuyển. Thiện căn vẫn ít ỏi, vẫn chưa
đủ dầy. Chỉ là nghe Thích Ca Mâu Ni Phật giảng
Tây Phương Cực Lạc thế giới trong tâm rất
hoan hỷ, động một niệm: “Trong tương lai
ta thành Phật, sẽ giống như A Di Đà Phật”. Chỉ
dấy một niệm như thế. Trọn chẳng hạ
thật sự quyết tâm “đời này ta phải cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới”, vẫn
chẳng dấy niệm ấy. V́ thế, họ có thể
văng sanh hay không, vẫn chẳng nhất định. Đó
là điều đáng cảnh giác thứ nhất.
2) Điều thứ
hai, tuy đă có cái nhân ấy, nếu duyên chẳng chín muồi,
đời này lại chẳng thể thật sự cầu
sanh. Nói cách khác, vẫn phải lưu chuyển theo nghiệp,
phải nếm trải một thời gian rất dài trong lục
đạo, vẫn phải hứng chịu khổ nạn.
3) Do đó, điều
thứ ba, cụ nói, nếu chẳng cầu sanh Tây
Phương Tịnh Độ, đó chẳng phải là
ngu bèn là cuồng!
Thật vậy,
chẳng giả tí nào! Câu kinh văn này vô cùng trọng yếu.
Quán
Vô Lượng Thọ Phật giả, tùng nhất tướng
hảo nhập, đản quán mi gian bạch hào, cực
linh minh liễu. Kiến gian mi bạch hào tướng giả,
bát vạn tứ thiên tướng hảo, tự nhiên
đương hiện.
觀 無 量 壽
佛 者。從 一 相 好 入。但
觀 眉 間 白 毫。極 令 明 了。見
間 眉 白 毫 相 者。八 萬 四
千 相 好。自 然 當 現。
(Quán Vô Lượng Thọ Phật th́ bắt đầu
bằng quán một tướng hảo. Chỉ quán tướng
bạch hào giữa hai mày hết sức rành rẽ. Đă thấy
tướng bạch hào giữa hai mày th́ tám vạn bốn
ngàn tướng hảo sẽ tự nhiên hiện ra).
Dạy chúng ta cách
quán. Phật có vô lượng tướng, mỗi tướng
có vô lượng hảo. Trong mỗi hảo có vô lượng
quang minh. Trong quang minh lại hóa ra vô lượng vô biên
chư Phật, bắt đầu quán từ đâu? Quán từ
Bạch Hào, quán từ một tướng. Quán một
tướng đă thành, các tướng khác tự nhiên sẽ
hiện tiền.
Kiến Vô Lượng Thọ
Phật giả, tức kiến thập phương vô lượng
chư Phật. Đắc kiến vô lượng chư Phật
cố, chư Phật hiện tại thọ kư. Thị vi
biến quán nhất thiết sắc thân tướng, danh đệ cửu
quán. Tác thị quán giả, danh vi chánh quán. Nhược tha
quán giả, danh vi tà quán.
見 無 量 壽 佛 者。即 見 十 方 無 量 諸 佛。得 見 無 量 諸 佛 故。諸 佛 現 在 授 記。是 為 徧 觀 一 切 色 身 相。名 第 九 觀。作 是 觀 者。名 為 正 觀。若 他 觀 者。名 為 邪 觀。
(Thấy Vô Lượng Thọ Phật chính là thấy
mười phương vô lượng chư Phật. Do
được thấy vô lượng chư Phật, nên
chư Phật hiện tại thọ kư. Đó là quán trọn
khắp hết thảy các tướng sắc thân, gọi
là phép Quán thứ chín. Quán như thế là chánh quán. Nếu
quán khác đi, sẽ là tà quán).
Cần
phân biệt tà và chánh. Thấy một vị Phật là thấy
hết thảy chư Phật, sanh trong một cơi là sanh vào
hết thảy các cơi, chỉ có pháp môn này!
A!
Chúng tôi giảng tới đây.
Quán Vô
Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần 6 hết
[1] A Lư Sơn là một
trong năm rặng núi lớn (Trung Ương Sơn
Mạch, Tuyết Sơn, Ngọc Sơn, A Lư Sơn, và
Hải Ngạn Sơn Mạch) ở Đài Loan.
Rặng núi A Lư Sơn chạy từ trấn Tập Tập
thuộc huyện Nam Đầu ở phía Bắc
đến khu Yến Sào thuộc thành phố Cao Hùng ở
miền Nam, dài đến 250 km, ngọn cao nhất là
Đông Thủy Sơn (2.611m), các ngọn núi nổi
tiếng khác thuộc rặng núi này là Lănh Đầu, Kim Cam
Thụ, Ngũ Xa Luân, Sư Tử Đầu, Lộc
Khuất, Ô Tùng Khanh, Tùng Sơn, Tiểu Tháp, Đại Tháp,
Đối Cao, Chúc Sơn, Tiểu Lạp, Tự Trung,
Bắc Hà, Kê Tử, Bằng Dục v.v…
[2] Đây là tập sách Tây Phương Du Kư
do cư sĩ Lưu Thế Hoa viết theo lời kể
của pháp sư Khoan Tịnh. Theo đó, pháp sư Khoan
Tịnh ngồi thiền trong động Di Lặc trong núi
Cưu Tiên, huyện Đức Hóa, tỉnh Phước
Kiến, được Quán Thế Âm Bồ Tát dẫn lên
Cực Lạc thăm viếng.
[3] Lư (dặm Tàu) có độ dài khác nhau
theo từng thời đại, nói chung là khoảng 500 mét.
[4] Lời Sao giảng: “Thích Ca Tỳ Lăng Già, cơi này dịch là Năng
Thắng. Ma Ni dịch là Ly Cấu, c̣n dịch là Tăng
Trưởng. Ư nói chỗ có vật báu này, ắt sẽ
tăng thêm oai đức. Khi xưa dịch [chữ Ma Ni] là
Như Ư. Những điều này đều là dịch theo ư
nghĩa”.
[5] Diêm Phù Đàn Kim (Jambūnada-suvarṇa). Diêm Phù Đàn có nghĩa là
ḍng sông chảy luồn giữa các cây Diêm Phù, vốn là tên
một con sông chảy giữa Hương Tư Sơn và
Tuyết Sơn. Theo thần thoại Ấn Độ, sông
Diêm Phù Đàn là một trong bảy chi lưu của sông
Hằng. Lá cây ấy rụng xuống
sông, biến thành vàng. Vàng sanh từ nơi ấy có
sắc vàng pha màu đỏ, lại có sắc tía như
ngọn lửa, được coi là loại vàng quư
nhất.
[6] Sớ Sao giảng: “Theo Thích Luận, có người thường cúng
dường trời suốt mười hai năm. Do nghèo
cùng, nhất tâm cầu phú quư. Thiên Đế thương
xót ḷng thành, hiện thân hỏi: “Ngươi mong cầu
điều ǵ?” Đáp: “Cầu phú quư, những điều
con mong mỏi đều đạt được”. Thiên
Đế trao cho một cái vật, tên là Đức B́nh,
nói: “Những vật ngươi cần dùng, trong cái b́nh này
đều có”. Người ấy nhận lấy, hễ
mong cầu điều ǵ, chẳng hề không
được ứng nghiệm. Nay những hoa mầu
nhiệm đột nhiên trổ quả, giống như cái
b́nh cơi trời ấy, tuôn ra các vật, nên dùng [b́nh
Đế Thích] để tỷ dụ”.
[7] Sách Sớ Sao giảng: “Cừ chính là ao. Dưới đáy ao có cát, loại
cát ấy có tên là Kim Cang, soi thấu suốt trên
dưới”.
[8] “Bốn phần” là khái niệm do tông Duy
Thức lập ra nhằm giải thích bản thể và tác
dụng của Thức, gồm Tướng Phần,
Kiến Phần, Tự Chứng Phần và Chứng Tự
Chứng Phần.
[9] Sớ Sao giảng: “Nói là nước Ma Ni là như Xá Lợi Phất, Phú
Lâu Na được gọi tên theo cha mẹ, [tương
tự như vậy, nước do Ma Ni Bảo Châu sanh ra
nên gọi là Ma Ni Thủy]. Câu kế tiếp nói rơ sự tùy
tâm. Nước báu trong cơi ấy, mềm mại, nhẹ nhàng,
uyển chuyển, nên có thể chảy lên trên, hay chảy
xuống dưới. Người ta muốn nước báu
chảy luồn trong hoa, nước liền thuận theo ư
người. Chữ Hoa không phải là nói về hoa sen trong
nước, mà là chỉ các đóa hoa nở rộ nơi
hàng cây báu. V́ vậy, nước chảy luồn theo thân
cây. Đă chảy luồn trong các đóa hoa rồi lại
theo thân cây chảy xuống”.
[10] Ca phổ (歌譜) phần ghi nhạc đệm theo
lời ca (ca từ).
[11] B́nh Kịch (平劇) là cách người Đài Loan gọi
Kinh Kịch (c̣n gọi là Quốc Kịch; do Bắc Kinh
được gọi là Bắc B́nh vào đầu thời
Dân Quốc, nên người Đài Loan quen gọi Kinh
Kịch là B́nh Kịch). Kinh Kịch là một loại nghệ
thuật diễn xướng tuồng tích, có trung tâm là
Bắc Kinh. Người được coi là tổ sư
của Kinh Kịch chính là vua Đường Minh Hoàng. Kinh
Kịch hiện thời đă dung hợp những đặc
điểm của Huy Kịch (tuồng An Huy) và Hán Kịch
(các loại tuồng ở Hồ Bắc và lối hát
tuồng của người Khách Gia), thâu nhập thêm các
lối hát nổi tiếng như Tần Xoang, Côn Khúc, Qua
Dương Xoang v.v… của truyền thống hát
xướng miền Nam Trung Hoa. Kinh Kịch cực
thịnh dưới đời Thanh. Nói chung, Kinh Kịch
giống hát bội của ta, diễn viên thường
vẽ mặt, y trang lộng lẫy, đeo cờ quạt,
đuôi chim trĩ, động tác diễn xuất bao
gồm nhiều kiểu vũ đạo, mang tính
ước lệ cao. Giọng hát phức tạp, nhiều
khi các vai đào, nhất là các vai hoa đán (đào
thương, đào mùi) thường hát rất cao giọng
đến nỗi nếu không quen nghe, sẽ chẳng
biết họ đang hát chữ ǵ. Có người đă nói
đùa là nghe các hoa đán hát Kinh Kịch giống như nghe
tiếng mèo kêu khi bị bóp cổ. Nhạc khí dùng trong Kinh
Kịch bắt buộc phải có các loại hồ cầm
như Kinh Hồ, Kinh Nhị Hồ, Nguyệt Cầm
(đàn nguyệt, đàn ḱm), tiêu, sênh, tỏa nạp (kèn
Tàu), và nhất là không thể thiếu các loại trống
lớn, trống nhỏ, thanh la, năo bạt, mơ trâu, phách… Nói
chung là Kinh Kịch dùng quá nhiều thanh la các loại lớn
nhỏ nên tiếng nhạc của Kinh Kịch rất
ồn ào và gây cảm giác rất khó chịu nếu nghe
lần đầu.
[12] Sách Sớ Sao viết: “Chân Thúc Ca, cơi này dịch là Xích Sắc, vốn là
một thứ cây ở Thiên Trúc, hoa có màu đỏ, h́nh
như bàn tay. Chất báu này tương tự, nên gọi
tên như vậy”.
[13] Mi chú: Những lời chú giải
ngắn gọn được viết kèm ngay trước
câu chánh kinh, thường là dùng khổ chữ nhỏ
hơn.
[14] Tadyathā (thường dịch là “tác như thị thuyết”,
nghĩa là “nói như thế này”). Trong mật chú, chữ này
thường được dùng để mở
đầu phần chú ngữ. Trước chữ này
thường là những lời xưng tán danh hiệu, hoặc
quy kính. Thí dụ như câu cuối trong Tâm Kinh là “Prajñāpāramitāyām ukto
mantraḥ tadyathā: Gate, gate, pāragate, pārasaṃgate,
bodhi svāhā”, nên ngài Huyền Trang dịch là “Cố thuyết Bát Nhă Ba La
Mật Đa chú, tức thuyết chú viết: Yết
đế, yết đế, ba la yết đế, ba la
tăng yết đế, Bồ Đề tát bà ha”.
[15] Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh
Kinh do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn,
chép lời dự ngôn của đức Phật về
sự giáng sanh thành Phật của Di Lặc Bồ Tát trong
tương lai. Theo đó, Di Lặc Bồ Tát từ
trời Đâu Suất giáng sanh nhân gian, làm con của ông Tu
Phạm Ma (đại thần của vua Nhương
Khư) và bà Phạm Ma Việt. Ngài xuất gia trong nửa
đêm và thành đạo ngay trong đêm ấy dưới
cội Long Hoa, tam chuyển pháp luân.