Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 6

觀無量壽佛經疏鈔演義

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Thời gian: Khởi giảng từ ngày 01 tháng 12 năm 1990

Địa điểm: Hoa Tạng Đồ Thư Quán, huyện Cảnh Mỹ, Đài Loan

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Minh Tiến, Đức Phong và Huệ Trang

 

Tập 21

 

Xin mở kinh bổn, trang một trăm ba mươi bảy, ḍng thứ hai từ dưới đếm lên. Thời gian trôi qua rất nhanh, ngày mai chúng tôi sẽ giảng viên măn; do vậy, hôm nay phải tăng nhanh tốc độ. Nói thật ra, đạo tràng chúng ta là đạo tràng giảng kinh lâu dài, nhất là chuyên giảng Tịnh Tông, có nhiều chỗ đọc qua là đă có thể hiểu rơ. Nếu ở những nơi khác th́ cần phải nói tỉ mỉ, ở đây, chúng ta có thể tham khảo kinh Vô Lượng Thọ, hoặc tham khảo sách Di Đà Kinh Sớ Sao, ư nghĩa đại khái chẳng sai biệt cho mấy.

      Trong ḍng này, phải đặc biệt giới thiệu Vô Sanh Pháp Nhẫn cùng quư vị. Nói thật ra, Vô Sanh Pháp Nhẫn quan trọng nhất là chữ Nhẫn. Đức Phật thuyết pháp có vô lượng phương tiện thiện xảo. Trong kinh Nhân Vương, Ngài đă chia các địa vị Bồ Tát thành năm loại lớn; năm loại lớn ấy đều dùng Nhẫn để biểu thị. Do vậy có thể biết, Nhẫn quả thật hết sức trọng yếu. Từ kinh Kim Cang, chúng ta thấy cương lănh tu học của Bồ Tát gồm có sáu điều, tức là Lục Độ. Kinh Kim Cang đặc biệt nhấn mạnh Bố Thí và Nhẫn Nhục trong Lục Độ. Quư vị thấy bốn điều kia được nói rất ít, c̣n Bố Thí được nói rất nhiều, Nhẫn Nhục cũng được nói rất nhiều! Do vậy có thể biết, quan trọng nhất trong sáu đại cương ấy chính là Bố Thí và Nhẫn. Bố Thí là buông xuống. Nếu không buông xuống được, sẽ chẳng thể nhẫn. Chẳng thể nhẫn, sẽ không buông xuống được! Đây là đạo lư nhất định, có mối quan hệ nhân quả hỗ tương.

      Ngũ Nhẫn theo kinh Nhân Vương là: Thứ nhất là Phục Nhẫn, thứ hai là Tín Nhẫn, thứ ba là Thuận Nhẫn, thứ tư là Vô Sanh Nhẫn, thứ năm là Tịch Diệt Nhẫn. Đem Ngũ Nhẫn trong kinh Nhân Vương phối hợp với Thập Địa Bồ Tát th́ Phục Nhẫn là địa vị Tam Hiền (Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng); Tín Nhẫn là Sơ Địa, Nhị Địa, Tam Địa; c̣n Tứ Địa, Ngũ Địa, Lục Địa là Thuận Nhẫn; Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa là Vô Sanh Nhẫn; Thập Địa và Đẳng Giác là Tịch Diệt Nhẫn. Tiêu chuẩn của chữ Tín cũng rất cao, quả thật là hễ thật sự nói đến hàng Bồ Tát th́ phải nên có tiêu chuẩn cao như vậy! Chưa nhập Sơ Địa, vẫn chưa thể nói là tin Phật nghiêm túc được! Nhưng kinh Nhân Vương nói theo Biệt Giáo, chẳng nói theo Viên Giáo. Sơ Địa trong Biệt Giáo chính là Sơ Trụ trong Viên Giáo. V́ thế, ḍng thứ nhất ở đây (trong trang một trăm ba mươi tám) là: “Sớ vân, Vô Sanh Pháp Nhẫn, thị Sơ Trụ Sơ Địa” (Sớ rằng: Vô Sanh Pháp Nhẫn là Sơ Trụ hay Sơ Địa). Sơ Trụ Bồ Tát là nói theo Viên Giáo, c̣n Sơ Địa là nói theo Biệt Giáo, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, khi ấy mới có thể gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Nhưng nếu nói nghiêm ngặt th́ vẫn chưa được, kinh Nhân Vương nói tương đối nghiêm ngặt. Nói [thật sự] nghiêm ngặt th́ Thất Địa Bồ Tát chứng hạ phẩm Vô Sanh Nhẫn, Bát Địa là trung phẩm Vô Sanh Nhẫn, Cửu Địa là thượng phẩm Vô Sanh Nhẫn, đó là nói theo sự chứng đắc chánh thức. Do vậy có thể biết, Vô Sanh Nhẫn do Sơ Trụ hay Sơ Địa chứng đắc chính là Tương Tự Vô Sanh Nhẫn, v́ sao? Các Ngài [thật sự] là Tín Nhẫn hay Thuận Nhẫn, tương tự mà thôi! Phục Nhẫn càng khỏi phải bàn tới, “phục” () là ǵ? Chế phục phiền năo. Nói theo Tịnh Tông, giai đoạn “phục phiền năo” là công phu thành phiến, Tín Nhẫn mới là Sự nhất tâm bất loạn, đạt đến Vô Sanh Nhẫn sẽ là Lư nhất tâm bất loạn. Tín Nhẫn và Thuận Nhẫn đều là Sự nhất tâm. Trong Sự nhất tâm, có mức độ cạn hay sâu khác nhau. Lư nhất tâm là Vô Sanh Nhẫn và Tịch Diệt Nhẫn, [hai loại Nhẫn này] đều thuộc loại Lư nhất tâm, nhưng Tịch Diệt Nhẫn là công phu Lư nhất tâm sâu, c̣n Vô Sanh Nhẫn công phu Lư nhất tâm khá cạn. [Do vậy], đặc biệt coi trọng chữ Nhẫn.

       Kinh Kim Cang dạy chúng ta: “Nhất thiết pháp đắc thành ư Nhẫn” (Hết thảy các pháp đều do Nhẫn mà thành tựu). Pháp thế gian và xuất thế gian nếu chẳng thể nhẫn nại, sẽ chẳng thể thành tựu, có thể thấy Nhẫn Nhục Ba La Mật trong Lục Độ là then chốt của sự thành bại. Nhẫn th́ mới có thể có tinh tấn, tinh tấn th́ mới có thể đắc Định. Nếu nói theo Tịnh Độ Tông, Định là nhất tâm bất loạn, là tâm thanh tịnh. Đă đắc định, trí huệ mới mở mang, nên nhẫn nhục quả thật là then chốt. Ví như nay chúng ta nói đến chuyện tu học, tu học trong thời cổ và hiện thời khác nhau. Tu học thời cổ luôn luôn là thâm nhập một môn. Phải nhẫn nơi một môn, những pháp môn khác ta tạm thời đều phải buông xuống hết, hết thảy các kinh luận ta chẳng thể xem, mà cũng chẳng thể nghe giảng, ta chỉ rất ngoan ngoăn học một môn, điều này đ̣i hỏi phải nhẫn! Thâm nhập một môn, một môn sẽ tinh (chuyên ṛng), nhiều môn chẳng tinh. Tấn trong nhiều môn th́ gọi là Tạp Tấn, chẳng phải là Tinh Tấn. Tạp Tấn sẽ khó đắc Định. Nói cách khác, khó đắc tâm thanh tịnh! Tinh Tấn sẽ dễ đắc tâm thanh tịnh. V́ vậy, từ xưa, tổ sư đại đức tạo lập môn đ́nh sai khác, thường ca ngợi pháp môn của chính ḿnh, chê bai, hạ thấp các pháp môn khác. Đó là một phương thức quyền xảo, tuyệt đối chẳng phải là khinh thường các pháp môn khác. Nếu [người đọc, người nghe] có sự phân biệt, chấp trước ấy th́ sai mất rồi. Các Ngài dùng phương pháp ấy để cường điệu, nhằm tăng cường tín tâm của kẻ mới học. Tham Thiền th́ từ Thiền thâm nhập một môn, chẳng thể vừa học Giáo, vừa niệm Phật. V́ sao? Như vậy th́ sẽ biến thành tạp. Người niệm Phật cũng chẳng thể học Giáo, cũng chẳng thể tham Thiền. Nói chung, pháp môn nhất định là một môn th́ mới có thể thâm nhập.

      Môn nào cũng đều hay, v́ sao? Môn nào cũng đều có thể minh tâm kiến tánh, đều có thể đạt đến mục đích. V́ thế, nói “pháp môn b́nh đẳng, chẳng có cao thấp”, chúng ta phải nhớ kỹ điều này. Trong nhiều pháp môn ngần ấy, chúng ta chỉ có thể chọn lựa một môn, điều này quan trọng lắm! Nếu đồng thời chọn lựa nhiều môn, rất khó thành tựu. Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, dạy học tṛ, mỗi học tṛ cũng đều là học một môn. Đức Phật giảng kinh, họ đều đến nghe, đó gọi là “bàng thính” (dự thính), đến làm Ảnh Hưởng Chúng. Nói theo cách hiện thời là “hộ tŕ đạo tràng”, khiến cho số lượng thính chúng trong đạo tràng đông thêm, có thể tăng cường tín tâm cho người mới học. Nếu đức Phật giảng kinh chỉ có dăm ba người nghe, người ta trông thấy cảnh tượng ấy cũng chẳng tin tưởng, mất đi tín tâm. V́ thế, những vị Bồ Tát, La Hán giúp Phật trang nghiêm đạo tràng, tăng cường tín tâm của hàng sơ học, mục đích ở chỗ này! Các Ngài ngồi ở đó, nghe hay không nghe chẳng nhất định! Có lúc đức Phật giảng kinh, các Ngài ngồi đó niệm Phật, về căn bản là cũng chẳng nghe câu nào. Đó là trang nghiêm đạo tràng, chúng ta phải hiểu điều này. Chư vị hiểu đạo lư này là được rồi!

      C̣n như Vô Sanh Pháp Nhẫn là ǵ? Ở đây, tôi nói đại lược. “Pháp” là hết thảy các pháp. Vô Sanh Pháp Nhẫn là một pháp, c̣n chữ Pháp chỉ hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian. Vô Sanh là hết thảy các pháp bất sanh, bất diệt. Khi nào quư vị chứng đắc, thừa nhận, đồng ư, tán thành “hết thảy các pháp bất sanh, bất diệt”, cảm thấy đức Phật nói lời ấy chắc chắn chẳng có vấn đề ǵ, là sự thật, quư vị bèn chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Nay chúng ta đang thấy hết thảy các pháp có sanh, có diệt, thấy động vật có sanh, lăo, bệnh, tử, thấy thực vật có sanh, trụ, dị, diệt, thấy khoáng vật có thành, trụ, hoại, không, hết thảy các pháp là vô thường. Đó là cách nh́n của chúng ta, chúng ta cảm thấy đó là sự thật. Nay đức Phật bảo chúng ta “hết thảy các pháp bất sanh, bất diệt”, chúng ta nghe chẳng hiểu, nghe xong bèn hoài nghi, v́ sao? Hoàn toàn tương phản với sự quan sát của chúng ta, cảnh giới của Phật và cảnh giới của chúng ta khác nhau. V́ sao cách nh́n của chúng ta khác với cách nh́n của đức Phật? Chúng ta dùng cái tâm sanh diệt để nh́n hết thảy các pháp, nên hết thảy các pháp biến thành sanh diệt. Đức Phật dùng tâm bất sanh, bất diệt để nh́n hết thảy các pháp, nên hết thảy các pháp bất sanh, bất diệt. Từ chỗ này cũng chứng thực “hết thảy các pháp chỉ do tâm biến, hết thảy các pháp chỉ do tâm chuyển, tâm chuyển cảnh giới, chẳng phải là cảnh giới chuyển tâm”, chứng minh lư luận này. V́ lẽ đó, đức Phật dạy chúng ta thấy chân tướng của hết thảy các pháp, đó chính là Thật Tướng của các pháp. Thật Tướng của các pháp là bất sanh, bất diệt.

      Phải như thế nào th́ mới có thể thấy Thật Tướng của các pháp? Phải có Thiền Định rất sâu. Thiền Định rất sâu là tâm định. Tịnh đến tột cùng, tâm ấy là bất sanh, bất diệt, chân tâm thường trụ, thấy cảnh giới bên ngoài là cảnh giới chân thật. V́ thế, đó là cảnh giới của Phật và đại Bồ Tát; hàng Bồ Tát từ Thất Địa trở lên thấy hết thảy vạn pháp bất sanh, bất diệt. Đó chẳng phải là cảnh giới của bọn phàm phu chúng ta, v́ chúng ta chẳng có cách nào sử dụng chân tâm, toàn là dùng vọng tâm. Vọng tâm là tâm sanh diệt, là trong tâm có ư niệm. Khi nào trong tâm chẳng có ư niệm, chẳng có vọng niệm, khôi phục chân tánh của chính ḿnh. Điều này cũng nói rơ: Tu hành trong Phật pháp, bất luận tông nào, bất luận là Hiển Giáo hay Mật Giáo, Thiền Tông hay Giáo Hạ, mục tiêu tu học cuối cùng là minh tâm kiến tánh. Nếu chẳng phải là mục tiêu này, sẽ chẳng phải là Phật pháp. Phật pháp bất luận bao nhiêu pháp môn, bao nhiêu tông phái, chỉ là phương pháp, đường lối, cách thức khác nhau, nhưng phương hướng và mục tiêu nhất định là nhất trí: Thành Phật! Thành Phật là ǵ? Minh tâm kiến tánh là thành Phật; minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật, quyết định là nhất trí. Tịnh Độ Tông nói “nhất tâm bất loạn”, nhất tâm bất loạn là minh tâm kiến tánh, là kiến tánh thành Phật. Chỉ là các tông sử dụng danh từ thuật ngữ khác nhau, thật ra là một chuyện. V́ vậy, học Phật nói đơn giản là “tu tâm thanh tịnh, tu nhất tâm bất loạn”. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thấy sắc, nghe tiếng, xử sự, đăi người, tu tâm thanh tịnh, tu nhất tâm trong ấy, đó là đúng!

      Người sơ tâm, tức là kẻ mới học, v́ tập khí nặng nề, phiền năo sâu đậm, chẳng có cách nào tu hành trong một xă hội phức tạp, công phu chẳng thể đắc lực, nên phải chọn lựa hoàn cảnh. Nghĩ đến thuở đức Phật tại thế, đă răn dạy đệ tử trụ A Lan Nhă. A Lan Nhă (Araṇya) là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là “nơi chẳng ồn ào”. A là Vô, Lan Nhă là náo nhiệt, ồn ào. [Do vậy, A Lan Nhă] là một nơi chẳng ồn ào, náo nhiệt, nên dịch nghĩa sang chữ Hán là Tịch Tĩnh Xứ, đó là một hoàn cảnh hết sức an tĩnh. Trong lời Phật dạy, có một thí dụ rất đơn giản về tiêu chuẩn của A Lan Nhă, Ngài nói: Đó là nơi chẳng nghe thấy tiếng trâu kêu. V́ xưa kia, người tu hành phần đông ở nông thôn, cày cấy ở nông thôn đều dùng trâu, tiếng trâu kêu rất lớn. Nông dân nuôi trâu, nơi chẳng nghe thấy tiếng trâu kêu, chỗ ấy cũng rất an tĩnh. Nếu là hiện tại th́ nơi không nghe thấy tiếng xe cộ sẽ khá an tĩnh, nhất định phải tránh chỗ ồn náo. Đối với định nghĩa này, cũng phải nên tùy theo thời đại mà [xét theo] tiêu chuẩn khác nhau. Xưa kia, tiếng trâu kêu rất lớn, hiện thời tạp âm của xe lửa hoặc máy bay c̣n to hơn xưa kia quá nhiều. Nơi mà những âm thanh ồn ào ấy chúng ta đều chẳng nghe thấy th́ chỗ ấy là A Lan Nhă. Điều này nhằm tạo tiện lợi cho hàng sơ học.

      Nhưng tâm địa đă thật sự thanh tịnh rồi th́ chẳng thể ở măi nơi đó; ở miết nơi đó, chưa chắc tâm địa thật sự thanh tịnh. Sau khi đă đạt đến một mức độ thanh tịnh [kha khá], phải đến chỗ ồn náo, đến nơi ồn náo để xem cái tâm có c̣n thanh tịnh hay không? Trong nơi náo nhiệt ấy, nếu tâm lập tức bị ảnh hưởng, hăy nên lui về, chớ nên ở nơi đó. Nếu ở trong nơi náo nhiệt mà không bị ảnh hưởng, tâm vẫn thanh tịnh th́ có thể ở nơi đó, [bởi lẽ], động tĩnh như nhau, nhiễm tịnh chẳng hai, đó là thật sự thành tựu. Do đó, người Tiểu Thừa chẳng dám tiếp xúc thành thị, Đại Thừa Bồ Tát tu Định trong chốn chợ búa. Quư vị xem kinh Hoa Nghiêm, trưởng giả Dục Hương tu Thiền Định ở nơi đâu? Kinh nói là trong chốn chợ búa. “Chợ búa” có nghĩa là ǵ? Là nơi buôn bán, phồn hoa nhất, náo nhiệt nhất, ông ta tu Thiền Định ở nơi đó. Ông ta tu Thiền tại đó, có phải là ngồi xếp bằng nh́n vào vách hay không? Chẳng phải vậy! Ở nơi đó, ông ta la cà trên phố, cái này cũng nh́n, cái kia cũng ngắm, đó gọi là tu Thiền Định. Chúng ta hoàn toàn chẳng nh́n ra ông ta đang tu Thiền Định nơi đó. Ông ta xoay qua, lộn lại trong chốn náo nhiệt, nhưng là Định Huệ song tu. Thứ ǵ cũng đều xem, giống như những sản phẩm mới hiện thời ông ta đều biết, “đều biết” là Huệ, thứ ǵ ông ta cũng đều hiểu. Xem xong, như như bất động, như như bất động là Định, ông ta tu Định nơi ấy. Chẳng giống như lũ phàm phu chúng ta, thấy vật này tốt bèn vội vă mua về, tâm đă động mất rồi. Định đă chẳng có, mà Huệ cũng chẳng có luôn! V́ thế, ông ta thường dạo phố, thường la cà chốn náo nhiệt, thứ ǵ cũng đều biết, Huệ thành tựu. Sau khi đă xem xong, như như bất động, nên Định thành tựu. Người ta tu Định Huệ ở chỗ này! Chuyện này hàng Tiểu Thừa chắc chắn chẳng dám tu, đó là nói công phu đă đạt mức, phương pháp tu hành của họ và phương pháp tu hành của chúng ta khác nhau!

      Giới thiệu đơn giản cùng chư vị chỗ sai biệt giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa tới đây là được rồi! Chúng ta xem đoạn kế tiếp. Trong đoạn này, [đức Phật] chánh thức dạy bà Vi Đề Hy phương pháp tu học, tức là mười sáu diệu quán.

       

Phật cáo Vi Đề Hy: “Nhữ thị phàm phu, tâm tưởng luy liệt, vị đắc Thiên Nhăn, bất năng viễn quán. Chư Phật Như Lai hữu dị phương tiện, linh nhữ đắc kiến.

希。汝 夫。心 劣。未 眼。不 觀。諸 便。令 見。

(Đức Phật bảo Vi Đề Hy: “Bà là phàm phu, tâm tưởng yếu hèn, chưa đắc Thiên Nhăn, chẳng thể nh́n xa. Chư Phật Như Lai có phương tiện lạ khiến cho bà được thấy”).

 

      Nh́n từ dấu tích [thị hiện], phu nhân Vi Đề Hy là phàm phu giống như chúng ta, cũng là mê hoặc, điên đảo, cũng là cảm t́nh rất nặng, phiền năo trùng trùng, giống hệt như chúng ta. V́ thế, “tâm tưởng luy liệt, vị đắc Thiên Nhăn” (tâm tưởng yếu hèn, chưa đắc Thiên Nhăn), sẽ chẳng thể thành tựu Diệu Quán. Nhưng đức Phật có sức mạnh, gia tŕ, giúp đỡ bà ta. “Chư Phật Như Lai hữu dị phương tiện, linh nhữ đắc kiến” (Chư Phật Như Lai có phương tiện lạ, khiến cho ngươi được thấy). Nếu muốn thấy Tịnh Độ, nhất định phải do Phật lực gia tŕ, đây là chỉ ra “hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật”. Phàm phu tu hành, nói thật ra, dẫu có công phu Định lực nho nhỏ, vẫn chẳng thấy Tây Phương Tịnh Độ. Giống như trong phần trước chúng tôi đă nói, Viễn Công đại sư một đời ba lần thấy Tịnh Độ của Phật, đó là do phương tiện thù thắng, lạ lùng của chư Phật Như Lai gia tŕ Ngài, khiến cho Ngài trông thấy. Viễn Công có thể thấy, chúng ta cũng có thể thấy. Phật đă gia tŕ Ngài, Phật cũng sẽ gia tŕ chúng ta; nhưng chúng ta chớ nên có tâm niệm mong được thấy. V́ sao? Niệm niệm cầu thấy, tâm chẳng thanh tịnh, công phu không đắc lực. Không cầu thấy, đến lúc đó, đôi khi Phật gia tŕ khiến cho quư vị trông thấy, chứng minh cho quư vị, tăng cường tín tâm của quư vị: [Chắc chắn là] quư vị đă đi đúng đường. Chẳng thấy cũng không khẩn yếu, chớ nên thường hoài nghi: “Ta chẳng trông thấy điều ấy, chỉ sợ công phu lui sụt”. Đó là dấy vọng tưởng, đă sai lầm mất rồi! Phải hiểu pháp môn này đặc biệt coi trọng tu tâm thanh tịnh. V́ lẽ đó, dẫu thấy, cũng phải như kinh Kim Cang đă nói: “Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng”. Thấy mà như chẳng thấy, chẳng mảy may trở ngại cái tâm thanh tịnh của quư vị. Đó là đúng. V́ thế, người tu Tịnh Độ, không chỉ [riêng người] tu Tịnh Độ, người tu Phật pháp Đại Thừa quyết định chớ nên tham chuộng thần thông.

      Chiều hôm qua, có một cư sĩ đến gặp tôi, ông ta đang gặp khó khăn rất lớn. Hai vợ chồng đều ở trong ngành giáo dục, ông ta kể: Gần đây, bà vợ ông ta nẩy sanh vấn đề, chẳng biết bả thân cận đạo tràng nào, nay đang vướng ma chướng, nên tới t́m tôi. Tôi liền khuyên ông ta: “Tốt nhất là ông bảo bà ta đừng tiếp xúc với những kẻ đó nữa”. Ông ta nói: “Nói rồi mà bả có nghe đâu! Ham thần thông lắm”. Phàm những kẻ bị ma dựa đều là ham thần thông. Nếu quư vị nh́n thần thông và những chuyện kỳ quái rất nhạt nhẽo, chẳng quan tâm đến, yêu ma quỷ quái chẳng t́m quư vị, [v́ chúng] chẳng có cách nào tiếp cận quư vị. Quư vị tham chuộng, ưa thích thần thông, hiếu kỳ, quư vị liền bị yêu ma quỷ quái nắm thóp, đùa bỡn quư vị! Ở trong và ngoài nước, chúng tôi đă thấy rất nhiều kẻ trẻ tuổi được hưởng sự giáo dục cao cấp, toàn là những kẻ ưu tú, học [thần thông] chưa đến một năm hay nửa năm, bèn phải vào bệnh viện tâm thần, tinh thần phân liệt, tương lai cả một đời bị hủy hoại. Nói thật ra, những thứ đó chẳng phải là Phật giáo, mà là tà giáo! Yêu ma quỷ quái đang quậy phá. Có phải là thật sự thấy họ phóng quang hay không? Thật sự trông thấy, chẳng phải là giả. Họ nói phóng quang, [thân h́nh] ĺa khỏi mặt đất ba thước, là thật, chẳng giả tí nào! Yêu ma quỷ quái hiện những thứ thần thông ấy cho quư vị trông thấy. Quư vị càng thấy, càng nghĩ chúng nó rất tuyệt. Chúng ta bảo họ: “Bọn chúng nó là giả”, [họ sẽ nạt lại]: “Ngươi không bằng người ta! Nếu không, ngươi phóng quang cho ta xem thử coi!” Họ chẳng tin tưởng chánh pháp, muốn tin tưởng yêu ma quỷ quái, càng mê sâu hơn. Chuyện này không chỉ là đem lại nỗi đau khổ cho chính người ấy, mà c̣n khiến cho cả gia đ́nh đau khổ, rất đáng thương, chúng ta phải chú ư điều này.

      Lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ đôi ba lượt khuyến khích chúng ta: “Học Phật th́ đạo tràng coi trọng thực chất, chẳng coi trọng h́nh thức. Tu hành quư nơi cái tâm thanh tịnh, tuyệt đối chẳng chú ư thần thông cảm ứng, ngay cả cảm ứng cũng không mong cầu”. Người thật sự tu hành, tu tâm thanh tịnh, [nhận biết] “ta phiền năo ngày càng ít hơn, tâm địa ngày càng thanh tịnh hơn, ngày càng sung sướng hơn, pháp hỷ sung măn, trí huệ càng ngày càng tăng trưởng hơn”. Trí huệ tăng trưởng nh́n từ chỗ nào? Xử sự, đăi người, tiếp vật chẳng hồ đồ giống như trước, dường như mỗi ngày có trí huệ hơn, đó đều là hiện tượng tiến bộ. Đó là hiện tượng tốt. Nếu nói hằng ngày thấy rất nhiều quỷ, thấy khá nhiều thần, nguy hiểm rồi! Đó chẳng phải là một hiện tượng tốt lành, mà là sắp vào nhà thương điên! Đôi khi trông thấy th́ phải làm sao? Có thấy th́ chẳng cần quan tâm tới, chẳng cần nghĩ đến họ, niệm Phật cho nhiều, đọc kinh cho nhiều, về sau, cơ hội trông thấy họ sẽ ít đi. Trước kia, cư sĩ Giản Phong Văn thường trông thấy, mỗi tháng thấy khá nhiều lần, đến kể với tôi. Ông ta chẳng bịa chuyện, trước kia, ông ta thích tĩnh tọa. Trong khi tĩnh tọa, thấy khá nhiều cảnh giới kỳ quái, từng thấy Thập Điện Diêm Vương. Sau này, tôi dạy ông ta: “Từ nay về sau, ông thấy những điều đó đừng quan tâm tới, chẳng cần để ư, cứ niệm Phật cho nhiều”. Về sau, dần dần ít đi. Hiện nay, trong ṿng một hai năm qua chẳng thấy nữa, không c̣n nữa, khôi phục b́nh thường.

      [Thấy những cảnh tượng kỳ quái, quỷ thần], chắc chắn chẳng phải là b́nh thường, chẳng phải là chuyện tốt đẹp. Chẳng cần nói thấy yêu ma quỷ quái chẳng phải là chuyện tốt, mà thấy chư Phật, Bồ Tát cũng chẳng phải là chuyện tốt. Quư vị hăy xem kinh Lăng Nghiêm, [phần nói về] năm mươi thứ Ấm Ma, yêu ma quỷ quái biến hiện cảnh giới của Phật, Bồ Tát, đơn giản là khiến cho quư vị chẳng có cách nào phân biệt là thật hay giả. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đă dạy chúng ta một nguyên tắc: “Bất tác thánh giải” (chẳng nghĩ [những cảnh giới kỳ quái, lạ lùng ta được thấy] là chính ḿnh đă đạt được sự giải ngộ của bậc thánh), [đối với] những cảnh giới tốt đẹp, căn bản là chẳng quan tâm tới, chúng sẽ là cảnh giới tốt đẹp. Nếu quư vị nghĩ chúng là thật, sẽ bị mắc lừa, “tức thọ quần tà” (liền rớt vào lũ tà), quư vị đă bị những thứ yêu ma quỷ quái ấy đùa bỡn, gạt gẫm. Đúng là đối với các cảnh giới như trong Lăng Nghiêm đă nói, chúng ta chẳng có cách nào phân biệt là thật hay giả, c̣n những thứ như ta trông thấy trong hiện thời vừa trông thấy liền biết là giả, tuyệt đối chẳng phải là thật.

Đây là nói một người tu hành, trên đường Bồ Đề, tất nhiên sẽ gặp những cảnh giới ấy, khi gặp những cảnh giới đó, quyết định chẳng cần quan tâm tới. Chính v́ như vậy, chúng tôi thường khuyên nhủ các đồng tu, hễ quư vị thờ Phật, bèn thờ một pho tượng, hằng ngày nh́n bức tượng Phật ấy, mọi người phải biết điều này. Hết thảy yêu ma quỷ quái có thể lừa gạt người, chúng nó gạt người v́ quư vị tự nguyện bị lừa, bằng ḷng bị gạt! Nói thật ra, chúng nó trọn chẳng phạm pháp to lớn ǵ! Chúng nó biến hiện thành h́nh tượng của Phật, Bồ Tát, nhưng chẳng dám biến thành h́nh Bổn Tôn, nên nói là chúng nó chẳng phạm pháp. Tuy chúng nó có thể giả mạo, nhưng giả mạo tương tự, chẳng rất giống, nên chẳng phạm pháp. Ví như đối với “thương tiêu” (nhăn hiệu cầu chứng, trademark), tôi thiết kế thương tiêu chẳng khác thương tiêu của quư vị cho mấy, nhưng có đôi chút bất đồng, tôi chẳng giả mạo chiêu bài của quư vị, v́ sao? Thương tiêu do tôi thiết kế có đôi chút khác với quư vị, chẳng thể coi là giả mạo nhăn hiệu, chẳng thể trị tội theo pháp luật được. Hoàn toàn giống hệt th́ là giả, tức là hàng nhái, phải bị trị tội. V́ lẽ đó, yêu ma quỷ quái chẳng dám hiện thành Bổn Tôn.

      Ta thờ phụng A Di Đà Phật, A Di Đà Phật là Bổn Tôn của ta, yêu ma quỷ quái chẳng dám biến thành A Di Đà Phật. Chúng biến thành các vị Phật, Bồ Tát khác đến dụ dỗ, mê hoặc quư vị, tuyệt đối chẳng dám biến thành A Di Đà Phật. Ta thờ phụng Quán Thế Âm Bồ Tát, hằng ngày lễ bái Quán Âm Bồ Tát, xưng niệm Quán Âm Bồ Tát, chúng nó chẳng dám biến thành Quán Âm Bồ Tát. Biến thành h́nh tượng Ngài, thần hộ pháp quyết định chẳng chấp nhận. Biến thành [h́nh tượng] tương tự, chẳng phải là thật, thần hộ pháp cũng chẳng quan tâm tới, v́ sao? Dẫu sao, chúng nó chẳng thật sự phạm pháp. Thần hộ pháp giống như cảnh sát, chẳng can thiệp, không bắt giữ chúng nó. Chúng ta thờ một bức tượng A Di Đà Phật, suốt đời thờ một tượng ấy, chúng ta thấy h́nh tượng ấy rất rơ ràng. Nếu chúng nó biến ra một vị A Di Đà Phật, có h́nh dạng khác với tượng ấy, chúng ta sẽ chẳng quan tâm tới. Khi lâm chung, A Di Đà Phật đến tiếp dẫn chúng ta, quyết định là có h́nh dáng giống như bức tượng chúng ta đang thờ, khiến cho bản thân chúng ta chẳng có chút hoài nghi nào. Ta mỗi ngày nh́n bức tượng ấy, đến cuối cùng, quả nhiên Phật hiện tiền, Ngài dẫn chúng ta đi, há có lầm lẫn ư? Tuyệt đối sẽ chẳng sai lầm! Đó là cái hay của việc cúng dường một h́nh tượng Bồ Tát [hay h́nh tượng Phật, suốt đời chẳng thay đổi]. Hiện thời, thờ một bức rất dễ dàng. Chúng ta đi ra ngoài, hăy chụp ảnh bức tượng chính ḿnh đang thờ để có thể đem theo thân, đến chỗ nào cũng đều có thể cúng dường, chẳng cần phải mang theo tượng khắc hoặc tượng đắp! Nhất là tượng thờ rất lớn, mang theo chẳng thuận tiện. Chúng ta chụp h́nh mang theo rất thuận tiện. Giống như tượng Phật của chúng ta ở đây, chúng ta đều đă in ra, tượng Quán Âm Bồ Tát cũng được in ra, cuốn thành một cuộn, đặt trong hành lư, đi đến đâu cũng đều có thể mang theo. Tượng Phật trông thấy mỗi ngày là cùng một tượng Phật, tốt lắm!

Chúng ta lại xem phần kinh văn tiếp theo, xem hàng cuối cùng trong trang một trăm bốn mươi.

 

      Thời Vi Đề Hy bạch Phật ngôn: - Thế Tôn, như ngă kim giả dĩ Phật lực cố, kiến bỉ quốc độ, nhược Phật diệt hậu chư chúng sanh đẳng, trược ác bất thiện, ngũ khổ sở bức, vân hà đương kiến A Di Đà Phật Cực Lạc thế giới?

言。世 尊。如 故。見 土。若 等。濁 善。五 逼。云 界。

(Khi ấy, bà Vi Đề Hy bạch Phật: - Bạch đức Thế Tôn! Như con nay do Phật lực được thấy cơi nước ấy, nếu sau khi đức Phật đă diệt độ, các loài chúng sanh trược ác, chẳng lành, bị năm nỗi khổ bức bách, sẽ thấy thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật bằng cách nào?)

 

      Đây là ḷng từ bi của phu nhân Vi Đề Hy. Do Thích Ca Mâu Ni Phật dùng thần lực triển hiện các cơi nước Phật trước mặt bà, bà được thấy thế giới Tây Phương. Bà là phàm phu, chẳng có Thiên Nhăn, do Phật lực gia tŕ khiến bà trông thấy để chọn lựa. Do đó, bà ta liền nghĩ: Trong tương lai, sau khi đức Phật diệt độ, đến thời kỳ Mạt Pháp, ngũ trược ác thế, chúng sanh khi ấy làm thế nào để có thể thấy thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật? Đối với chữ “trược ác”, phần chú giải đă trích dẫn đoạn Ngũ Ác, Ngũ Thống, Ngũ Thiêu được nói trong kinh Vô Lượng Thọ. Đoạn kinh văn này chúng ta rất quen thuộc, nên nội dung đoạn này giống như Đại Kinh đă nói. Ở đây, ta thấy tấm ḷng từ bi của phu nhân: Sau khi chính ḿnh đă đắc độ, bèn nghĩ đến hết thảy chúng sanh sẽ đắc độ như thế nào, kiến giải chẳng giống vua Tần Bà Sa La! Quư vị thấy một đằng là Đại Thừa, một đằng là Tiểu Thừa. Tiểu Thừa th́ chính ḿnh đắc độ là được rồi, chẳng nghĩ đến người khác. Tâm Đại Thừa Bồ Tát th́ chính ḿnh c̣n chưa đắc độ, đă ngay lập tức nghĩ đến người khác. Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n chưa dạy bà ta phương pháp tu hành, mà bà ta đă nghĩ đến người khác: Người khác làm thế nào để có cơ duyên này ngơ hầu cũng có thể đắc độ? Đó là sự khác biệt giữa tâm lượng Tiểu Thừa và Đại Thừa, tư tưởng khác nhau!

Chúng ta xem phần kinh văn tiếp theo trong trang một trăm bốn mươi lăm.

 

       Phật cáo Vi Đề Hy: - Nhữ cập chúng sanh, ưng đương chuyên tâm hệ niệm nhất xứ, tưởng ư Tây Phương.

希。汝 生。應 處。想 西 方。

(Đức Phật bảo Vi Đề Hy: - Bà và chúng sanh hăy nên chuyên tâm hệ niệm nhất xứ, tưởng Tây Phương).

 

      Hàm nghĩa trong kinh văn này hết sức sâu xa. Chữ “nhữ” () chỉ phu nhân Vi Đề Hy. Chữ “chúng sanh” bao gồm chúng ta trong đó; chỉ cần là kẻ đời sau, có duyên đọc bộ kinh điển này, liền được bao gồm trong đó. Do vậy có thể biết, đức Phật khai thị lần này cho phu nhân Vi Đề Hy, cũng là khai thị cho mỗi vị đồng tu chúng ta. Bà Vi Đề Hy là bậc đương cơ; chúng ta mở bộ kinh điển này ra, đọc tụng, tiếp xúc bộ kinh điển này th́ cũng là đương cơ của bản kinh này. Do đó, sự giáo học của đức Phật là một Thể hoàn toàn b́nh đẳng, dạy chúng ta “hăy nên chuyên tâm hệ niệm nhất xứ, tưởng Tây Phương”, câu này là khuyên tu. “Chuyên tâm hệ niệm” th́ mới có thể bỏ vọng tưởng. V́ sao người b́nh phàm chẳng thể chế phục vọng tưởng? Do ư niệm của họ chẳng chuyên. Nếu ư niệm chuyên nhất, những vọng niệm khác sẽ tự nhiên chẳng sanh. Phàm phu chẳng thể nào chẳng có niệm. Phương pháp của đức Phật rất xảo diệu, tức là dùng ngay ư niệm [niệm Phật] này để ngưng dứt vọng niệm. Dùng phương pháp này khiến cho trong ư niệm của quư vị chỉ nghĩ đến một chuyện. Chẳng khởi niệm th́ thôi, hễ khởi niệm bèn nghĩ tới một chuyện, tưởng Tây Phương Cực Lạc thế giới, tưởng A Di Đà Phật là được rồi. Dùng niệm để dứt niệm, dạy chúng ta sử dụng phương pháp này. Tu học phương pháp này sẽ thuận tiện hơn nhiều!

      Dưới đây, đức Phật dạy chúng ta cách tưởng, [hăy xem] trang một trăm bốn mươi sáu.

 

      Vân hà tác tưởng?

      想。

(Quán tưởng như thế nào?)

 

      Cách tưởng ra sao?

 

      Phàm tác tưởng giả, nhất thiết chúng sanh, tự phi sanh manh, hữu mục chi đồ, giai kiến nhật một.

者。一 生。自 盲。有 徒。皆 沒。

(Phàm là quán tưởng, hết thảy chúng sanh nếu chẳng phải là kẻ mù từ lúc mới sanh ra, những ai có mắt đều thấy mặt trời lặn).

 

Đây là nêu thí dụ để dạy cách tưởng như thế nào. Hết thảy chúng sanh nếu chẳng phải là kẻ sanh manh, “sanh manh” (生盲) là sanh ra liền bị mù th́ gọi là “sanh manh”. Nếu chẳng phải là t́nh h́nh ấy, nhất định đă từng thấy mặt trời ngả bóng, ắt phải là đă từng thấy cảnh tượng mặt trời lặn. Thật ra, đức Phật dạy điều này là nói về xưa kia, trước kia cảnh mặt trời lặn, đặc biệt là sống ở hương thôn, chúng ta thường trông thấy. Hiện thời, tại đô thị, sống trong cao ốc, có thể là có kẻ suốt đời chưa hề thấy cảnh mặt trời mọc hay lặn, người ấy tu phép quán tưởng này cũng rất khó khăn, v́ chẳng có kinh nghiệm này. Người hiện thời sống tại đô thị, khi đến chơi núi A Lư[1], thấy mặt trời xuất sơn, tức là thấy mặt trời mọc. Thấy mặt trời mọc th́ có, chứ thấy mặt trời lặn dường như vẫn chưa hề nghe nói tới! Do đó, trước hết, đức Phật dạy chúng ta quán tưởng phương hướng, tưởng Tây Phương, nơi mặt trời lặn là Tây Phương, tưởng h́nh dạng mặt trời lặn.

      Đoạn kinh văn kế tiếp [bắt đầu] từ hàng cuối cùng trong trang một trăm bốn mươi bảy.

 

       Đương khởi tưởng niệm, chánh tọa Tây hướng, đế quán ư nhật dục một chi xứ.

念。正 西 向。諦 處。

(Hăy nên khởi tưởng niệm, ngồi ngay ngắn hướng về phía Tây, quán kỹ lưỡng nơi mặt trời sắp lặn).

 

      “Đế quán” là quán sát cặn kẽ, hăy xem nơi mặt trời lặn.

 

      Linh tâm kiên trụ, chuyên tưởng bất di, kiến nhật dục một, trạng như huyền cổ.

住。專 移。見 沒。狀 鼓。  

(Khiến cho tâm trụ chắc, chuyên quán tưởng chẳng đổi dời, thấy mặt trời sắp lặn, h́nh dạng như cái trống treo).

 

      Khi mặt trời sắp lặn, chỉ thấy một vầng mặt trời đỏ rực, giống như một cái trống, tức cái trống đang treo lơ lửng trong không trung.

 

Kư kiến nhật dĩ, bế mục, khai mục, giai linh minh liễu.

已。閉 目。皆 了。

(Đă thấy mặt trời rồi, [hăy quán tưởng sao cho] nhắm mắt, mở mắt, đều thấy rơ ràng).

 

      Quán thành công sẽ là cảnh giới như thế này: Nhắm mắt, mặt trời ở trước mặt; mở mắt, mặt trời vẫn ở trước mặt. Đó là quán tưởng thành công. Nếu mở mắt, mặt trời ở trước mặt, nhưng nhắm mắt, mặt trời chẳng c̣n nữa, tức là quán chưa thành công. Hoặc là nhắm mắt, h́nh tượng ấy ở trước mặt, nhưng mở to mắt lại chẳng c̣n, cũng chẳng thể coi như là thành công được! Phép Quán này cũng rất khó. Sau khi quán thành công, bất luận ở nơi nào, mở to mắt, mặt trời quả thật ở trước mặt; nhắm mắt, mặt trời vẫn ở trước mặt. Đó là phép Quán thứ nhất thành tựu. Trong mười sáu phép Quán, đây là phép Quán đầu tiên, là phép Quán dễ nhất. Quư vị thử tập xem, quư vị có bản lănh quán thành công hay chăng? Có thể quán thành công, sẽ có thể văng sanh. Trong mười sáu phép Quán, chỉ cần quán một phép thành công, sẽ đều có thể văng sanh. Chẳng cần phải là mỗi phép Quán trong mười sáu phép Quán đều thành công, chỉ cần thành một phép Quán là được rồi. Nói rất dễ dàng, làm th́ sẽ rất khó thực hiện! Nếu chẳng chuyên tâm đến tột bậc, cảnh giới này sẽ chẳng thể hiện tiền.

 

      Thị vi nhật tưởng, danh viết Sơ Quán.

      想。名 觀。

      (Đó là phép tưởng mặt trời, gọi là phép Quán đầu tiên).

     

Đây là phép Quán thứ nhất trong mười sáu phép Quán. Sau đoạn kinh văn này, có chú giải rất nhiều, nhưng không ǵ chẳng nhằm nói rơ nguyên lư này. Thiên Thai đại sư dùng đạo lư Nhất Tâm Tam Quán để thuyết minh sự thật này. Nếu chẳng đạt đến Nhất Tâm Tam Quán, cảnh giới này chẳng thể hiện tiền! Do vậy, quán thành công hết sức khó khăn. Sau khi quán thành công, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đă đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, c̣n phải trừ bỏ tướng hư vọng ấy. V́ sao? Trong tâm thanh tịnh vốn chẳng có một vật, lẽ đâu có mặt trời? Quư vị phải hiểu đạo lư này, mới hiểu trong bốn loại niệm Phật, Tŕ Danh thù thắng bậc nhất. Trước đây, tôi đă từng hỏi thầy Lư chuyện này, thầy Lư bảo tôi: “Quán rất khó thành tựu! Quán thành công, anh nghĩ xem ấn tượng sâu đậm cỡ nào! Giống như chúng ta tưởng niệm một ai đó, thời thời khắc khắc đều nghĩ nhớ người ấy. Người ấy ở ngay trước mặt, tưởng niệm khắc sâu ngần ấy.Trong A Lại Da Thức, sức mạnh ấy phải mạnh mẽ lắm th́ hiện tượng ấy mới hiện thành được! Nhưng nó toàn là tướng hư vọng, sau khi đă đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, lại c̣n phải trừ bỏ tướng ấy. Quán thành công khó khăn, về sau, trừ bỏ nó cũng khó, xóa bỏ cũng khó, v́ sao? Ấn tượng quá sâu!” V́ vậy, thầy nói [mười lăm phép Quán trước] chẳng bằng [niệm] danh hiệu. [Bởi lẽ], xóa bỏ danh hiệu dễ dàng, do biết danh hiệu là giả danh. V́ vậy, chấp tŕ danh hiệu văng sanh thế giới Tây Phương dễ dàng; sau khi đă sanh về thế giới Tây Phương, trừ bỏ danh hiệu cũng dễ dàng. So với chuyện đă quán thành công rồi, sau đó lại bỏ phép Quán ấy, chúng ta suy nghĩ sẽ tự biết sự khó hay dễ trong ấy.

      Thầy khuyên chúng tôi, biết lư luận và phương pháp quán tưởng niệm Phật, nhưng chẳng cần phải dùng tới, vẫn giữ lối tŕ danh niệm Phật, giữ cách này sẽ tốt đẹp. Tŕ Danh tương ứng với Thật Tướng, c̣n phương pháp [quán tưởng] này chẳng tương ứng với Thật Tướng. Quán Tưởng Niệm Phật và Quán Tượng Niệm Phật đă khó, lại c̣n chẳng tương ứng. Tŕ danh niệm Phật dễ dàng, tương ứng với Thật Tướng. Đó là lư do v́ sao chư Phật, Bồ Tát, tổ sư đại đức đặc biệt nhấn mạnh, đề xướng pháp môn Niệm Phật, đạo lư ở ngay chỗ này.

 

Tập 22

 

Thứ, tác thủy tưởng.

想。

      (Tiếp đó là tưởng nước).

 

      Đây là phép Quán thứ hai, chúng ta xem kinh văn, hàng thứ ba trong trang một trăm năm mươi hai.

 

      Kiến thủy trừng thanh, diệc linh minh liễu, vô phân tán ư.

      清。亦 了。無 意。

(Thấy nước trong lặng, cũng quán cho rành rẽ, ư chẳng phân tán).

 

      “Vô phân tán ư” là Nhất Tâm Tam Quán.

 

      Kư kiến thủy dĩ, đương khởi băng tưởng.

      已。當 想。

      (Đă thấy nước rồi, hăy nên dấy ư niệm tưởng băng).

 

      Phép Quán thứ hai là quán biển cả đóng băng.

 

      Kiến băng ánh triệt, tác lưu ly tưởng.

      徹,作 想。

      (Thấy băng trong suốt, quán tưởng là lưu ly).

 

      Sau khi kết thành băng, giống như lưu ly (Vaiḍūrya, Tỳ Lưu Ly). Lưu ly trong suốt, có màu hơi xanh, người Hoa gọi là Phỉ Thúy (翡翠), tức ngọc có màu xanh. Nước biển có màu xanh dương, nên nếu kết thành băng, quả thật giống như lưu ly.

 

      Thử tưởng thành dĩ, kiến lưu ly địa, nội ngoại ánh triệt.

      已。見 地,內 徹。

(Phép quán tưởng này đă thành, sẽ thấy đất lưu ly, trong ngoài thấu suốt).

 

      Sau khi phép quán tưởng này đă thành, đại địa là lưu ly. Đại địa trong thế giới Tây Phương bằng lưu ly. Nếu quán thành công phép quán tưởng này, bất luận ở chỗ nào, quư vị đều thấy đất quyết định là đất lưu ly. Nếu thấy đất ở chỗ chúng ta đây vẫn là sàn bằng đá mài, tức phép quán tưởng này chẳng thành công, tuyệt đối là chẳng quán thành công. Sau khi quán thành công, đất là đất lưu ly. Do vậy, chúng ta cũng có thể hiểu rơ, trong kinh, đức Phật đă nói “hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng”, đó là thật. Tâm quả thật có thể biến cảnh giới, tùy thuộc vào mức độ tưởng của quư vị. Nay chúng ta chẳng thể biến cảnh giới, là do tưởng rất cạn, nay đang tưởng chỗ này, qua niệm thứ hai bèn tưởng chỗ khác; do vậy, chẳng thể biến thành cảnh giới. Nếu chuyên chú tưởng một chuyện, sẽ thật sự có thể biến cảnh giới. Hết thảy các pháp đều sanh từ tâm tưởng. Dưới mặt đất của Tây Phương c̣n có rất nhiều kho báu, dưới mặt đất trong cơi chúng ta cũng có kho báu.

 

      Hạ hữu kim cang thất bảo kim tràng, ḱnh lưu ly địa.

      幢。擎 地。

      (Dưới đó có tràng vàng kim cang bảy báu nâng đỡ đất lưu ly).

 

      Chúng ta biết địa cầu có h́nh cầu, trong h́nh cầu có lơi. Cái lơi ấy như được nói ở nơi đây, có h́nh dáng giống cái tràng, “nâng đỡ đất lưu ly”.

 

      Kỳ tràng bát phương, bát lăng cụ túc, nhất nhất phương diện, bách bảo sở thành. Nhất nhất bảo châu hữu thiên quang minh. Nhất nhất quang minh bát vạn tứ thiên sắc, ánh lưu ly địa, như ức thiên nhật, bất khả cụ kiến.

      方。八 足。一 面。百 成。一 珠。有 明。一 明。八 色。映 地。如 日。不 見。

      (Tràng ấy có tám mặt, tám cạnh trọn đủ. Mỗi một mặt do trăm thứ báu hợp thành. Mỗi một bảo châu có ngàn quang minh. Mỗi một quang minh có tám vạn bốn ngàn màu, chiếu rực đất lưu ly như ức ngàn mặt trời, chẳng thể thấy trọn).

 

      Phía dưới có chất báu, chất báu tỏa ánh sáng, có vô lượng quang minh. Như vậy là đất nơi thế giới Tây Phương tỏa ánh sáng, đại địa có quang minh. Chúng ta nghĩ xem địa cầu của chúng ta có quang minh hay không? Nói thật ra, cũng tỏa sáng, cũng có ánh sáng, nhưng nhục nhăn của chúng ta chẳng thấy. Nay chúng ta dùng máy móc thăm ḍ, bèn phát hiện ánh sáng có bước sóng dài hay ngắn khác nhau. Những tia sáng mà chúng ta có thể thấy bằng mắt thường có bước sóng vô cùng hữu hạn, [những tia sáng] có bước sóng dài hơn th́ chúng ta chẳng thấy, mà những tia sáng có bước sóng ngắn hơn chúng ta cũng không thấy. Chẳng phải là [đại địa] không phóng quang, thảy đều phóng quang. Nay ta dùng dụng cụ khoa học để thăm ḍ, chúng ta đă thăm ḍ được các tia sáng như tia X, hồng ngoại tuyến (Infrared), tử ngoại tuyến (Ultraviolet), đó là những tia sáng thăm ḍ được. Trên mặt đất hay trong không trung đều có ánh sáng, nhưng chúng ta chẳng thể thấy bằng mắt thường. Ḷng người trong thế giới Tây Phương thanh tịnh, nên đối với các thứ sóng ánh sáng đều có thể trông thấy. V́ vậy, thế giới ấy khác hẳn. Nếu chúng ta cũng trông thấy các loại sóng ánh sáng th́ [sẽ thấy] dưới mặt đất cũng trong suốt, cũng thấy dưới ḷng đất, chúng ta gọi chuyện này là Thiên Nhăn. Người có Thiên Nhăn Thông chẳng bị chướng ngại, có thể thấy phía dưới mặt đất. Hiện thời có những kẻ khoe có Thiên Nhăn, nhưng “Thiên Nhăn” rất hữu hạn. Có nhiều kẻ nói thật ra chẳng hề có Thiên Nhăn, nhưng tự xưng là có Thiên Nhăn, chưa chắc đă là thật. Thiên Nhăn thật sự th́ vách tường chẳng trở ngại được, chúng ta ngồi trong nhà, người bên ngoài qua lại đều có thể thấy rất rơ ràng, đó mới là Thiên Nhăn. Nếu người bên ngoài đang hoạt động tại đó mà chúng ta không biết, chẳng phải là Thiên Nhăn! Thiên Nhăn chẳng có chướng ngại, trông thấy t́nh h́nh dưới mặt đất.

 

Lưu ly địa thượng, dĩ hoàng kim thằng, tạp xí gián thác, dĩ thất bảo giới, phân tề phân minh. Nhất nhất bảo trung, hữu ngũ bách sắc quang, kỳ quang như hoa. Hựu tự tinh nguyệt, huyền xử hư không, thành quang minh đài, lâu các thiên vạn, bách bảo hợp thành.

上。以 繩。雜 錯。以 界。分 明。一 中。有 光。其 華。又 月。懸 空。成 臺。樓 萬。百 成。

(Trên đất lưu ly, dùng dây bằng vàng ṛng phân chia ngang dọc xen kẽ, lại dùng bảy báu để làm giới tuyến, chia thành từng khu vực phân minh. Trong mỗi món báu, có ánh sáng năm trăm màu, ánh sáng ấy như hoa, lại giống như mặt trời, mặt trăng, treo lơ lửng trên hư không, tạo thành đài quang minh, ngàn vạn lầu gác do trăm thứ báu hợp thành).

 

      Đây là sự trang nghiêm trên mặt đất. “Dĩ hoàng kim thằng, tạp xí gián thác”: Nói về giới tuyến ngăn cách, giống như trên nền đá mài ở đây cũng có những sợi dây đồng để ngăn cách; ở đây, chúng ta chẳng dùng dây đồng, mà dùng chất plastic để ngăn thành từng ô một, đó là trang hoàng cho đẹp mắt. Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng chẳng ra ngoài lệ ấy, nhưng người ta dùng vàng ṛng để làm vạch ngăn xen kẽ, chẳng như chúng ta ở đây dùng chất plastic. Mặt đất cơi ấy bằng lưu ly, những hoa văn ngăn thành ô nơi đất trong cơi ấy bằng vàng ṛng, dùng vàng ṛng để ngăn thành từng khu.

 

      Ư đài lưỡng biên, các hữu bách ức hoa tràng, vô lượng nhạc khí, dĩ vi trang nghiêm.

      邊。各 幢。無 器。以 嚴。

(Ở hai bên đài, mỗi bên có trăm ức tràng hoa, vô lượng nhạc khí để trang nghiêm).

 

      Đây là thiên nhạc rền vang trên hư không. Những nhạc khí ấy chẳng cần người diễn tấu, mà có thể tự diễn tấu. Hiện thời, khoa học tiến bộ, tôi đă thấy đàn điện tử cũng chẳng cần có người diễn tấu. Nhấn bàn phím một chút, nó tự ḿnh phát ra âm thanh, tấu đàn tại đó. Chúng ta biết t́nh h́nh ấy chẳng có ǵ lạ lùng, nhưng nếu đem thứ ấy đến những chỗ hẻo lánh tại Hoa Lục, trước nay họ chưa hề trông thấy, sẽ bị dọa mất hồn! Họ sẽ tưởng là quỷ đánh đàn, chẳng có ai đánh, làm sao đàn có thể vang ra tiếng được? Đó là v́ kiến thức rộng hay hẹp khiến cho con người nhận biết sai lạc. Nhưng những thứ do khoa học phát minh trong hiện thời vẫn c̣n có phạm vi diễn tấu nhất định, v́ sao? Những ca khúc diễn tấu đều được chúng ta thâu nhập vào computer, [các bài nhạc do đàn tự động diễn tấu] bị khống chế trong ấy (trong phạm vi vận hành và bộ nhớ của computer). Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có, chẳng cần dùng đến những thứ ấy. V́ vậy, những thứ được diễn tấu là “thuận theo tâm chúng sanh, ứng với khả năng nhận biết của họ”, thiên biến vạn hóa, chẳng bị hạn chế. Thật sự là thiên nhạc, chẳng do con người tạo ra.

 

      Bát chủng thanh phong, tùng quang minh xuất, cổ thử nhạc khí, diễn thuyết Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă chi âm. Thị vi thủy tưởng, danh đệ nhị Quán.

風。從 出。鼓 器。演 音。是 想。名 觀。

(Tám thứ gió mát từ quang minh phát ra, tấu các nhạc khí ấy, diễn nói các âm thanh Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă. Đấy là thủy tưởng, được gọi là phép Quán thứ hai).

 

      V́ sao thiên nhạc có thể vang ra tiếng? Ở đây cũng nói cho chúng ta biết: Từ trong Phật quang, sanh ra gió mát lay động nhạc khí. Nhạc khí diễn tấu Phật pháp, giảng kinh, thuyết pháp. Nếu chúng ta lại xét sâu hơn, những chuyện này đều do thần lực của A Di Đà Phật biến hóa tạo ra. Không chỉ là đức Phật thuyết pháp, mà Ngài c̣n biến hiện những con chim thuyết pháp, trong phần sau chúng ta sẽ thấy hữu t́nh thuyết pháp. Ở đây là vô t́nh cũng thuyết pháp, t́nh và vô t́nh cùng diễn nói âm thanh vi diệu. Đó là sự trang nghiêm khôn sánh trong thế giới Tây Phương. Đó là phép Quán thứ hai. Lại xem phép Quán thứ ba là Địa Quán, [hăy xem từ] hàng thứ ba đếm từ dưới lên trong trang một trăm năm mươi lăm.

 

      Thử tưởng thành thời, nhất nhất quán chi, cực linh liễu liễu, bế mục, khai mục, bất linh tán thất. Duy trừ thực thời, hằng ức thử sự. Như thử tưởng giả, danh vi thô kiến Cực Lạc quốc độ.

時。一 之。極 了。閉 目。不 失。唯 時。恆 事。如 者。名 土。

(Khi tưởng này đă thành, bèn quán mỗi điều sao cho tột bậc rành rẽ. Nhắm mắt, mở mắt, chẳng bị tan mất. Chỉ trừ lúc ăn, luôn nhớ đến chuyện này. Tưởng như vậy th́ gọi là thấy cơi nước Cực Lạc về phần thô).

 

      Từ phần kinh văn này, chúng ta có một chút tin tức, thế giới Cực Lạc do tâm tưởng của chúng ta biến hiện. Thế giới Cực Lạc là như thế, mà hết thảy các thế giới của mười phương chư Phật đều chẳng ra ngoài lệ ấy. Thật sự là hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng. Kinh luận Duy Thức đă nói: “Tâm sanh tắc chủng chủng pháp sanh, tâm diệt tắc chủng chủng pháp diệt” (tâm sanh th́ các pháp sanh, tâm diệt th́ các pháp diệt), điều ấy cũng được chứng thực trong kinh này. Thế giới hiện thời do loạn tưởng của chúng ta biến hiện, nên thế giới này rất loạn. Do [người trong thế giới này] suy nghĩ lung tung, nên tưởng ra thế giới này cũng lộn xộn. Người trong thế giới Tây Phương chuyên tưởng, nên thế giới của họ thanh tịnh. Họ chuyên tưởng, c̣n chúng ta loạn tưởng, nên biến hiện hai cảnh giới chẳng giống nhau. A Di Đà Phật chuyên tưởng, hiện ra sự trang nghiêm thanh tịnh ấy. Phàm là người văng sanh, cũng phải chuyên tưởng giống như A Di Đà Phật th́ mới có thể hiện cảnh giới giống như vậy. V́ thế, tâm chẳng thanh tịnh, chẳng thể văng sanh Tịnh Độ! Dẫu niệm Phật, mỗi ngày niệm mười vạn câu Phật hiệu, vẫn chẳng thể văng sanh. Điều kiện cơ bản để văng sanh là “tâm tịnh, ắt cơi nước tịnh”, như vậy th́ mới có thể cảm ứng đạo giao cùng Tây Phương Cực Lạc thế giới. Dưới đây là đoạn tổng kết trong trang một trăm năm mươi sáu. Chúng ta xem phần kinh văn được in theo lối đảnh cách.

 

      Nhược đắc tam-muội, kiến bỉ quốc địa liễu liễu phân minh, bất khả cụ thuyết, thị vi địa tưởng, danh đệ tam quán.

  昧。見 明。不 說。是 想。名 觀。

(Nếu đắc tam-muội, sẽ thấy đất trong cơi ấy rành rẽ, phân minh, chẳng thể nói trọn. Đấy là địa tưởng, gọi là phép Quán thứ ba).

 

      Đây là tổng kết. Nhất định là phải “đắc tam-muội”, bèn thấy rơ ràng. Chẳng đắc tam-muội th́ là “thô kiến”, tức là thấy cảnh giới tương tự. Nếu đắc tam-muội, tam-muội ở đây thuộc loại Niệm Phật tam-muội, kinh Di Đà gọi Niệm Phật tam-muội là “nhất tâm bất loạn”. Niệm đến nhất tâm bất loạn, cảnh giới này sẽ hết sức rơ ràng, thấy rất thân thiết. Tiếp theo đây là nói đến lợi ích.

 

      Phật cáo A Nan: “Nhữ tŕ Phật ngữ, vị vị lai thế nhất thiết đại chúng dục thoát khổ giả, thuyết thị quán địa pháp. Nhược quán thị địa giả, trừ bát thập ức kiếp, sanh tử chi tội, xả thân tha thế, tất sanh tịnh quốc, tâm đắc vô nghi.

難。汝 語。 者。說 法。若 者。除 劫。生 罪。捨 世。必 淨國。心 疑。

(Phật bảo A Nan: - Ông hăy vâng giữ lời Phật, hăy v́ hết thảy đại chúng muốn thoát khổ trong đời vị lai mà nói phép quán đất này. Người quán đất này, sẽ trừ được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử, khi xả báo thân, ắt sanh về cơi tịnh, tâm chẳng ngờ vực).

 

      Chú giải đoạn này, lời Sớ do Trí Giả đại sư nói. Trí Giả đại sư là một vị tu hành chứng quả, chắc chắn sẽ chẳng nói sai lầm. Tại Trung Hoa, các đời đều truyền tụng Trí Giả đại sư là Thích Ca Mâu Ni Phật hóa thân tái lai. Nếu lời này là thật, những ǵ Trí Giả đại sư đă nói chính là lời Phật nói. “Sớ vân: Tiền thủy thị tưởng, bất năng diệt tội” (Sớ rằng: “Phép quán tưởng nước trong phần trước chẳng thể diệt tội”). Những phép quán mặt trời và quán nước trong phần trước là do tưởng tượng biến hiện ra, chẳng thể diệt tội. V́ sao? Những tướng ấy hoàn toàn là huyễn tướng, mở mắt, các tướng ấy ở trước mặt; nhắm mắt, các tướng ấy cũng ở trước mặt. “Địa quán thị thật, cố năng đoạn trừ dă” (Quán đất là thật, nên có thể đoạn trừ). Thật ra, cũng chẳng thể nói điều đó là chân thật, “thật” chẳng thể coi là chân thật, [bởi lẽ], những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng. Thực tại là chúng ta có “thật cảm”, [tức là] có cảm xúc [nhận thấy chúng dường như là có thật], giống như nay chúng ta thấy đại địa, thấy bàn, ghế, ghế dài, đưa tay sờ mó bèn có cảm nhận [chúng là] chân thật, nhưng chúng có phải là thật hay không? Chẳng phải là thật, có ư nghĩa này. Chẳng giống như tâm tưởng thấy mặt trời, quư vị thấy, nhưng người khác chẳng thấy. Quư vị mở mắt vẫn thấy, mà nhắm mắt cũng thấy, nhưng người khác mở mắt hay nhắm mắt đều chẳng thấy, tuy ở cùng một chỗ mà đều chẳng thấy. V́ thế, [những phép Quán mặt trời và nước] chẳng thể diệt tội. C̣n [trong phép quán đất] này, có cảm nhận chân thật, công phu sâu hơn những phép Quán trước, v́ người ấy (người tu Quán) đă đắc tam-muội, đương nhiên là diệt tội.

      Tôn giả Tứ Minh chú giải, tức là trong lời Sao, Ngài có nói: “Sao vân, cái thác thử phương thủy thành băng sự, đản thị giả tưởng, cố danh ‘thô kiến’. Kim thành tam-muội, thật kiến bỉ địa, tắc danh Thật Quán. Ngôn ‘giả tưởng bất năng diệt tội’, thị đại sư thuận kinh sách tấn, linh hành giả tam-muội tốc thành, toàn phi giả tưởng bất năng diệt tội. Hà dĩ tri nhiên? Nhật quán thượng loại hạ hạ diệt tội chi số, khởi thô kiến địa toàn bất trừ khiên ma?” (Lời Sao viết: “Đây chính là do chuyện tưởng nước đóng thành băng trong cơi này chỉ là giả tưởng, nên gọi là ‘thô kiến’. Nay thành tựu tam-muội, thật sự thấy đất trong cơi kia, nên gọi là Thật Quán. Nói ‘giả tưởng chẳng thể diệt tội’ là đại sư thuận theo kinh văn để sách tấn, ḥng làm cho hành giả mau chóng thành tựu tam-muội, hoàn toàn chẳng phải là ‘giả tưởng chẳng thể diệt tội’! V́ sao biết như thế? [Phần Sớ giảng về] phép quán mặt trời c̣n liệt kê số lượng tội đă diệt [của kẻ đă tu thành tựu phép Quán ấy ở mức độ] hạ hạ. Há có phải là thấy đất về phần thô bèn hoàn toàn chẳng thể trừ diệt tội khiên ư?”). Như vậy là Trí Giả đại sư nói kiểu này nhằm khích lệ chúng ta tinh tấn, cũng có nghĩa là Nhật Quán thành tựu hay Thủy Quán thành tựu đều có thể văng sanh. Thành tựu bất cứ phép Quán nào trong mười sáu phép Quán đều có thể văng sanh, đă văng sanh th́ có lẽ nào chẳng diệt tội? Chỉ là mức độ diệt tội có sâu hay cạn khác nhau! Dụng ư của Trí Giả đại sư là mong mỏi chúng ta hăy nâng cao cảnh giới, nên Ngài nói như vậy.

 

      Tác thị quán giả, danh vi chánh quán. Nhược tha quán giả, danh vi tà quán.

者。名 觀。若 者。名 觀。

(Quán như vậy th́ gọi là chánh quán. Nếu quán khác đi th́ là tà quán).

 

      Phần Sao giảng: “Quán dữ kinh hợp, tắc xứng tánh kiến, danh vi chánh quán. Kiến tướng quai kinh, thị phát ma sự, cố danh tà quán, hạ khứ giai nhiên” (Quán phù hợp với kinh dạy sẽ là cái thấy xứng tánh, gọi là chánh quán. Nếu thấy các tướng mâu thuẫn với kinh, chính là ma sự phát khởi, nên gọi là tà quán. Từ đây trở đi, đều [phán định sự quán tưởng là tà hay chánh] giống như vậy). Từ đây trở xuống, hễ gặp câu này th́ đều có ư nghĩa này. Nói cách khác, tu hành nhất định phải căn cứ trên lư luận và phương pháp do đức Phật đă nói trong kinh điển, đó là chánh xác. Nếu chúng ta tu học mâu thuẫn với lư luận trong kinh, trái nghịch phương pháp, th́ hết thảy cảnh giới đă trông thấy đều là ma cảnh. Thấy cảnh giới tương ứng với kinh th́ là cảnh giới tốt đẹp; cảnh giới chẳng tương ứng với kinh chính là ma cảnh. Gần đây nhất, tại Hương Cảng, dường như gần đây tại Đài Loan cũng thấy có, xuất bản một tập sách nhỏ, nghe nói hiện thời c̣n có h́nh vẽ, bản tôi thấy ở Hương Cảng vẫn chưa có h́nh vẽ, chỉ có văn tự, không có h́nh minh họa. Sách ấy nói một vị pháp sư tại Đại Lục đến thế giới Cực Lạc, quay về kể lại rất nhiều chuyện trong thế giới Cực Lạc[2]. Hiện thời, tập sách nhỏ ấy được lưu truyền ngày càng nhiều, càng truyền càng là ma! Gần đây nhất, tại Đại Lục cũng có. Người ở Đại Lục nhận biết sách ấy là tà tri tà kiến, chẳng cho phép lưu thông. Tôi đến Đại Lục lần này, có nghe nói [sách ấy] không được phép lưu thông, nhưng ở hải ngoại, lưu thông với số lượng rất nhiều!

      Lần đầu tiên tôi thấy sách ấy tại Hương Cảng, pháp sư Sướng Hoài đưa cho tôi xem. Pháp sư Sướng Hoài rất hoài nghi, Ngài nói: “Chỉ sợ chẳng phải là thật”. Tôi xem tập sách nhỏ ấy, vừa lật ra xem [liền biết] là giả, giả như thế nào? Ông ta nói thế giới Cực Lạc có nữ nhân, chuyện này chẳng phù hợp với kinh. Từ câu ấy, biết sách ấy là giả trất. Ông ta nói [chính ḿnh] thấy hết thảy chúng sanh trong thế giới Cực Lạc, tướng mạo của hết thảy mọi người đều khác nhau, đó là giả! Kinh đă dạy rơ ràng: Tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, tướng mạo hoàn toàn giống nhau, làm sao có thể khác nhau cho được? V́ thế, chắc chắn sách ấy lời lẽ quái gở, tà vạy, nhằm mê hoặc chúng sanh. Nghe nói hiện thời có rất nhiều người lầm mê cuốn sách ấy, chẳng tin kinh do đức Phật giảng, mà tin “kinh” do ông ta nói. Như vậy th́ có hỏng bét hay là không? Đúng là tin tà, chẳng tin chánh, nghe lừa, chẳng nghe theo lời khuyên, chẳng có cách nào hết! Chúng sanh tội nghiệp, nghiệp chướng nặng lắm. Từ điều này mà thấy được nghiệp chướng

.

      Chúng ta lại xem phần tiếp theo là phép Quán thứ tư. Phép Quán thứ tư là quán cây báu [được tŕnh bày] trong trang một trăm năm mươi tám:

 

      Phật cáo A Nan cập Vi Đề Hy: “Địa tưởng thành dĩ, thứ quán bảo thụ”.

      希。地 已。次 樹。

      (Đức Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy: “Quán tưởng đất đă thành, kế đó là quán cây báu).

 

      Chúng ta xem kinh văn trong trang một trăm năm mươi chín.

 

      Quán bảo thụ giả, nhất nhất quán chi, tác thất trùng hàng thụ tưởng. Nhất nhất thụ, cao bát thiên do-tuần, kỳ chư bảo thụ, thất bảo hoa diệp, vô bất cụ túc.

者。一 之。作 想。一 樹。高 旬。其 樹。七 足。

(Quán cây báu, quán từng điều một: Tưởng bảy lớp hàng cây, mỗi cây cao tám ngàn do-tuần. Các cây báu ấy, hoa và lá bằng bảy báu, không ǵ chẳng trọn đủ).

 

Thật ra, phép Thụ Quán khá khó khăn. Càng nói đến những phép Quán về sau, cảnh giới càng thù thắng, càng vi tế, chẳng dễ ǵ quán tưởng! Phải quán những cây ấy rành mạch, cây lại cao đến tám ngàn do-tuần như thế. Một do-tuần (yojana), chúng tôi nói theo cách tính nhỏ nhất, Ấn Độ nói do-tuần là đơn vị đo độ dài, có đại, trung, tiểu. Đại do-tuần ứng với tám mươi dặm Tàu[3], trung do-tuần là sáu mươi dặm, tiểu do-tuần là bốn mươi dặm. Tính theo tiểu do-tuần, bốn mươi dặm là một do-tuần. [Cây cao] tám ngàn do-tuần, chỉ tưởng độ cao ấy không thôi, e rằng đă chẳng thể tưởng nổi. Làm sao quán tưởng thân, cành, lá, hoa, quả của cây ấy? Do đó, xác thực là khá khó khăn! Cổ nhân nói: “Chúng ta ở nơi đây, phàm phu tâm thô cảnh tế. Quán tưởng khó thành, chẳng dễ ǵ quán thành công”. Lại xem những tướng kế tiếp, đó là tế tướng (tướng vi tế, tướng trạng chi tiết), [hăy xem từ] hàng thứ hai từ dưới đếm lên trong trang một trăm năm mươi chín.

 

      Nhất nhất hoa diệp.

      葉。

      (Mỗi một hoa lá).

 

      Mỗi đóa hoa, mỗi phiến lá.

 

      Tác dị bảo sắc, lưu ly sắc trung xuất kim sắc quang. Pha ly sắc trung, xuất hồng sắc quang.

色。琉 中。出 光。玻 中,出 光。

(Có màu báu lạ. Trong màu lưu ly, hiện ra ánh sáng màu vàng ṛng. Trong màu pha lê, hiện ra ánh sáng đỏ).

 

      Nay chúng ta gọi pha lê là thủy tinh. Thời cổ không có thủy tinh, pha lê [thời đó] nay gọi là “thủy tinh”, [pha lê] chính là thủy tinh hiện thời.

 

      Mă năo sắc trung, xuất xa cừ quang. Xa cừ sắc trung, xuất lục trân châu quang. San hô, hổ phách, nhất thiết chúng bảo dĩ vi ánh sức. Diệu trân châu vơng, di phú thụ thượng. Nhất nhất thụ thượng, hữu thất trùng vơng. Nhất nhất vơng gian, hữu ngũ bách ức diệu hoa cung điện, như Phạm vương cung.

中。出 光。硨 中。出 光。珊 珀。一 飾。妙 網。彌 上。一 網。一 間。有 殿。如 宮。

(Trong sắc mă năo, tỏa ánh sáng màu xa cừ. Trong màu xa cừ, tỏa ánh sáng màu lục trân châu. San hô, hổ phách, hết thảy các thứ báu trang hoàng chói ngời. Lưới trân châu mầu nhiệm che phủ trên cây. Trên mỗi cây, có bảy tầng lưới. Nơi giữa mỗi tầng lưới, có năm trăm ức cung điện diệu hoa giống như cung Phạm Vương).

 

      Chúng ta vừa đọc vừa tưởng tượng cảnh giới này, tưởng tượng không ra! Tuy chúng ta là phàm phu, phu nhân Vi Đề Hy cũng là phàm phu, nhưng bà ta nghe đức Phật nói liền thuận theo lời giảng ấy để nhập quán. Bộ kinh này được giảng xong, phu nhân Vi Đề Hy liền chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, đắc Lư nhất tâm bất loạn. Vị phu nhân này thiện căn sâu dầy, tâm tinh tế, nên có thể thuận theo kinh văn để nhập quán, hiện thời chúng ta chẳng quán được! “Năm trăm ức cung điện diệu hoa”: Trong ấy c̣n có cung điện. Lại xem trang kế tiếp là trang một trăm sáu mươi mốt.

 

      Chư thiên đồng tử, tự nhiên tại trung.

      子。自 中。

      (Các đồng tử cơi trời tự nhiên ở trong ấy).

 

      Trong cung điện có người.

 

      Nhất nhất đồng tử.

      子。

      (Mỗi một đồng tử).

 

      Mỗi một đứa bé trai.

 

      Ngũ bách ức Thích Ca Tỳ Lăng Già ma-ni, dĩ vi anh lạc.

      珞。

(Dùng năm trăm ức Thích Ca Tỳ Lăng Già ma-ni làm anh lạc).

 

      Mỗi người trên thân đều trang sức bằng anh lạc. “Anh lạc” [được miêu tả] tỉ mỉ tới tột cùng. Trong chú giải có giải thích chữ Thích Ca Tỳ Lăng Già Ma-ni (Śakrābhi Lagna-mani-ratna)[4], nói đơn giản là Như Ư Bảo Châu. Xâu Như Ư Bảo Châu thành chuỗi anh lạc.

 

      Kỳ ma-ni quang, chiếu bách do-tuần, do như ḥa hợp bách ức nhật nguyệt, bất khả cụ danh.

光。照 旬。猶 月。不 名。

(Ánh sáng ma-ni ấy chiếu xa một trăm do-tuần, ví như ḥa hợp trăm ức mặt trời, mặt trăng, chẳng thể kể trọn).

 

      Sự tốt đẹp này chẳng thể diễn tả được.

 

      Chúng bảo gián thác, sắc trung thượng giả. Thử chư bảo thụ, hàng hàng tương đương, diệp diệp tương thứ. Ư chúng diệp gian, sanh chư diệu hoa. Hoa thượng tự nhiên hữu thất bảo quả. Nhất nhất thụ diệp, tung quảng chánh đẳng nhị thập ngũ do-tuần, kỳ diệp thiên sắc, hữu bách chủng hoạch.

錯。色 者。此 樹。行 當。葉 次。於 間。生 華。華 果。一 葉。縱 旬。其 。有 畫。

  (Các thứ báu xen lẫn, màu sắc thuộc bực thượng. Các cây báu ấy, từng hàng đối nhau, từng lá ngang nhau. Khoảng giữa các lá, sanh ra các loại hoa mầu nhiệm. Trên hoa tự nhiên có quả bảy báu. Mỗi chiếc lá lại to rộng kích thước đến hai mươi lăm do-tuần. Lá ấy có ngàn màu, có trăm đường gân).

 

      “Hoạch” () ở đây là những đường gân trên lá.

 

Như thiên anh lạc. Hữu chúng diệu hoa, tác Diêm Phù Đàn kim sắc, như toàn hỏa luân, uyển chuyển diệp gian, dũng sanh chư quả, như Đế Thích b́nh.

珞。有 華。作 色。如 輪。宛 間。涌 果。如 瓶。

(Giống như chuỗi anh lạc cơi trời. Có các thứ hoa mầu nhiệm mầu như vàng Diêm Phù Đàn[5], giống như ṿng lửa xoay tṛn giữa các kẽ lá, sanh ra các thứ quả giống như cái b́nh của Đế Thích[6]).

 

      Cảnh để quán này, đừng nói là tưởng tỉ mỉ chẳng nổi, ngay cả tưởng thô thiển cũng chẳng tưởng được! Trong đoạn này, pháp sư Đế Nhàn có giảng một vài câu, hăy xem từ ḍng thứ hai đếm từ dưới lên trong trang một trăm sáu mươi hai: “Thiết vị” (trộm cho rằng), đây là lời của pháp sư Đế Nhàn. “Thụ vơng phi t́nh pháp dă” (lưới và cây chẳng phải là pháp hữu t́nh), “phi t́nh” là vô t́nh, nay chúng ta gọi nó là vật chất, tức là hoàn cảnh vật chất, [bao gồm] cây báu, lưới, mành. “Đồng tử hữu t́nh pháp dă” (đồng tử là pháp hữu t́nh), đó là người. “Kim vơng gian xuất cung điện” (nay giữa lưới, xuất hiện cung điện), đây là cây báu. Cây báu rất nhiều, phía trên che phủ lưới báu. Trong lưới tỏa ánh sáng, trong ánh sáng hiện ra cung điện. Trong cung điện có đồng tử; do đó, cung điện nơi lưới báu ấy “cung điện xuất chư đồng, t́nh dữ phi t́nh, hà thường nhất định” (trong cung điện xuất hiện các đồng tử, [như vậy th́] hữu t́nh và vô t́nh có bao giờ là nhất định!), hoàn toàn giống hệt cảnh giới “t́nh và vô t́nh cùng viên thành Chủng Trí” trong kinh Hoa Nghiêm. “Nhân hữu tánh cụ, cố hữu sự tạo. Tức dĩ thụ quán, lộ xuất bất tư nghị cảnh giới, phi phàm tiểu sở suy độ nhĩ” (Do tánh sẵn có đủ, nên có tạo tác nơi mặt Sự. Dùng ngay phép quán cây báu để hiển lộ cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, phàm phu và Tiểu Thừa chẳng thể suy lường được). Nói thật ra, ngay cả Quyền Giáo Bồ Tát cũng than là tuyệt diệu! Cảnh giới ấy vẫn là vô lượng đức năng vốn sẵn trọn đủ trong Chân Như bản tánh. Trong khi tâm địa của chúng ta thanh tịnh, cảnh giới thù thắng nhiệm mầu ấy sẽ hiện tiền. Nay chúng ta nói đến cảnh giới này, nhưng trên thực tế, cảnh giới chẳng thể hiện tiền. Đức Phật đă giảng giải, nhưng chúng ta chẳng có cách nào tưởng tượng để quán tưởng. Đó là do phiền năo, vô minh, nghiệp chướng của chúng ta quá nặng, [khiến cho] công đức trong bản tánh chẳng thể thấu lộ! [Thế nhưng] cảnh giới này vẫn chưa thấm vào đâu, c̣n có quán cảnh mầu nhiệm hơn. Hăy xem đoạn kinh văn tiếp theo.

 

Hữu đại quang minh, hóa thành tràng phan, vô lượng bảo cái.

明。化 蓋。

      (Có quang minh lớn, hóa thành tràng phan, vô lượng lọng báu).

 

      Càng chẳng thể nghĩ bàn! Trong quang minh hiện ra tràng phan, lọng báu.

 

Thị bảo cái trung, ánh hiện tam thiên đại thiên thế giới, nhất thiết Phật sự, thập phương Phật quốc, diệc ư trung hiện. Kiến thử thụ dĩ, diệc đương thứ đệ nhất nhất quán chi.

中。映 界。一 事。十 國。亦 現。見 已。亦 之。

(Trong lọng báu ấy, hiện bóng hết thảy Phật sự trong tam thiên đại thiên thế giới, mười phương cơi Phật cũng hiện trong ấy. Thấy cây ấy rồi, cũng nên theo thứ tự để lần lượt quán từng điều một).

 

      V́ thế, nói “sanh về thế giới Tây Phương là sanh vào các thế giới của mười phương hết thảy chư Phật”, v́ sao? Từ cây báu thấy trọn mười phương vô lượng vô biên thế giới giống như chúng ta đang xem TV trong hiện thời. Chúng ta ngồi trong nhà, những chuyện phát sanh tại nơi nào đó trên toàn thế giới, từ màn h́nh TV chúng ta đều thấy được. Trong quang minh nơi cây báu của Tây Phương Cực Lạc thế giới, có thể thấy tận hư không khắp pháp giới hết thảy các cơi nước Phật, có thể thấy hết thảy chư Phật đang giảng kinh, thuyết pháp, hóa độ chúng sanh trong ấy, cũng có thể thấy những chuyện vụn vặt trong cuộc sống gia đ́nh của hết thảy chúng sanh, đều thấy toàn bộ. V́ thế, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới tốt lắm! Chúng ta ở trong thế giới này, ví như quê tôi ở Đại Lục, tôi chẳng thấy người nhà, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới đều thấy, thấy hằng ngày, luôn luôn thấy, hoàn toàn chẳng có chướng ngại. Lại c̣n bảo cùng quư vị, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, không chỉ thấy thế giới hiện tiền này, mà quá khứ cũng thấy, vị lai cũng thấy. Mười phương ba đời, t́nh và vô t́nh thảy đều hiện trong quang minh, chẳng thể nghĩ bàn! Quư vị thật sự liễu giải trạng huống trong thế giới Tây Phương, há có lẽ nào chẳng cầu sanh? So sánh giữa hai thế giới đôi chút, sẽ luôn hy vọng lập tức về ngay bên đó. Đến nơi ấy mới thật sự là hết thảy thành tựu, hết thảy thỏa nguyện. Các nguyện vọng mà tâm ta nghĩ đến đều được thực hiện, những điều chưa nghĩ đến cũng hiện tiền. Câu cuối cùng là lời tổng kết [được ghi] trong trang một trăm sáu mươi bốn.

 

      Quán kiến thụ, hành, chi, diệp, hoa, quả, giai linh phân minh, thị vi thụ tưởng, danh đệ tứ quán.

果。皆 明。是 想。名 觀。

      (Quán sao cho thấy cây, thân cây, cành, lá, hoa, quả đều phân minh, đó là phép quán tưởng cây báu, gọi là phép Quán thứ tư).

 

      Dưới đây là phép Quán thứ năm. Phép Quán thứ năm là quán ao bảy báu.

 

      Thứ đương tưởng thủy. Dục tưởng thủy giả, Cực Lạc quốc độ, hữu bát tŕ thủy.

水。欲 者。極 土。有 水。

(Kế đó là tưởng nước. Muốn tưởng nước th́ trong cơi nước Cực Lạc có ao chứa nước tám công đức).

 

      “Bát tŕ thủy” là nước tám công đức, “bát” nghĩa là nước trong ao có tám công đức, mang ư nghĩa này. Hăy xem phần kinh văn kế tiếp nơi ḍng thứ ba trong trang một trăm sáu mươi lăm.

 

      Nhất nhất tŕ thủy, thất bảo sở thành. Kỳ bảo nhu nhuyễn, tùng Như Ư Châu Vương sanh, phân vi thập tứ chi. Nhất nhất chi tác thất bảo diệu sắc, hoàng kim vi cừ. Cừ hạ giai dĩ tạp sắc kim cang dĩ vi để sa, nhất nhất thủy trung, hữu lục thập ức thất bảo liên hoa. Nhất nhất liên hoa, đoàn viên chánh đẳng thập nhị do-tuần.

水。七 成。其 軟。從 生。分 支。一 色。黃 渠。渠 沙。一 中。有 華。一 華。團 旬。

(Nước trong mỗi ao do bảy báu hợp thành, các thứ báu ấy mềm mại, từ Như Ư Châu Vương sanh ra, chia thành mười bốn nhánh. Mỗi nhánh có màu sắc đẹp đẽ của bảy thứ báu. Vàng ṛng làm thành ao[7], dưới đáy ao đều dùng kim cang nhiều màu để làm cát phủ đáy. Trong mỗi ao có sáu mươi ức hoa sen bằng bảy báu. Mỗi đóa hoa sen tṛn trặn, to bằng mười hai do-tuần).

 

      Dạy chúng ta hăy quán ao bảy báu. Ao có lớn, nhỏ, vuông, tṛn. Những ao bảy báu giống như vậy trong Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng là vô lượng vô biên. Thế giới Tây Phương thuộc loại Pháp Tánh Độ, thật sự chẳng thể nghĩ bàn. Do đó, xưa nay, kẻ hoài nghi thế giới Tây Phương rất nhiều. Chúng sanh trong mười phương thế giới đều văng sanh thế giới Tây Phương, rốt cuộc thế giới Tây Phương lớn cỡ nào? Có thể dung nạp hay chăng? Nhất là xem từ kinh điển, người trong thế giới Tây Phương thân tướng lớn như vậy, cây cối cũng to như vậy, nơi ấy phải lớn cỡ nào th́ mới có thể dung nạp được? V́ lẽ đó, vọng niệm ngày càng nhiều hơn. Bất luận người ấy tưởng tượng như thế nào, cũng chẳng có cách nào tưởng tượng trạng huống trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, mà cũng chẳng có cách nào chứng thực. Đó là do chẳng hiểu căn cứ lư luận. Chẳng giống các cơi nước của chư Phật trong mười phương thế giới, chúng ta thường nói các thế giới ấy do Pháp Tướng tạo thành, chúng là Pháp Tướng độ, c̣n Tây Phương Cực Lạc thế giới là Pháp Tánh độ. Như kinh Hoa Nghiêm đă nói, Pháp Tánh là “một và nhiều vô ngại, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”; pháp tướng th́ có chướng ngại.

      Hết thảy các vật chất trong cơi chúng ta do đâu mà có? Quá tŕnh biến hiện của chúng là do một niệm bất giác mà có vô minh. Từ vô minh sanh ra ba tướng vi tế là Nghiệp Tướng, Chuyển Tướng, Cảnh Giới Tướng. Nghiệp Tướng là tướng động, kinh Lăng Nghiêm nói bản tánh của nó là “bất thủ tự tánh”, chẳng tuân giữ tự tánh bèn là Nghiệp Tướng của A Lại Da Thức. Do không tuân giữ tự tánh, bèn lập tức biến thành Kiến Tướng, biến thành Năng Kiến (cái chủ thể có thể thấy), tức là nói đến Kiến Phần trong bốn phần[8]. Nếu Kiến Phần muốn thấy, sẽ biến thành Tướng Phần. Tướng do đâu mà có? Tướng do Kiến Phần biến ra. Nguyên lư của mười sáu phép Quán được căn cứ trên điều này, quư vị nhất tâm nhất ư muốn thấy, tướng liền hiện ra. Do vậy, vật chất do đâu mà có? Vật chất từ tinh thần biến hiện, tâm và vật có cùng một nguồn. Tinh thần và vật chất đều biến hiện từ tự tánh. Không chỉ Tướng Phần là hư vọng, mà Kiến Phần cũng là hư vọng. Kiến Phần là tám thức, năm mươi mốt Tâm Sở, hai mươi bốn pháp bất tương ứng, những thứ này đều thuộc về Kiến Phần. Tướng Phần gồm mười một sắc pháp. Hai pháp sắc và tâm đều là vật được biến hiện bởi tự tánh. Đó là nói theo pháp tướng. Tây Phương Cực Lạc thế giới là pháp tánh; do đó, cảnh giới này là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn.

      Nếu trong tương lai, trong khi chúng ta niệm Phật, niệm Phật đến mức tâm thanh tịnh, duyên chín muồi, Phật lực gia tŕ, chúng ta thấy cảnh giới này; sau khi đă thấy, nhất định phải tưởng giống hệt như trong kinh đă nói. Quư vị thấy nước trong ao bảy báu hoàn toàn giống như kinh đă nói, chẳng có mâu thuẫn! Đó là cảnh giới tốt đẹp, đó là chánh quán. Nếu ta thấy khác với kinh nói, [hăy nghĩ xem kinh dạy] nước trong ao bảy báu do đâu mà có? Giống như trong cơi này, giống như nước suối phun ra, Như Ư Châu là nguồn nước. Sau khi từ nguồn nước ấy phun ra, nước sẽ tách thành mười bốn nhánh. Nếu quư vị thấy là mười ba nhánh tức là không đúng, chẳng phù hợp. Nếu thấy mười lăm nhánh hoặc mười sáu nhánh, cũng trật luôn! Quyết định là mười bốn nhánh, quyết định chẳng sai! Đấy mới là thật sự thấy Tịnh Độ, đó là chánh quán. Nếu chẳng phải là như vậy, sẽ là tà quán, sai mất rồi. Nước chẳng thể nghĩ bàn, chúng ta lại xem kinh văn trong trang một trăm sáu mươi bảy.

 

      Kỳ ma-ni thủy, lưu chú hoa gian, tầm thụ thượng hạ.

水。流 間。尋 下。

(Nước ma-ni ấy chảy rót vào trong hoa, lên xuống theo thân cây[9]).

 

      Cảnh giới này chẳng thể nghĩ bàn. Ở nơi đây, chúng ta chỉ thấy nước chảy xuống, chẳng thấy nước chảy ngược lên. Nước bên cơi kia có thể lên cao, xuống thấp, không chỉ chảy xuống, mà c̣n chảy ngược lên trên, hết sức đẹp mắt.

 

      Kỳ thanh vi diệu.

      妙。

      (Âm thanh ấy vi diệu).

 

      Nước không chảy sẽ chẳng có âm thanh. Nước vừa chảy bèn có âm thanh, âm thanh ấy lại thuyết pháp.

 

      Diễn thuyết Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă, chư Ba La Mật.

      蜜。

      (Diễn nói Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă, các Ba La Mật).

 

Phần kinh văn này nằm trong hàng thứ hai trang một trăm sáu mươi tám. Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă là pháp Tiểu Thừa. Như chúng ta là phàm phu hoặc Tiểu Thừa phát tâm, phát nguyện cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng đoạn phiền năo, tập khí, nghe Phật, Bồ Tát, t́nh và vô t́nh thuyết pháp, quá nửa là nói những pháp này, giúp cho chúng ta chuyển phiền năo thành Bồ Đề, nên nghe những pháp ấy. Nếu là chúng sanh căn tánh viên đốn, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, họ sẽ nghe pháp là các Ba La Mật. Do đó, câu này nói chung về Phật pháp Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa, chắc chắn là ứng cơ thuyết pháp. Ta muốn nghe pháp ǵ, tức là ta cần thiết, mong được nghe pháp ấy, sau khi đă nghe bèn đạt được pháp ích (lợi ích nơi pháp), chẳng thể nghĩ bàn!

 

Phục hữu tán thán chư Phật tướng hảo giả. Như Ư Châu Vương dũng xuất kim sắc vi diệu quang minh, kỳ quang hóa vi bách bảo sắc điểu, ḥa minh ai nhă, thường tán niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

者。如 王。涌 明。其 鳥。和 雅。常 僧。

      (Lại có âm thanh tán thán tướng hảo của chư Phật. Như Ư Châu Vương tỏa ra quang minh sắc vàng vi diệu. Quang minh ấy hóa thành các loài chim có màu như trăm thứ báu, ḥa tiếng hót thánh thót, du dương, thường ca ngợi niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng).

 

      Cảnh giới này hoàn toàn giống như Tiểu Bổn A Di Đà Kinh và kinh Vô Lượng Thọ đă nói. Lời chú giải khá hay, tuy văn tự không nhiều, nhưng chú giải khá tỉ mỉ, chư vị đồng tu có thể dùng làm [tài liệu] tham khảo. Cuối cùng là lời tổng kết trong trang một trăm sáu mươi chín.

 

      Thị vi bát công đức thủy tưởng, danh đệ ngũ quán.

      想。名 觀。

      (Đó là phép tưởng nước tám công đức, gọi là phép Quán thứ năm).

 

      Dưới đây là phép Quán thứ sáu, Tổng Quán, [hăy xem từ] ḍng thứ ba đếm từ dưới lên trong trang một trăm bảy mươi.

 

      Chúng bảo quốc độ, nhất nhất giới thượng, hữu ngũ bách ức bảo lâu.

      土。一 上。有 樓。

(Trong cơi nước bằng các thứ báu, nơi mỗi khu vực có năm trăm ức lầu báu).

 

      Đây là nói tới lầu gác.

 

      Kỳ lâu các trung, hữu vô lượng chư thiên tác thiên kỹ nhạc. Hựu hữu nhạc khí huyền xử hư không như thiên bảo tràng, bất cổ tự minh. Thử chúng âm trung, giai thuyết niệm Phật, niệm Pháp, niệm tỳ-kheo Tăng.

中。有 樂。又 空。如 幢。不 鳴。此 中。皆 僧。

(Trong các lầu gác ấy, có vô lượng chư thiên trỗi kỹ nhạc cơi trời. Lại có nhạc khí treo lơ lửng trên hư không như tràng báu cơi trời, không đánh mà tự kêu. Trong các âm thanh ấy, đều nói niệm Phật, niệm Pháp, niệm tỳ-kheo Tăng).

 

      Đấy là lầu báu, trong lầu gác có âm nhạc diễn tấu. Bên ngoài lầu gác có thiên nhạc, những thứ âm nhạc ấy đều đang thuyết pháp. Giảng kinh, thuyết pháp nghe hồi lâu sẽ khô khan, vô vị, nên lại kèm theo ca múa, [v́ thế], trong khi giải trí [người trong cơi Cực Lạc] được huân tu Phật pháp. Do đó, nếu nói theo cách hiện thời, giáo học tại Tây Phương Cực Lạc thế giới là nghệ thuật. Có thể nói là thế giới Tây Phương đă vận dụng nghệ thuật đạt đến tột đỉnh. V́ thế, kẻ thích ca hát, thích nhảy múa, thích xem tuồng, hăy đến Tây Phương Cực Lạc thế giới. Thế giới Tây Phương kèm theo ca múa, hoàn toàn khác Tiểu Thừa, Tiểu Thừa cấm ngặt xem, nghe. Thế giới Tây Phương khắp nơi đều là như vậy, lúc nào cũng đều có thể thấy, lúc nào cũng đều có thể nghe. Nội dung thuần túy là Phật pháp.

      Trong Đại Tạng Kinh có kịch bản, ca phổ[10] đă thất truyền, nhưng ca từ vẫn c̣n. Tôi thấy trong tập thứ hai của Trung Hoa Đại Tạng Kinh có không ít bản ca từ, đều để hát, tức là lời bài hát, nội dung hết sức phong phú, c̣n kịch là kịch bản của B́nh Kịch[11], tức Quy Nguyên Kính. Có lần tôi xuống phương Nam, thấy Đài Trung Liên Xă in thành bản lưu hành riêng, lúc đó, tôi thấy vậy rất hoan hỷ, xin họ mười mấy bản mang về. Hai mươi mấy năm trước, tôi đă từng xem Quy Nguyên Kính, nội dung trong ấy là chuyện về Tịnh Độ Tông Huệ Viễn đại sư, đó là đoạn thứ nhất. Đoạn thứ hai là chuyện về Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư; đoạn cuối cùng là chuyện của Liên Tŕ đại sư. Sự xuất gia, tu hành, hoằng pháp của các Ngài đều được đưa lên sân khấu biểu diễn. Lời ca cũng viết rất hay, do người thuở trước biên soạn, họ đă đưa Phật pháp lên biểu diễn trên sân khấu. Khi ấy, tôi đọc tác phẩm đó xong, đă có ư nghĩ: Nếu các đồng tu đang học kịch nghệ, thật sự chịu phát tâm, biên soạn Đại Tạng Kinh thành kịch bản truyền h́nh, chiếu trên đài truyền h́nh, sẽ khiến cho ai nấy đều học Phật tại nhà mà vẫn chẳng biết, phương pháp này hay lắm.

      Tây Phương Cực Lạc thế giới đă vận dụng hết thảy Phật pháp vào phương thức ca kịch để giáo hóa chúng sanh. V́ lẽ đó, học Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là sống động, chẳng khô khan như vậy. Suốt ngày từ sáng đến tối niệm Phật khá vất vả, học Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là học tập có thể kèm theo ca vũ. Chúng ta đọc cho hết đoạn cuối, đoạn này là kết thúc.

 

      Thử tưởng thành dĩ, danh vi thô kiến Cực Lạc thế giới, bảo thụ, bảo địa, bảo tŕ. Thị vi tổng quán tưởng, danh đệ lục quán.

已。名 界。寶 樹。寶 。寶 池。是 想。名 觀。

(Tưởng này đă thành th́ gọi là thấy thế giới Cực Lạc về phần thô, [tức là thấy] cây báu, đất báu, ao báu. Đây chính là phép tổng quán, gọi là phép Quán thứ sáu).

 

Kế đó, c̣n có một đoạn là phần Lợi Ích, xem hàng thứ hai trong trang một trăm bảy mươi hai.

 

      Nhược kiến thử giả, trừ vô lượng ức kiếp cực trọng ác nghiệp, mạng chung chi hậu, tất sanh bỉ quốc. Tác thị quán giả, danh vi chánh quán. Nhược tha quán giả, danh vi tà quán.

者。除 業。命 後。必 國。作 者。名 觀。若 者。名 觀。

(Nếu thấy những điều này, sẽ trừ ác nghiệp cực nặng trong vô lượng ức kiếp. Sau khi mạng chung, ắt sanh về cơi ấy. Quán như vậy th́ gọi là chánh quán. Nếu hắn khác đi th́ là tà quán).

 

      Được rồi! Chúng tôi giảng tới chỗ này.

 

Tập 23

 

Xin xem trang một trăm bảy mươi hai, hàng cuối cùng. Phép Quán thứ bảy là quán chánh báo, đây là Hoa Ṭa Quán.

 

      Phật cáo A Nan cập Vi Đề Hy: - Đế thính, đế thính, thiện tư niệm chi! Ngô đương vị nhữ phân biệt, giải thuyết trừ khổ năo pháp, nhữ đẳng ức tŕ, quảng vị đại chúng phân biệt giải thuyết.

希。諦 聽。善 之。吾 法。汝 持。廣 說。

(Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy: - Lắng nghe, lắng nghe! Hăy khéo suy nghĩ! Ta nay sẽ v́ các ngươi phân biệt, giải thích pháp trừ khổ năo. Các ngươi hăy ghi nhớ, vâng giữ, rộng v́ đại chúng phân biệt, giải thích).

 

      Trong đoạn kinh văn này, “đế thính” là Văn Huệ, “thiện tư” là Tư Huệ, “niệm chi” là Tu Huệ, Tam Huệ Văn, Tư, Tu. Kinh đă nói minh bạch “trừ khổ năo pháp”. Mọi người đều cảm thấy rất khổ năo. Làm thế nào để diệt trừ pháp khổ năo? Trong chương này, đức Phật sẽ dạy chúng ta pháp trừ khổ năo. Nếu chúng ta học hiểu, sẽ cũng có thể diệt trừ khổ năo giống như bà Vi Đề Hy. Hăy xem kinh văn:

 

      Thuyết thị ngữ thời, Vô Lượng Thọ Phật trụ lập không trung. Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, thị nhị đại sĩ thị lập tả hữu, quang minh xí thịnh, bất khả cụ kiến, bách thiên Diêm Phù Đàn kim sắc, bất đắc vi tỷ.

時。無 中。觀 音。大 至。是 右。光 盛。不 見。百 色。不 比。

(Lúc nói lời ấy, Vô Lượng Thọ Phật đứng trên không trung. Hai vị đại sĩ Quán Thế Âm và Đại Thế Chí đứng hầu hai bên, quang minh chói lọi, chẳng thể thấy trọn. Màu sắc của trăm ngàn vàng Diêm Phù Đàn chẳng thể sánh bằng).

 

      Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn đă dạy A Nan và đại chúng: Nếu muốn thấy A Di Đà Phật, hăy nên nhất tâm đảnh lễ, khen ngợi, A Di Đà Phật liền hiện tiền. Ở đây, trong phần trước, đức Phật dùng thần lực thị hiện các cơi Phật cho phu nhân Vi Đề Hy thấy. Kinh giảng đến chỗ này, A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí, tức Tây Phương Tam Thánh hiện thân ở nơi đây, đều nhằm chứng minh cho chúng ta thấy tánh chất chân thật của bộ kinh này. Trong kinh Vô Lượng Thọ, những người thấy khi ấy, không kể hàng Bồ Tát, chỉ tính riêng đại chúng dự hội, chư thiên cũng không tính, khi chỉ tính riêng nhân gian, bèn có hai vạn người tham dự pháp hội ấy. Tỳ-kheo xuất gia là một vạn hai ngàn người, tức là cư sĩ, quốc vương, đại thần… [nói đúng ra là] hơn hai vạn người. Ở đây là hoàng cung, nhằm lúc phu nhân Vi Đề Hy bị giam cầm, trong cung chỉ có năm trăm cung nữ hầu hạ hoàng hậu. Những người thấy Tây Phương Tam Thánh ở đây là A Nan, Mục Liên, phu nhân Vi Đề Hy và năm trăm cung nữ. Do đó, cũng chẳng phải là một người thấy, mà là đại chúng thấy, chúng ta phải nên tin tưởng. Chớ nên nghĩ: Kinh viết như vậy, nhưng ta chẳng thấy, những ǵ bản thân chúng ta chẳng thấy nhiều lắm! Người đông ngần ấy trông thấy, chúng ta hăy nên tin sâu, chẳng ngờ. Tây Phương thế giới Di Đà Tam Thánh quyết định chẳng phải là giả. Chúng ta xem kinh văn:

 

Thời Vi Đề Hy kiến Vô Lượng Thọ Phật dĩ, tiếp túc tác lễ, bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Ngă kim nhân Phật lực cố, đắc kiến Vô Lượng Thọ Phật cập nhị Bồ Tát, vị lai chúng sanh đương vân hà quán Vô Lượng Thọ Phật cập nhị Bồ Tát.

已。接 禮。白 言。世 尊。我 故。得 薩。未 生。當 薩。

(Khi ấy, Vi Đề Hy thấy Vô Lượng Thọ Phật rồi bèn làm lễ áp sát chân Phật, bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con nay do Phật lực nên được thấy Vô Lượng Thọ Phật và hai vị Bồ Tát. Chúng sanh trong đời mai sau hăy nên quán Vô Lượng Thọ Phật và hai vị Bồ Tát như thế nào?”)

 

      Vi Đề Hy phu nhân thấy Tây Phương Tam Thánh liền lập tức đảnh lễ, “tiếp túc tác lễ” là cách đảnh lễ cung kính nhất. Trong chú giải đă nói rơ, chẳng phải là bà ta lễ bái Tây Phương Tam Thánh, mà là lễ bái Thích Ca Mâu Ni Phật, nên trong những câu tiếp đó, bà ta thưa hỏi Thích Ca Mâu Ni Phật. Bà ta thấy Tây Phương Tam Thánh, chúng sanh trong đời tương lai phải như thế nào th́ mới có cơ duyên được Phật lực gia tŕ thấy Tây Phương Tam Thánh giống như tôi? Có thể thấy phu nhân tâm lượng khác hẳn [vua Tần Bà Sa La], chính ḿnh vừa mới đạt được lợi ích, đă ngay lập tức nghĩ đến hết thảy chúng sanh. Không chỉ nghĩ đến chúng sanh thuở ấy, mà c̣n nghĩ đến chúng sanh trong đời tương lai sau này, điều này đáng để chúng ta học tập, đáng cho chúng ta làm theo. Đó là tâm Đại Thừa, là Bồ Đề tâm. Chúng ta xem kinh văn:

 

      Phật cáo Vi Đề Hy: - Dục quán bỉ Phật giả, đương khởi tưởng niệm, ư thất bảo địa thượng, tác liên hoa tưởng.

  希。欲 者。 念,於 想。

(Đức Phật bảo bà Vi Đề Hy: “Muốn quán đức Phật ấy, hăy nên dấy lên tưởng niệm, trên đất bảy báu, tưởng có hoa sen).

 

      Đây là dạy chúng ta phương pháp quán tưởng Phật, Bồ Tát. Hăy xem kinh văn:

 

      Linh kỳ liên hoa nhất nhất diệp thượng, tác bách bảo sắc. Hữu bát vạn tứ thiên mạch, do như thiên họa. Mạch hữu bát vạn tứ thiên quang, liễu liễu phân minh, giai linh đắc kiến. Hoa diệp tiểu giả, tung quảng nhị bách ngũ thập do-tuần, như thị liên hoa, cụ hữu bát vạn tứ thiên diệp.

  脉。猶 畫。脉 光。了 明。皆 見。華 者。縱 十由 旬。如 華。具 葉。

(Sao cho hoa sen ấy mỗi cánh có màu của trăm thứ báu. Hoa có tám vạn bốn ngàn mạch, giống như nét vẽ cơi trời. Mỗi mạch có tám vạn bốn ngàn ánh sáng, đều quán sao cho thấy rành rẽ, rơ ràng. Cánh hoa nhỏ có kích thước là hai trăm năm mươi do-tuần. Hoa sen như thế có tám vạn bốn ngàn cánh).

 

      Phần trước là nói đến quán Phật, nay là trước hết quán từ hoa sen. Trước hết, quán ṭa sen báu của đức Phật, quán bắt đầu từ chỗ này. Lại xem kinh văn trong trang một trăm bảy mươi sáu.

 

      Nhất nhất diệp gian.

      間。

      (Trong mỗi cánh hoa).

 

      Đây là khoảng giữa cánh hoa sen và lá sen.

 

       Hữu bách ức ma-ni châu vương dĩ vi ánh sức, nhất nhất ma-ni châu phóng thiên quang minh. Kỳ quang như cái, thất bảo hợp thành, biến phú địa thượng.

飾。一 珠。放 明。其 蓋。七 成。遍 上。  

(Có trăm ức ma-ni châu vương trang hoàng chói lọi, mỗi một viên ma-ni châu tỏa ra ngàn tia quang minh. Quang minh ấy như cái lọng do bảy báu hợp thành, che khắp mặt đất).

 

Đây là nói sự trang nghiêm trên bản thể của hoa. Ở khoảng giữa hoa và lá giao nhau, c̣n có nhiều thứ trân bảo trang hoàng. Đă thế, thứ nào cũng đều phóng quang, mỗi viên ma-ni châu đều tỏa ánh sáng. Nói thật ra, hoa cũng tỏa ánh sáng, mà lá cũng tỏa ánh sáng.

 

      Thích Ca Tỳ Lăng Già bảo dĩ vi kỳ đài.

      臺。

      (Dùng báu Thích Ca Tỳ Lăng Già làm đài hoa).

 

      Trong phần trước, chúng ta đă thấy chất báu này, nó là Như Ư bảo.

 

      Thử liên hoa đài, bát vạn kim cang chân thúc ca bảo, phạm ma-ni bảo, diệu trân châu vơng, dĩ vi hiệu sức.

      臺。八 寶。梵 寶。妙 網。以 飾。

(Đài sen ấy được trang hoàng bằng tám vạn kim cang chân thúc ca bảo, Phạm ma-ni bảo và lưới trân châu mầu nhiệm).

 

      “Hiệu sức” (校飾) là trang hoàng trên đài sen. Trong phần sau có chú giải về Chân Thúc Ca (Kimśuka)[12], đó là một chất báu có màu đỏ. Lại xem kinh văn.

 

      Ư kỳ đài thượng, tự nhiên nhi hữu tứ trụ bảo tràng, nhất nhất bảo tràng, như bách thiên vạn ức Tu Di sơn, tràng thượng bảo mạn, như Dạ Ma thiên cung. Phục hữu ngũ bách ức vi diệu bảo châu, dĩ vi ánh sức. Nhất nhất bảo châu, hữu bát vạn tứ thiên quang. Nhất nhất quang tác bát vạn tứ thiên dị chủng kim sắc.

上。自 幢。一 幢。如 山。幢 幔。如 宮。復 珠。以 飾。一 珠。有 光。一 一光。作 色。

(Trên đài ấy, tự nhiên có bốn trụ tràng báu. Mỗi một tràng báu như trăm ngàn vạn ức núi Tu Di. Trên tràng giăng màn báu như cung trời Dạ Ma. Lại có năm trăm ức bảo châu vi diệu trang hoàng chói ngời. Mỗi một bảo châu có tám vạn bốn ngàn ánh sáng; mỗi một tia sáng có tám vạn bốn ngàn màu vàng khác loại).

 

      Nh́n từ đoạn kinh văn này, trước hết nói rơ màu sắc và số lượng hoa sen, sau đó mới nói tới quang minh của các bảo châu trong hoa. Rồi lại quán đài hoa, lưới báu, lại nh́n thấy những thứ trang sức trên đài hoa. Những thứ trang sức trên đài sen gồm có tràng báu, bảo châu, đều tỏa quang minh. Đoạn kế tiếp trong trang một trăm bảy mươi tám nhằm nói về tác dụng của nó.

 

Nhất nhất kim sắc, biến kỳ bảo độ, xứ xứ biến hóa, các tác dị tướng, hoặc vi kim cang đài, hoặc tác trân châu vơng, hoặc tác tạp hoa vân, ư thập phương diện, tùy ư biến hiện, thi tác Phật sự. Thị vi hoa ṭa tưởng, danh đệ thất quán.

色。遍 土。處 化。各 相。或 臺。或 網。或 雲。於   現。施 事。是 想。名 觀。

 (Mỗi một sắc vàng trọn khắp cơi ấy, biến hóa khắp nơi, ở mỗi nơi đều hiện tướng lạ: Hoặc là đài kim cang, hoặc biến thành lưới trân châu, hoặc thành mây các loại hoa, tùy ư biến hiện trong mười phương, thực hiện Phật sự. Đó là quán tưởng hoa ṭa, là phép Quán thứ bảy).

 

      Ở đây, có một câu phải đặc biệt chú ư. Trong phần trước, tôi đă nói các thứ trang nghiêm, nhưng vẫn chưa nói đến tượng Phật, chỉ là nh́n vào hoa sen, ṭa sen, đài sen của đức Phật mà thôi. Câu “thi tác Phật sự” rất trọng yếu. “Phật sự” là giáo hóa chúng sanh, giúp chúng sanh phá mê, khai ngộ, ĺa khổ, được vui, đó là Phật sự. Ṭa sen của Phật trang nghiêm như vậy. Hoa sen cũng có thể khiến cho chúng sanh thấy sắc, nghe tiếng, trông thấy quang minh ấy đều có thể diệt tội, tăng phước, đều có thể phá mê, khai ngộ. Đó mới là hiển thị y báo và chánh báo trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn trong thế giới Tây Phương. Đoạn kinh văn kế tiếp cho chúng ta biết những thứ trang nghiêm ấy do đâu mà có, xin hăy xem kinh văn.

 

       Phật cáo A Nan: - Như thị diệu hoa, bổn thị Pháp Tạng tỳ-kheo nguyện lực sở thành.

      難。如 華。本 成。

      (Phật bảo A Nan: - Hoa mầu nhiệm như thế vốn do nguyện lực của tỳ-kheo Pháp Tạng tạo thành).

 

      Do đó, quy kết về cuối cùng, vẫn là do bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật thành tựu. Từ kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta thấy đức Phật đă phát nguyện, năm kiếp tu hành, thành tựu trang nghiêm thế giới. Trong kinh này, những ǵ chúng ta được đọc và trông thấy đều do bốn mươi tám nguyện thành tựu. Hăy xem trang một trăm bảy mươi chín.

 

      Nhược dục niệm bỉ Phật giả, đương tiên tác thử hoa ṭa tưởng.

      者。當 想。

      (Nếu muốn niệm đức Phật ấy, trước hết hăy nên tưởng hoa ṭa này).

 

      “Niệm” ở đây là quán tưởng niệm Phật, trước khi chưa quán tượng Phật, hăy quán hoa ṭa trước.

 

      Tác thử tưởng thời, bất đắc tạp quán, giai ưng nhất nhất quán chi, nhất nhất diệp, nhất nhất châu, nhất nhất quang, nhất nhất đài, nhất nhất tràng, giai linh phân minh, như ư kính trung, tự kiến diện tượng. Thử tưởng thành giả, diệt trừ ngũ vạn ức kiếp sanh tử chi tội, tất định đương sanh Cực Lạc thế giới. Tác thị quán giả, danh vi chánh quán. Nhược tha quán giả, danh vi tà quán.

時。不 觀。皆 之。一 葉。一 珠。一 光。一 臺。一 幢。皆 明。如 中。自 像。此 者。滅 罪。必 界。作 者。名 觀。若 者。名 觀。

(Khi quán tưởng phép này, chớ nên tạp quán, hăy đều nên quán từng điều một. Mỗi một cánh hoa, mỗi một viên châu, mỗi một ánh sáng, mỗi một đài, mỗi một tràng đều quán phân minh, như từ trong gương, tự thấy vẻ mặt. Phép quán tưởng này đă thành, sẽ diệt trừ tội trong năm vạn ức kiếp sanh tử, nhất định trong tương lai sẽ sanh về thế giới Cực Lạc. Quán như vậy th́ là chánh quán. Nếu quán khác đi sẽ là tà quán).

 

      Trong phần chú giải cho đoạn này có mấy câu, chúng ta đọc xong liền hiểu rơ, lại c̣n biết tầm quan trọng của sự chuyên nhất trong tu học. “Thủ cú niệm, tác quán khán” (Hăy nên hiểu chữ Niệm trong câu đầu tiên là Quán), đó là Quán Tưởng Niệm Phật. “Quán tưởng tu chuyên, nhất bất khả giáp tạp, thiểu nhất bất thận, quán tức bất thành” (Quán tưởng th́ cần phải chuyên, chẳng được xen tạp. Hễ chẳng cẩn thận một chút, sẽ chẳng quán thành công). Cảnh giới được giảng trong kinh quả thật quá vi tế. Suy gẫm lời cổ nhân, chúng ta [sẽ nhận thấy] tâm chúng sanh trong cơi Diêm Phù Đề quá thô thiển, cảnh giới quá vi tế, quán tưởng rất khó thành tựu! Càng về sau, sự quán tưởng càng tinh tế, đối với đài hoa mà chúng ta đă chẳng có cách nào quán tưởng, phần sau lại nói tới thánh tượng, càng chẳng dễ dàng, càng khó khăn! Ở đây, chúng ta biết một nguyên tắc là “phải chuyên”, quyết định chẳng thể xen tạp. Nói thật ra, chúng ta tu học hiện thời phạm lỗi lầm lớn nhất là xen tạp; v́ thế, tu học đă lâu mà chẳng thể thành tựu. Đọc kinh, đọc lời khai thị của cổ đức, tuy [các Ngài] luôn luôn nhắc nhở, chỉ dạy chúng ta như vậy, nhưng chúng ta rất hàm hồ, lơ mơ đọc lướt qua, chẳng biết mối quan hệ có tánh chất trọng yếu giữa câu nói ấy và sự thành bại trong sự tu học suốt một đời chúng ta.

      Niệm Phật là một trong mười sáu phép Quán. Ở đây nói đến “chẳng thể xen tạp”, niệm Phật cũng vậy, cũng chẳng thể xen tạp. Do vậy, tôi dạy các đồng tu phương pháp, quư vị phải thật sự chịu làm. Nói thật thà th́ công phu cũng chưa tới ba năm hoặc năm năm đều có thể làm được, tu mà không đến mức ấy tức là chính quư vị sai lầm. Do đó, một câu Phật hiệu quyết định chẳng thể gián đoạn, chẳng thể xen tạp, trong ba năm hay năm năm chắc chắn sẽ thành tựu. Không xen tạp là công phu chân chánh, khởi một niệm là xen tạp. Hễ xen tạp, tất nhiên là gián đoạn, gián đoạn bèn xen tạp; chẳng phải là xen tạp vọng tưởng, th́ là xen tạp vô minh. Tâm ấy chẳng thể chuyên nhất, ở đây nói là “thiểu nhất bất thận, quán tức bất thành” (hễ chẳng cẩn thận đôi chút, phép Quán ấy sẽ chẳng thể thành). Hơi thiếu cẩn thận, công phu bị mất đi. Do đó, trước hết khuyên chư vị niệm kinh, niệm kinh nhuần nhuyễn, niệm đến mức có thể đọc thuộc ḷng. Đọc thuộc ḷng rất thuần thục, sau đấy mới bắt đầu tu hành. Tu hành th́ phải là niệm bộ kinh này từ đầu đến đuôi, chẳng thể có một vọng tưởng. Kinh này không dài, chúng ta chọn kinh Vô Lượng Thọ cũng chẳng dài! Khi niệm đến mức có thể đọc thuộc ḷng, niệm bộ kinh này từ đầu đến cuối một lượt cũng chẳng lâu hơn nửa giờ. Trong nửa giờ, chẳng khởi một vọng niệm, công phu ấy cũng khá lắm. Nếu dấy lên vọng niệm sẽ chẳng tính, lượt tụng kinh ấy chẳng tính, lại niệm từ đầu đến cuối, xem thử mỗi ngày có thể niệm mấy bộ.

      Nếu một ngày có thể niệm năm bộ, hoặc mười bộ đều chẳng dấy vọng niệm, xét theo Ngũ Nhẫn Bồ Tát, quư vị đă đắc môn thứ nhất là Phục Nhẫn; trong Tịnh Độ nói đó là “công phu thành phiến”. Sau đó, quư vị chẳng niệm kinh, mà chuyên niệm một câu Phật hiệu A Di Đà Phật là được rồi. Đấy là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”, công phu mới đắc lực! Công phu niệm Phật hiệu của chúng ta chẳng đắc lực là do vừa niệm Phật, vừa dấy vọng tưởng, xen tạp. V́ vậy, “quán tức bất thành” (quán cũng chẳng thành); Niệm Phật cũng là Quán, cho nên cũng chẳng thể thành tựu, đạo lư ở chỗ này. Nếu niệm thành công, liền diệt tội; chư vị biết tội là ǵ vậy? Tội là vọng tưởng, chẳng có vọng tưởng, đương nhiên tội tiêu diệt. Tội đă diệt, tâm liền thanh tịnh, tâm thanh tịnh là phước. Tâm thanh tịnh khởi tác dụng là huệ, phước huệ đều hiện tiền, há có lẽ nào chẳng sanh về Tây Phương? Chúng ta lại xem đoạn kế tiếp. Đoạn kế tiếp quan trọng lắm. Đó là phép quán thứ tám, tức Thánh Tượng Quán.

 

      Phật cáo A Nan cập Vi Đề Hy: Kiến thử sự dĩ.

      難。及 希。見 已。

      (Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy: - Trông thấy chuyện ấy rồi).

 

      “Kiến thử sự dĩ” là nói đến đài hoa trên hoa sen.

 

      Thứ đương tưởng Phật, sở dĩ giả hà? Chư Phật Như Lai thị pháp giới thân, nhập nhất thiết chúng sanh tâm tưởng trung. Thị cố nhữ đẳng tâm tưởng Phật thời, thị tâm tức thị tam thập nhị tướng, bát thập tùy h́nh hảo, thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật. Chư Phật Chánh Biến Tri hải tùng tâm tưởng sanh.

佛。所 何。諸 身。入 中。是 時。是 相。八 好。是 佛。是 佛。諸 海。從 生。

(Kế đó, hăy nên tưởng Phật. Do v́ lẽ nào? Chư Phật Như Lai là pháp giới thân vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh. V́ thế, khi tâm các ngươi tưởng Phật, tâm này chính là ba mươi hai tướng, tám mươi tùy h́nh hảo. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Biển Chánh Biến Tri của chư Phật sanh từ tâm tưởng).

 

       Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, tốt nhất là phải niệm thuộc ḷng đoạn kinh văn này, đoạn Tam Phước trong phần trước cũng phải niệm thuộc, đoạn này phải niệm thuộc. Nói thật ra, Tam Phước chính là Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta: Con đường để phàm phu tu học thành Phật phải đi như thế nào! Quư vị chẳng nhớ, th́ làm sao được? Đoạn này nói về lư luận thành Phật: V́ sao niệm Phật có thể thành Phật? Bất luận quư vị tu Quán Tưởng Niệm Phật, Quán Tượng Niệm Phật, Tŕ Danh Niệm Phật, hay Thật Tướng Niệm Phật, lư luận đều ở trong đoạn này, thuộc trong ba ḍng kinh văn này. Nhất định phải niệm thuộc ḷng ba ḍng kinh văn này! Quư vị thấy các vị tổ sư đại đức từ xưa chú giải kinh hoặc giảng kinh thường trích dẫn đoạn kinh văn này, ở đây chúng ta thấy nguyên văn. Câu “sở dĩ giả hà?” [là câu dẫn nhập] nhằm nêu ra nguyên lư. “Chư Phật Như Lai là pháp giới thân”, chư Phật Như Lai có tướng hay không? Chẳng có tướng! Có thân hay chăng? Chẳng có thân! “Nhập nhất thiết chúng sanh tâm tưởng trung” (vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh), thân của chư Phật Như Lai là tận hư không khắp pháp giới, được gọi là Pháp Thân của Phật. “Pháp giới thân” là Pháp Thân. Pháp Thân, tiếng Phạn là Tỳ Lô Giá Na, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Biến Nhất Thiết Xứ, v́ nó trọn khắp hết thảy mọi nơi. Do đó mới “nhập nhất thiết chúng sanh tâm tưởng trung” (vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh), đó là nguyên lư.

      “Thị cố, nhữ đẳng tâm tưởng Phật thời, thị tâm tức thị tam thập nhị tướng, bát thập tùy h́nh hảo” (v́ vậy, khi tâm các ngươi tưởng Phật, tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi tùy h́nh hảo). Tưởng Phật, tâm quư vị bèn làm Phật. Tưởng Phật là như thế. Tưởng Bồ Tát sẽ làm Bồ Tát, tưởng thiên liền sanh thiên, tưởng nhân liền vào nhân đạo. Tưởng ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn, liền biến thành súc sanh, biến thành ngạ quỷ, biến thành địa ngục. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều do tâm tưởng sanh. “Thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật” (tâm này làm Phật, tâm này là Phật): “Tâm này làm Phật” là nói về Tu Đức, “tâm này là Phật” là nói đến Tánh Đức. Trong bản tánh có trọn đủ y báo và chánh báo trang nghiêm của mười pháp giới, thứ ǵ cũng chẳng thiếu, quư vị tưởng điều ǵ sẽ biến thành điều đó. “Chư Phật Chánh Biến Tri hải, tùng tâm tưởng sanh” (biển Chánh Biến Tri của chư Phật sanh từ tâm tưởng), trong mười pháp giới nêu lên một pháp giới, Phật pháp giới sanh từ tâm tưởng, [suy ra] Bồ Tát pháp giới cũng sanh từ tâm tưởng. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong lục đạo không có ǵ chẳng sanh từ tâm tưởng. Chúng ta phải biết nguyên lư này, biết nguyên lư này th́ mới biết trong Phật pháp chẳng có mê tín. Phật pháp nói câu nào cũng là lời chân thật, xác thực là chân tướng của vũ trụ và nhân sinh, nhưng bản thân chúng ta biết quá ít.

      Trong đoạn chú giải này, có những điều trọng yếu mà tôi phải nêu ra cùng quư vị đôi chút. Chúng ta xem lời chú giải: “Sao vân, dục tưởng Phật thân, tu tri quán Thể” (Sao rằng: Muốn tưởng thân Phật th́ cần nên biết quán Thể), Quán là phương pháp tu hành, Thể là căn cứ. Căn cứ để quư vị [tu tập] phép quán tưởng này là ǵ vậy? “Thể thị Bổn Giác, khởi thành năng quán” (Thể là Bổn Giác, khởi tác dụng thành Năng Quán). Điều này chẳng giả, Bổn Giác ở chỗ nào? Bổn Giác là chính ḿnh, tức là bản tánh của chính ḿnh. Đức Phật dạy chúng ta thuận theo tánh sẽ thành quả báo cực thiện; phàm phu chúng ta trái nghịch bản tánh. Nói cách khác, do vận dụng Bổn Giác sai quấy, nên mới có lục đạo luân hồi, mới có phiền năo, ác báo. Kế đó, [sách Diễn Nghĩa] nói rơ: “Tu tri Bổn Giác thị chư Phật Pháp Thân” (cần phải biết Bổn Giác là Pháp Thân của chư Phật). Tôi vừa mới nói pháp giới thân là Pháp Thân, Pháp Thân của chư Phật chính là Bổn Giác của chúng ta. Do vậy, có thể biết, ta và chư Phật có cùng một Pháp Thân. Kinh thường diễn tả chuyện này như sau: “Mười phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân”, chẳng giả! Mười phương ba đời Phật đều có chung một Pháp Thân, vậy th́ lũ phàm phu chúng ta có cùng [chung một Pháp Thân] với các Ngài hay chăng? Cũng cùng chung. Không chỉ là hết thảy phàm phu và Phật có cùng một Pháp Thân, mà tất cả hết thảy vạn vật cũng đều có cùng một Pháp Thân, “t́nh dữ vô t́nh, đồng viên Chủng Trí”. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều do cùng một thứ biến hiện, trong Phật pháp, bất đắc dĩ đặt cho thứ ấy một cái tên, chứ trên thực tế, há có tên gọi ư? Gọi tên nó là Bản Tánh, là Chân Như, là Pháp Tánh, là Đệ Nhất Nghĩa. Kinh Phật có khoảng mấy chục danh từ như vậy!

      Nếu chúng ta hỏi: “Nếu đă là cùng một thứ, đặt một tên là được rồi, v́ sao đặt lắm tên gọi như thế?’ Đặt một tên bèn sợ quư vị chấp trước, hễ chấp trước th́ sai mất rồi. Đức Phật nói các thứ tên nhằm vào ư nghĩa: “Chớ nên chấp trước. Chỉ cần là một chuyện th́ quư vị nói thế nào cũng đều được”. Hễ chấp trước th́ sai mất rồi, đă mê rồi! Đức Phật nói ra các thứ tên gọi nhằm vào ư nghĩa: Phá chấp trước, chớ nên chấp trước tướng danh tự. Tiếp đó, sách [Quán Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa] viết: “Dĩ chư Phật vô sở chứng, chứng ư chúng sanh bản tánh cố” (dùng vô sở chứng của chư Phật để chứng bản tánh của chúng sanh). Kinh Đại Thừa cũng thường diễn tả điều này là: “Viên măn Bồ Đề, quy vô sở đắc”, kinh Lăng Nghiêm nói như vậy. Đến cuối cùng, đă thành Phật, thành Phật bèn đạt được ǵ? Tâm Kinh nói rất hay: Thành Phật là “vô trí mà cũng vô đắc”. Trí là cái có thể chứng, “đắc” là cái chứng được. Đạt đến cảnh giới ấy, trí có thể chứng (năng chứng trí) và Bồ Đề Niết Bàn là cái có thể đạt được đều chẳng có, đó là thật sự chứng đắc. Chỉ cần có trí, có đắc, th́ vẫn chẳng thể rời khỏi Năng và Sở, tuy đă thành Phật, nhưng thành đức Phật ǵ vậy? Thành Tạng Giáo Phật, Biệt Giáo Phật, Thông Giáo Phật. Tạng, Thông, Biệt Phật đều là có tu, có chứng, nhưng Viên Phật (Phật của Viên Giáo) chẳng có. V́ trong ba loại Phật trước, Biệt Giáo Phật cao nhất, Biệt Giáo Phật tương đương với địa vị Đệ Nhị Hạnh Bồ Tát trong Viên Giáo. Trên địa vị Đệ Nhị Hạnh Bồ Tát, c̣n có Tam Hạnh, Tứ Hạnh, cho đến Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác, vẫn c̣n cách xa lắm! V́ thế, các địa vị ấy (Tạng Giáo Phật, Biệt Giáo Phật, Thông Giáo Phật) có tu, có chứng, thật sự chứng đắc thành Phật. Đạt đến Viên Giáo Phật sẽ là vô tu vô chứng.

      Câu kế tiếp rất trọng yếu: “Nhược Thỉ Giác hữu công, Bổn Giác năi hiển” (nếu Thỉ Giác có công, Bổn Giác bèn hiển lộ). Do vậy có thể biết, nếu muốn biết chân tướng của vũ trụ và nhân sinh, chúng ta thường nói là “muốn biết rành mạch, rơ ràng mười phương, ba đời, quá khứ, hiện tại, tương lai, hoàn toàn cậy vào Thỉ Giác có công, Bổn Giác liền hiển lộ”. Bổn Giác là tự tánh. Câu “Bổn Giác năi hiển” nói theo nhà Thiền sẽ là “minh tâm kiến tánh”. Tánh là Bổn Giác, “hiển” là kiến tánh. “Cố vân Pháp Thân tùng tâm tưởng sanh” (nên nói Pháp Thân sanh từ tâm tưởng): Nay chúng ta dùng vọng tâm, sử dụng vọng tưởng, sử dụng vọng tưởng cũng được, quư vị chỉ tưởng một chuyện, vĩnh viễn cứ tưởng măi. Tới khi nào tưởng hết, trở về nguồn, bèn kiến tánh. V́ thế, chớ nên loạn tưởng, chớ nên nghĩ nhiều, nghĩ nhiều, sẽ chẳng được đâu, chẳng trở về nguồn được! Càng tưởng càng xa! Phải chuyên tưởng, tưởng một chuyện, [đó là] chuyên tưởng. “Tư tận hoàn nguyên” (hết sạch suy nghĩ, sẽ trở về nguồn) bèn thành công. Do đó, [biển Chánh Biến Tri] sanh từ tâm tưởng!

      “Hựu Di Đà dữ chư Phật, nhất tâm, nhất trí, ứng dụng diệc nhiên. Di Đà thân hiển, tức chư Phật thân. Chư Phật tướng minh, tức Di Đà thể. Thị cố, phiếm minh chư Phật thân, dĩ vi quán sát Di Đà quán thể” (Lại nữa, Phật Di Đà và chư Phật một tâm, một trí, ứng dụng cũng thế. Thân của Phật Di Đà hiển lộ, chính là thân của chư Phật [hiển lộ]. Giảng rơ về tướng của chư Phật, chính là [giảng rơ về] Thể của Phật Di Đà. V́ thế, giảng chung về thân chư Phật, coi đó là cách quán sát Phật Di Đà theo phương diện quán Thể). Trong đoạn này, đức Phật vẫn chưa dạy chúng ta, chưa nói rơ cách quán tưởng A Di Đà Phật, tức là quán tưởng Vô Lượng Thọ Phật, chỉ nói đến chư Phật Như Lai, hiểu là đức Phật nào cũng đều được. Nếu quư vị có thể nương theo nguyên lư và nguyên tắc này để tu, chẳng có ai không thành tựu. Niệm Phật, thành Phật, Lư và Sự đều ở trong đoạn kinh văn này. Chuyên tưởng, tâm liền thanh tịnh. V́ sao tâm chúng ta chẳng thanh tịnh? Do tâm loạn tưởng. Loạn đến mức độ nào? Chính ḿnh chẳng thể khống chế! Do chính ḿnh chẳng thể khống chế, nên một hồi tưởng Đông, một hồi nghĩ Tây, ngay cả đêm ngủ cũng chẳng thật thà, mộng mị tơi bời! Mộng do đâu mà có? Mộng cũng sanh từ tưởng. V́ thế, ban đêm nằm mộng, có thể kiểm nghiệm mức độ tịnh uế trong tâm ḿnh. Tâm hơi thanh tịnh một chút, sẽ chẳng gặp ác mộng, sẽ chẳng nằm mộng rất loạn, mà sẽ có chút lớp lang. Đó cũng là hiện tượng niệm Phật có tiến bộ. Nếu tiến bộ hơn, ban đêm nằm mộng thường mộng thấy niệm Phật, mộng thấy gặp Phật, mộng thấy nghe kinh, do nguyên nhân nào? Các chủng tử được huân tập trong A Lại Da khởi tác dụng, tự nhiên hiện hành, có sức mạnh to lớn, mạnh mẽ. Chủng tử nghiệp tập nào to lớn, mạnh mẽ sẽ hiện hành. Khi chẳng khống chế được, nó sẽ tự nhiên hiện hành. Nếu tâm thật sự thanh tịnh, mộng sẽ ít đi. Ít mộng là một hiện tượng tốt.

      Đoạn văn này hết sức trọng yếu, nên tổ sư chú giải cũng đặc biệt tường tận. Tôi nghĩ các đồng tu tự xem đoạn này cũng hiểu được. Xin mở sang trang một trăm tám mươi sáu, xem ḍng thứ hai. Ḍng kinh văn này dạy chúng ta phương pháp tu hành, là cương lănh tổng quát của cách tu, hết sức trọng yếu. Có thể nói là ba kinh nhất trí nguyên lư này, kinh Vô Lượng Thọ và kinh A Di Đà đều chẳng ra ngoài lệ ấy.

 

      Thị cố ưng đương nhất tâm hệ niệm.

      念。

      (V́ thế, hăy nên nhất tâm hệ niệm).

 

      Phương pháp tu học của Tịnh Tông là nhất tâm hệ niệm.

 

      Đế quán bỉ Phật, Đa Đà A Già Độ, A La Ha, Tam Miệu Tam Phật Đà.

      佛。多 度。阿 訶。三 陀。

      (Quán kỹ vị Phật ấy, Như Lai, Ứng Cứng, Chánh Đẳng Chánh Giác).

     

Ba hiệu sau hoàn toàn là tiếng Phạn dịch âm. Đa Đà A Già Độ (Tathāgata) dịch sang nghĩa tiếng Hán là Như Lai. A La Ha (Arhat) dịch sang nghĩa tiếng Hán là Ứng Cúng. Tam Miệu Tam Phật Đà (Samyak-saṃbuddha) dịch sang nghĩa tiếng Hán là Chánh Biến Tri, hoặc dịch là Đẳng Chánh Giác. Đây là ba hiệu trong mười hiệu của Như Lai, dịch âm tiếng Phạn. V́ vậy, chúng ta hiểu: Hết thảy chư Phật là một Thể. Là một Thể, nhưng thuận theo tâm niệm của hết thảy chúng sanh mà hiện ra các hiện tượng bất đồng. V́ thế, Phật là vô lượng vô biên. Vô lượng vô biên là đức dụng của bản tánh, là tác dụng của Tánh Đức, tức là bản tánh khởi tác dụng. Xét theo phía chúng ta, chúng ta chưa kiến tánh, dẫu đă kiến tánh th́ chẳng viên măn, đều thuộc loại Tu Đức. Sau khi đă kiến tánh viên măn, sẽ là Tánh Đức. Phàm các danh hiệu của Phật được dùng trong kinh điển đều nhằm hiển lộ Tánh Đức, c̣n danh hiệu của các vị Bồ Tát được dùng để hiển lộ Tu Đức. Tánh và Tu chẳng hai, Tánh là Bổn Giác, Tu là Thỉ Giác. Thỉ Giác hợp với Bổn Giác, Thỉ Giác và Bổn Giác chẳng hai, đó là đạt đến Cứu Cánh Giác. V́ lẽ này, Phật Di Đà và chư Phật bất tăng, bất giảm. Kinh Hoa Nghiêm nói “một chính là nhiều, nhiều chính là một, một chính là vô lượng, vô lượng chính là một”.

      Chuyện này đă là sự thật, [vậy th́] ta niệm Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng được hay sao? Ta niệm Thích Ca Mâu Ni Phật chính là niệm A Di Đà Phật, cần ǵ phải niệm A Di Đà Phật? Nói theo Lư th́ xuôi lọt, nhưng xét theo Sự bèn chẳng đúng pháp! Cớ sao chẳng đúng pháp? Chẳng nghe lời thầy! Thầy, Thích Ca Mâu Ni Phật là Bổn Sư của chúng ta, lăo nhân gia bảo chúng ta niệm A Di Đà Phật, ta khăng khăng chẳng nghe lời! Quư vị hăy nghĩ tới Tam Phước trong phần trước, [không nghe lời] chính là chẳng thực hiện điều khoản “phụng sự sư trưởng”. Phụng sự sư trưởng th́ phải y giáo phụng hành. Y giáo phụng hành, chúng ta niệm A Di Đà Phật là niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, tùy thuận, thuận tánh. Nếu ngược lại, ta niệm Thích Ca Mâu Ni Phật là niệm A Di Đà Phật, đă nghịch tánh! Nói theo Lư th́ chẳng sai, nhưng chẳng tùy thuận lời thầy dạy, nên văng sanh khó thể thành tựu! Quư vị muốn t́m nguyên nhân thật sự ở đâu ư? Chẳng thuận theo lời thầy dạy là chẳng thuận tánh. Không thuận tánh tức là thuận theo phiền năo, thuận theo tà kiến, thuận theo vọng tưởng, chấp trước, làm sao có thể kiến tánh cho được? Giống như nước, nước có thể tùy thuận. Quư vị đựng nó trong ống tṛn, nó có h́nh dạng tṛn. Đựng trong hộp vuông, nó có h́nh dạng vuông. Nếu nó nhất định chấp trước, ta là vuông, quyết định chẳng thể tṛn. Đựng trong vật h́nh tṛn, ta vẫn vuông, tức là chẳng thuận tánh. Vậy th́ cớ sao chẳng chịu nghe lời thầy? V́ sao chẳng thể tiếp nhận lời thầy dạy dỗ? Điều này rất quan trọng.

       Tông Thiên Thai gọi nhất tâm hệ niệm là Nhất Tâm Tam Quán. Trong chú giải có nói [đến chuyện này], nơi hàng thứ tư đếm từ dưới lên trong trang một trăm tám mươi sáu, xem từ hai chữ cuối cùng: “Nhất tâm hệ niệm bỉ Phật, tức Nhất Tâm Tam Quán dă” (Nhất tâm hệ niệm đức Phật ấy chính là Nhất Tâm Tam Quán). Chúng ta không hiểu pháp Quán của tông Thiên Thai, chẳng sao hết! Chỉ cần nhất tâm, nhất tâm đích xác là rất khó. Nhất tâm là chẳng xen tạp, nhất quyết chẳng tán loạn. Người thế tục gọi “hệ niệm” là vương vấn. Trong tâm thường luôn có [chuyện ǵ đó], thường xuyên nghĩ tới [điều ấy]. Đây là bảo quư vị thời thời khắc khắc niệm câu Phật hiệu này, nhằm vun bồi nhất tâm hệ niệm. Cổ đại đức nói: Bí quyết niệm Phật chẳng có ǵ khác, mà là đổi chỗ sống thành chỗ chín, đổi chỗ chín thành chỗ sống, bèn thành công. Chỗ chín nhất (quen thuộc nhất) của chúng sanh là ǵ? Vọng tưởng, suy nghĩ lung tung. Quư vị thấy [chúng ta] suốt ngày từ sáng đến tối suy nghĩ rối bời. Chỗ sống sít nhất là ǵ? Một câu Phật hiệu! Niệm niệm luôn quên bẵng, rất lạt lẽo, hờ hững! Làm như thế nào để Phật hiệu chín muồi như vọng tưởng, suốt ngày từ sáng đến tối chẳng quên khuấy, biến vọng tưởng thành xa lạ như Phật hiệu, thường quên bẵng, sẽ thành công. Đổi chỗ sống thành chỗ chín là được rồi, chẳng có ai không văng sanh. Do đó, dạy quư vị niệm Phật mỗi ngày, hằng ngày nghe Phật hiệu chẳng gián đoạn, hằng ngày nh́n tượng Phật đừng ĺa bỏ, không ǵ chẳng nhằm đổi chỗ sống thành chỗ chín, đạo lư là như vậy đó!

      Quư vị biết đạo lư này, liền biết hết thảy chẳng có chướng ngại. Tượng Phật chẳng thể thờ ở nơi nào đó ư? Chẳng thờ, ta sẽ quên bẵng, chẳng đổi sống thành chín được! V́ thế, trừ pḥng vệ sinh đừng nên thờ tượng Phật ra, nơi nào cũng đều có thể thờ tượng Phật! Nhưng nói thật ra, âm thanh của câu A Di Đà Phật, ngay ở trong nhà vệ sinh cũng nghe rơ ràng, rành mạch. Hiện thời có máy niệm Phật rất hay, càng làm càng tiến bộ, công đức rất lớn. Được rồi! Chúng ta tan học.

 

Tập 24

 

Xin xem trang một trăm tám mươi bảy, xem phần kinh văn.

 

Tưởng bỉ Phật giả, tiên đương tưởng tượng, bế mục, khai mục, kiến nhất bảo tượng như Diêm Phù Đàn kim sắc, tọa bỉ hoa thượng.

者。先 像。閉 目。見 像。如 色。坐 上。

(Hăy tưởng đức Phật ấy: Trước hết hăy nên tưởng h́nh tượng. Nhắm mắt, mở mắt đều thấy một tượng báu, có màu như vàng Diêm Phù Đàn, ngồi trên hoa ấy).

 

      Đây là dạy chúng ta cách quán. Trong cách quán, trước hết nói rơ là Quán Tượng. Hoàn toàn giống như các phép Nhật Quán, Thủy Quán trong phần trước, ắt phải mở mắt hay nhắm mắt đều thấy tượng Phật ấy ở trước mắt, thấy cặn kẽ như trong kinh đă dạy th́ mới là quán thành công. Dù trong tâm mục có tượng ấy, nhưng [tượng ấy] chẳng thể xuất hiện trước mắt tức là phép Quán này chẳng thành tựu! Tiếp theo đó là “nhân tượng kiến độ” (do tượng mà thấy cơi nước). Chúng ta xem kinh văn trong trang một trăm tám mươi tám.

 

      Kiến tượng tọa dĩ.

      已。

(Đă thấy tượng ngồi rồi).

 

      A Di Đà Phật ngồi trên đài sen.

 

      Tâm nhăn đắc khai, liễu liễu phân minh kiến Cực Lạc quốc thất bảo trang nghiêm, bảo địa, bảo tŕ, bảo thụ hàng liệt. Chư thiên bảo mạn di phú kỳ thượng, chúng bảo la vơng măn hư không trung. Kiến như thử sự, cực linh minh liễu, như quán chưởng trung.

開。了 嚴。寶 池。寶 列。諸 上。眾 滿 中。見 事。極 了。如 中。

(Tâm nhăn mở mang, thấy rành rẽ, phân minh cơi Cực Lạc trang nghiêm bằng bảy báu, đất báu, ao báu, cây báu bày thành hàng. Các màn cơi trời phủ kín bên trên. Các lưới mành báu giăng khắp hư không. Thấy sự như vậy sao cho hết sức rơ rệt như nh́n vào bàn tay).

 

      Cổ đức nói cảnh giới vi tế như vậy đều từ nhất tâm diệu quán dần dần chuyển sanh, nên sẽ thấy cảnh giới ngày càng rơ rệt, càng thấy càng hiểu rơ. Ở chỗ này, phải đặc biệt chú ư: Thật sự quan sát, hiểu rơ, thật ra là do chân tâm rất thanh tịnh. Nay chúng ta nói tới Quán Tưởng Niệm Phật. Đối với phép Quán này, tông Thiên Thai đề ra Thứ Đệ Tam Quán và Nhất Tâm Tam Quán. Tông Thiên Thai [đề xướng như vậy] v́ thuở trước, Trí Giả đại sư lập ra phương pháp tu hành Tam Chỉ Tam Quán, phương pháp ấy do Trí Giả đại sư phát minh. Các cao tăng Ấn Độ đến Trung Hoa bái phỏng Trí Giả đại sư, Trí Giả đại sư kể với họ phương pháp tu hành của chính Ngài, các pháp sư Ấn Độ bội phục khôn cùng. Họ nói với Trí Giả đại sư: Ở phương Tây (Ấn Độ) có kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm, phương pháp tu học được giảng trong kinh ấy hết sức tương tự, rất gần gũi với pháp Tam Chỉ, Tam Quán của tông Thiên Thai. Kinh Lăng Nghiêm dạy Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na. V́ lẽ đó, Thiên Thai đại sư dựng một đài bái kinh tại núi Thiên Thai, hằng ngày hướng về phía Tây lễ bái, mong mỏi kinh ấy truyền sang Trung Hoa. Lạy suốt mười tám năm, Trí Giả đại sư viên tịch, kinh ấy vẫn chưa truyền tới Trung Hoa; nhưng về sau, ngài Bát Lạt Mật Đế đem kinh ấy đến Trung Hoa.

      Kinh ấy ở Ấn Độ được gọi là quốc bảo, bất cứ kinh điển nào cũng đều có thể lưu thông sang ngoại quốc, nhưng kinh điển này (kinh Lăng Nghiêm) chẳng thể lưu thông tại ngoại quốc. Đấy là do người Ấn Độ tiếc pháp, nên hiện thời tại Ấn Độ chẳng có Phật pháp, quả báo do tiếc pháp đấy! Pháp sư Bát Lạt Mật Đế mang kinh ấy tới nơi đây (Trung Hoa), hải quan tra xét rất nghiêm, lén đem vài lần đều chẳng thành công. Cuối cùng, Ngài rạch mu bàn tay, giấu bản kinh đă được chép với khổ chữ rất nhỏ vào trong đó, chờ cho đến khi miệng vết thương hoàn toàn lành lặn, đem kinh đến Trung Hoa như vậy. Đem đến Trung Hoa, bèn mổ mu bàn tay, lấy kinh ra, kinh Lăng Nghiêm được truyền tới Trung Hoa như vậy đó. Thuở đầu, chú giải kinh, do bị ảnh hưởng [bởi lời nhận định của các vị pháp sư Ấn Độ], nên đều dùng pháp Chỉ Quán của tông Thiên Thai để giải thích Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na. Măi cho đến đời Minh, Giao Quang đại sư mới không dùng phương pháp ấy, trực tiếp dùng cách nói trong kinh Lăng Nghiêm, đề xướng “bỏ Thức dùng Căn”, hết sức phù hợp ư nghĩa của kinh. Chúng ta đọc thấy trong lời tựa cho bản Chú Giải, pháp sư Giao Quang có nói Ngài niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ. Lúc lâm chung, khi A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, A Di Đà Phật đứng trên không trung tiếp dẫn Ngài văng sanh, Ngài xin A Di Đà Phật cho hoăn lại. Ngài nói chú giải kinh Lăng Nghiêm từ xưa tới nay chẳng nêu rơ ư nghĩa trong kinh, những lời mi chú[13] cũng chẳng giảng rơ ràng, Ngài xin A Di Đà Phật cho phép Ngài khoan văng sanh để chú giải kinh Lăng Nghiêm. Sau khi chú giải xong xuôi sẽ văng sanh. A Di Đà Phật cũng chấp thuận, cho phép Ngài được ở lại, Ngài trụ thế để soạn chú giải.

      Ngài nêu ra nguyên nhân ở chỗ nào? Tam Chỉ Tam Quán của tông Thiên Thai đều dùng ư thức, Nhất Tâm Tam Quán cũng không ra ngoài lệ ấy. Kinh Lăng Nghiêm nói hoàn toàn chẳng dùng tâm ư thức, trong chú giải, pháp sư Giao Quang đă nói rơ ràng! Bản chú giải của Ngài được gọi là Tân Sớ. Do đó, [chú giải] Lăng Nghiêm có hai phái tân và cựu. Cựu phái dùng Tam Chỉ Tam Quán của tông Thiên Thai để giải thích kinh, tân phái không dùng Tam Chỉ Tam Quán, mà dùng “bỏ Thức dùng Căn” như pháp sư Giao Quang đă nói, không dùng tâm ư thức. Bản sớ giải kinh này do Thiên Thai đại sư chú giải, Ngài dùng Tam Chỉ Tam Quán; nói cách khác, vẫn dùng tâm ư thức. Dùng tâm ư thức chánh xác, dùng tâm ấy để tu hành, theo như kinh Lăng Nghiêm đă dạy, sẽ có thể chứng đắc quả A La Hán, có thể chứng đắc quả vị Bích Chi Phật. Nói cách khác, nói theo Tịnh Tông, xác thực là có thể tu đạt đến Sự nhất tâm bất loạn, có thể đạt đến cảnh giới này. Trong Sự nhất tâm bất loạn, đại khái là đối với những cảnh giới như kinh đă nói đều có thể thành tựu, có thể thành tựu phép quán tưởng này. Nếu muốn đạt tới thành tựu viên măn thật sự, ắt phải là Lư nhất tâm bất loạn th́ mới thật sự thấy. Chúng ta phải nên hiểu điều này. Đức Phật dạy chúng ta một nguyên tắc là “y pháp, bất y nhân”, “pháp” là kinh điển, c̣n chú sớ chỉ là tài liệu tham khảo do cổ đại đức trao cho chúng ta để tu học mà thôi. Chúng ta dùng những nhận định của các Ngài như tài liệu tham khảo th́ là chánh xác, cũng đừng nên hoàn toàn chấp chết cứng vào lời chú giải. [Hễ chấp chết cứng] th́ sai mất rồi, nhất định phải nương vào kinh. Chúng ta lại xem đoạn thứ hai là Quán Bồ Tát.

 

       Kiến thử sự dĩ, phục đương cánh tác nhất đại liên hoa, tại Phật tả biên, như tiền liên hoa, đẳng vô hữu dị. Phục tác nhất đại liên hoa, tại Phật hữu biên, tưởng nhất Quán Thế Âm Bồ Tát tượng, tọa tả hoa ṭa, diệc tác kim sắc, như tiền vô dị, tưởng nhất Đại Thế Chí Bồ Tát tượng, tọa hữu hoa ṭa.

已。復 華。在 邊。如 華。等 異。復 華。在 邊。想 像。坐 座。亦 色。如 異。想 像。坐 座。

(Đă thấy sự ấy rồi, lại nên tưởng một hoa sen to ở bên trái đức Phật, giống như hoa sen trên đây trọn chẳng khác ǵ. Lại tưởng một hoa sen to, ở bên phải đức Phật. Tưởng một tượng Quán Thế Âm Bồ Tát ngồi trên hoa ṭa bên trái, cũng là thân vàng ṛng, giống như trước chẳng khác. Tưởng một tượng Đại Thế Chí Bồ Tát ngồi trên hoa ṭa bên phải).

 

      Hoa đài và ṭa sen hoàn toàn giống nhau, Phật và Bồ Tát đều [có hoa đài và hoa sen] giống hệt nhau. Chính giữa là A Di Đà Phật, bên trái, tức phía bên tay trái của A Di Đà Phật, là Quán Thế Âm Bồ Tát; phía bên tay phải là Đại Thế Chí Bồ Tát. Trong chú giải, [có những câu] rất thú vị. Chú giải giảng: “Tam thánh thiết hóa, động tĩnh tất câu” (tam thánh hóa hiện như thế, động hay tĩnh ắt đều như một), “câu” () là tuy một mà ba, tuy ba mà một. “Nhất chủ nhị thần, phi tịnh, phi biệt, biểu hồ tam pháp, tam diệu dung. Chân thân kư nhiên, tượng hợp tương tự, quán nhị túc Phật, linh diệu quán thành tam” (Một vị chủ tể, hai vị bầy tôi, chẳng phải giống hệt như nhau, chẳng phải là khác nhau, biểu thị ba pháp, ba sự dung thông mầu nhiệm. Chân thân đă là như thế th́ h́nh tượng [được biến hiện] cũng phải giống như thế. Quán đức Phật phước huệ trọn đủ, khiến cho phép quán mầu nhiệm [một ḿnh đức Phật] trở thành quán cả ba vị). Đây là quán Tây Phương Tam Thánh. Theo cách biểu thị pháp thông thường, Phật biểu thị Pháp Tánh, biểu thị Chân Như bản tánh; Bồ Tát biểu thị từ Thể khởi tác dụng, là tác dụng của tự tánh. Tác dụng của tự tánh là vô lượng vô biên. Vô lượng vô biên đức dụng có thể quy nạp thành hai loại lớn, một là Trí, hai là Hạnh, trong Phật pháp nói là Giải Hạnh, Giải thuộc về trí huệ, Hạnh thuộc về sự hành tŕ trong cuộc sống. Đây là hai vị đại Bồ Tát; v́ thế, chúng ta thờ tượng Phật nhất định là một vị Phật hai vị Bồ Tát, chẳng thờ thành ba vị Bồ Tát, hay bốn vị Bồ Tát, chẳng thờ theo cách như vậy, v́ các Ngài biểu thị ư nghĩa viên măn trọn đủ về mặt pháp.

      Trong Tây Phương Tam Thánh, Quán Thế Âm Bồ Tát đại biểu Hạnh. Quán Âm Bồ Tát đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn, nên tượng trưng cho Hạnh môn. Đại Thế Chí Bồ Tát đại biểu Giải môn, biểu thị trí huệ, chỉ có trí huệ mới là thế lực chân chánh, thật sự hữu lực. V́ thế, từ bi nhất định phải lấy trí huệ làm cơ sở, đó mới là ḷng từ bi thuận tánh. Nếu chẳng có trí, ḷng từ bi ấy sẽ được gọi là “lạm từ bi” (ḷng từ bi luông tuồng), sẽ có ảnh hưởng bất thiện, đâm ra chẳng tốt đẹp. Phật môn thường nói: “Từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa”. Phật pháp hết sức coi trọng đại từ đại bi và thiện xảo phương tiện; nhưng người đời sau cũng nói: “Từ bi lắm họa hại, phương tiện thành hạ lưu”, do nguyên nhân nào? Đánh mất trí huệ! Ḷng từ bi thiếu trí huệ và phương tiện thiếu trí huệ đều hỏng! Có thể nói là Phật pháp hiện thời suy vi đến nông nỗi này là v́ bỏ mất lư trí, một mực mù quáng dùng ḷng từ bi bừa băi. Chúng ta biết nghĩa thú của việc thờ phụng tượng Phật, nói thật ra th́ “một chính là ba, ba chính là một”, biểu thị nhất Thể. Tiếp theo đây, chúng ta lại xem phần Tượng Phóng Quang (tượng Phật và Bồ Tát tỏa quang minh).

 

      Thử tưởng thành thời, Phật, Bồ Tát tượng giai phóng quang minh. Kỳ quang kim sắc, chiếu chư bảo thụ. Nhất nhất thụ hạ, diệc hữu tam liên hoa. Chư liên hoa thượng, các hữu nhất Phật, nhị Bồ Tát tượng, biến măn bỉ quốc.

時。佛 明。其 色。照 樹。一 下。亦 華。諸 上。各 像。遍 滿 國。

(Khi phép quán tưởng này đă thành, [lại tưởng] tượng Phật và Bồ Tát đều phóng quang minh. Quang minh ấy sắc vàng, chiếu các cây báu. Dưới mỗi cội cây, cũng có ba hoa sen. Trên các hoa sen đều có h́nh tượng một vị Phật và hai vị Bồ Tát trọn khắp cơi ấy).

 

      Đoạn này rất quan trọng mà cũng rất dễ nhớ. V́ chúng ta thường suy nghĩ: Tây Phương Cực Lạc thế giới to ngần ấy, người đông dường ấy, làm sao chúng ta có thể thấy Phật cho được? Đều rất hoài nghi! Chẳng cần nói chi khác, Đài Loan chẳng lớn, thành phố Đài Bắc càng bé. Thành phố Đài Bắc có hơn hai trăm vạn thị dân, mỗi người chúng ta hằng ngày đều có thể gặp Tổng Thống hay chăng? Đều chẳng gặp được! Người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới không ai có thể tính nổi số, đông ngần ấy, làm sao chúng ta có thể gặp A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí hằng ngày? Xem đoạn kinh văn này mới biết, vốn là Phật, Bồ Tát hóa thân; dưới mỗi cây báu đều có Tây Phương Tam Thánh. Số lượng Tây Phương Tam Thánh và số người bên ấy bằng nhau. Do đó, mỗi người hằng ngày đều thấy Phật, mỗi ngày đều chẳng ĺa Phật, tốt lắm! Trong mười phương thế giới, chúng ta chưa hề thấy cảnh giới này, các kinh khác chưa hề nói như thế, chỉ riêng thế giới Tây Phương là hóa thân của Di Đà, Quán Âm, Thế Chí đầy khắp nước ấy. Do đó, đến thế giới Tây Phương, sẽ thường ở cùng một chỗ với A Di Đà Phật, cùng Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, các vị đại Bồ Tát gặp mặt hằng ngày. Mỗi ngày đều ở chung với nhau, hóa thân của các Ngài trọn khắp cơi Phật.

      Chúng ta xem phần chú giải cho đoạn này trong trang một trăm tám mươi chín, xem từ câu thứ ba trong hàng thứ tư từ dưới đếm lên: “Phật chi thân ṭa, Bồ Tát thân ṭa, tam vô sai biệt”, [nghĩa là] thân và ṭa của Bồ Tát hoàn toàn giống như thân và ṭa của Phật, đúng như kinh Vô Lượng Thọ đă nói. “Duy thủ tướng các bất đồng nhĩ”, [nghĩa là] chỉ có [h́nh tướng] nơi đầu là trông thấy khác nhau. “Phật duy nhục kế, bất đới hoa quan” (Phật chỉ có nhục kế, chẳng đội măo hoa). Trên đầu đức Phật là tướng nhục kế. “Nhị đại sĩ tuy đồng đới hoa quan”, [nghĩa là] Quán Âm và Thế Chí đều cùng đội măo. Măo ấy, tức hoa quan giống nhau, chỉ có một điểm khác nhau. Giữa măo của Quán Âm Bồ Tát là một bức tượng Phật. Bức tượng Phật ấy là tượng đứng, hóa Phật đứng. Một hôm, có người chụp một tượng bức tượng Quán Âm, tượng Phật trên măo đội đầu của Ngài là tượng ngồi tĩnh tọa, tôi nói: “Không đúng! Đây chẳng phải là Quán Âm Bồ Tát, [tượng Phật trong] măo Quán Âm Bồ Tát là tượng đứng”. Tôi nói: “Đây là Bồ Tát nào tôi không biết. Nếu quư vị bảo là Quán Âm th́ là Quán Âm giả mạo, chẳng phải là Quán Âm thật sự”. Cũng phải chú ư điều này. Chính giữa măo của Đại Thế Chí Bồ Tát là một cái b́nh báu, cũng là b́nh báu đặt thẳng đứng. Đó là chỗ khác nhau. Trừ điều đó ra, hoàn toàn giống nhau. Điều này giống như phần bốn mươi tám nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ đă nói. Chúng ta lại lật sang trang kế tiếp, xem kinh văn:

 

      Thử tưởng thành thời, hành giả đương văn thủy lưu quang minh, cập chư bảo thụ, phù, nhạn, uyên ương, giai thuyết diệu pháp. Xuất Định, nhập Định, hằng văn diệu pháp. Hành giả sở văn, xuất Định chi thời, ức tŕ bất xả, linh dữ Tu Đa La hợp. Nhược bất hợp giả, danh vi vọng tưởng. Nhược dữ hợp giả, danh vi thô tưởng kiến Cực Lạc thế giới. Thị vi Tượng Tưởng, danh đệ bát Quán.

時。行 明。及 樹。鳧 鴦。皆 法。出 定。恆 法。行 聞。出 時。憶 捨。令 合。若 者。名 想。若 者。名 界。是 想。名 觀。

 (Khi phép quán tưởng này thành tựu, hành giả sẽ nghe nước chảy, quang minh, và các cây báu, le, nhạn, uyên ương đều nói diệu pháp. Xuất Định, nhập Định, luôn nghe diệu pháp. Những điều hành giả nghe được khi xuất Định bèn nhớ giữ chẳng bỏ. Phải sao cho hợp với Tu Đa La. Nếu chẳng hợp th́ là vọng tưởng. Nếu phù hợp, bèn gọi là quán tưởng thấy thế giới Cực Lạc về phần thô. Đây là Tượng Tưởng, được gọi là phép Quán thứ tám).

 

      Đoạn kinh văn này nói rơ: Trong khi quán tưởng, bèn nghe pháp. Nước chảy, quang minh, cây báu là vô t́nh thuyết pháp, các loài chim như le, nhạn… là hữu t́nh thuyết pháp. T́nh và vô t́nh không ǵ chẳng nói pháp, từ đoạn kinh văn này, chúng ta đă thấy [điều đó]. Người tu hành bất luận là trong Định, nhập Định hay xuất Định thảy đều nghe thấy. Như trong phép quán tưởng ở phần trước, mở mắt hay nhắm mắt, tượng ấy đều hiện tiền. Ở đây nói, trong Định, hoặc chẳng phải ở trong Định, đều nghe âm thanh; nhưng những ǵ quư vị nghe được nhất định phải tương ứng với kinh. Nếu chẳng tương ứng, sẽ là vọng tưởng. Nếu tương ứng th́ là “thô kiến”, [tức là] thấy thế giới Cực Lạc [ở mức độ thô thiển]. Phải phân biệt rơ ràng chuyện này, chớ nên coi ma cảnh như Phật cảnh. Do đó, đối với người học Phật chúng ta, kinh điển có hai cách sử dụng:

1) Cách sử dụng thứ nhất là dạy chúng ta phương pháp tu hành. Chúng ta cũng chẳng biết tu như thế nào th́ trong kinh điển có lư luận, có phương pháp, có cảnh giới, dạy cho chúng ta [những điều ấy].

2) Cách sử dụng thứ hai là khi chúng ta tu đến một cảnh giới kha khá, nó sẽ chứng minh cho chúng ta. Đến khi chúng ta tu thành tựu, phải đối chiếu cảnh giới chúng ta đă thấy với kinh điển, để coi là giống nhau hay sai khác. Ví như chúng ta thấy Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ chúng ta thấy Tây Phương Cực Lạc thế giới có giống như kinh đă nói hay không? Nếu hoàn toàn giống hệt, đó là thấy thế giới Tây Phương chân thật. Nếu chẳng giống, vậy là không đúng rồi, giả mất rồi! Điều này rất quan trọng. Kinh luận thường nói “Phật Phật đạo đồng”, hết thảy chư Phật chắc chắn phải nói các kinh giống như nhau. Chỗ có thể bất đồng là ngôn ngữ, có thể nói là cũng có đôi chút bất đồng về phương diện đó, nhưng chắc chắn là nội dung giảng nói phải giống nhau. V́ sao? Đó là cảnh giới do chư Phật đích thân chứng đắc, há có lẽ nào chẳng giống nhau?

Đối với những chỗ giống như thế này chúng ta phải lưu ư hơn. Trong thế giới hiện thời, giả Phật quá nhiều! Kinh điển ngụy tạo cũng rất nhiều, rất dễ bị lừa gạt. Kẻ gặp ma sự quá đông, gần như mỗi tuần đều có mấy người đến kiếm tôi. Nói thật ra, bị ma dựa, đến kiếm tôi, tôi chẳng có cách nào hết. Tôi chẳng có thần thông, tôi chẳng cùng quỷ thần qua lại. Bị ma dựa, phải t́m đến những người có qua lại với quỷ thần, có lẽ họ cũng có cách điều giải cho quư vị. Nhưng điều giải cũng có hạn độ, cũng tùy thuộc vào duyên phận. V́ thế, tôi khuyên các đồng tu hăy thật thà, chân thật niệm Phật, càng ít qua lại với quỷ thần càng hay. V́ sao? Chúng ta là phàm phu, chớ nên chèo kéo họ. Đối với quỷ thần, tục ngữ có câu: “Thỉnh thần dung dị, tống thần nan”. [Ư nói] quư vị t́m tới họ rất dễ dàng, sau đó, quư vị làm thế nào để tiễn họ đi? Chuyện này rất phiền phức! Nếu họ không đi, sẽ đem lại cho quư vị lắm nỗi phiền phức. V́ thế, tốt nhất là giao du với quỷ thần càng ít càng hay. Chúng ta chẳng mong qua lại với họ, họ cũng chẳng t́m đến chúng ta. Chúng ta ham thần thông, thích cúng dường quỷ thần, thích lui tới với họ, họ cảm thấy quư vị cũng được lắm, chúng ta là bạn tốt với nhau, kết thành bằng hữu! Phải chú ư điều này!

      Niệm chú, trong chú có nhiều danh hiệu quỷ thần, quư vị niệm chú [tức là triệu thỉnh] họ đến, sau đó niệm như thế nào để tiễn họ đi? Quư vị muốn niệm chú Lăng Nghiêm, niệm chú Đại Bi, chú ngữ thật sự là mấy câu cuối cùng, từ chữ “đát điệt tha” (tadyathā)[14] trở đi là chú ngữ, [chú ngữ thật sự chỉ có] mấy câu ấy. Những câu trước đó đều là danh hiệu quỷ thần, gọi từng người trong bọn họ đến, đă gọi đến rồi chẳng thể tiễn họ đi trọn vẹn, sẽ rất phiền phức. Thời cổ, những bậc đại đức thật sự có đạo hạnh, hằng ngày dùng chú ngữ để thí thực, cúng dường quỷ thần, thật sự đạt được lợi ích. Tâm chúng ta chẳng thanh tịnh, chẳng có đạo hạnh, học bài chú ấy, thỉnh vời quỷ thần đến. Quỷ thần thấy quư vị chẳng có đạo đức, cũng chẳng có tu tŕ chi hết, bèn coi thường quư vị. Coi thường quư vị th́ quỷ thần tốt sẽ bỏ đi rồi thôi, không đếm xỉa tới quư vị; quỷ thần xấu có khi bắt nạt quư vị, rắc rối to! Quư vị chẳng dây dưa với họ, họ chẳng t́m đến quư vị. Quư vị chèo kéo họ, họ sẽ t́m đến kiếm chuyện với quư vị. Nay trong thế gian này, tại Trung Quốc và ngoại quốc, chúng ta thấy [những t́nh cảnh như vậy] quá nhiều! V́ thế, tôi mong các đồng tu hễ thấy chuyện này, chớ nên giới thiệu họ đến gặp tôi, tôi chẳng có cách nào cả! Hiện thời như tôi biết, trước kia, dường như pháp sư Quảng Khâm c̣n có chút thần thông, mọi người đều biết. Nay tôi biết ở Đài Nam có pháp sư Khai Tâm, Ngài có thể thấy được đôi chút, có chút cảm ứng. Pháp sư Khai Tâm và tôi cũng rất thân thiết. Hễ tôi gặp nghi nan, tạp chứng nào, chẳng có cách ǵ, thảy đều giới thiệu họ đến gặp Ngài. Nói thật ra, Ngài cũng chẳng thể trách tôi! Lần trước tôi gặp Ngài, Ngài tặng người khác danh thiếp. Tôi nói: “Pháp sư à! Xin thầy cho tôi một tấm danh thiếp”. Ngài tặng tôi cả hộp. V́ thế, hiện thời tôi có một hộp danh thiếp, hễ ai có nghi nan tạp chứng, tôi sẽ đưa cho họ một tấm danh tiếp, bảo họ đến t́m Ngài.

      Đây là trong quán tưởng có chánh quán và tà quán, chớ nên không lưu ư. Do vậy, học Phật th́ phải chân thành, y giáo phụng hành, đừng cầu thần thông, cũng đừng cầu cảm ứng, như vậy th́ quư vị sẽ tâm chánh, hạnh chánh, quỷ thần chẳng dám trêu vào quư vị. Nhất là một người thật sự niệm Phật, chư Phật hộ niệm, long thiên hộ tŕ, các quỷ thần thuộc tà môn ngoại đạo về căn bản là đều chẳng dám tiếp cận quư vị, thật đấy, chẳng giả tí nào! Chẳng dám tiếp cận, lấy đâu ra chuyện ma dựa? Do đó, người niệm Phật bị ma dựa, đúng là oan uổng, chắc chắn chẳng phải là người thật sự niệm Phật, người thật sự niệm Phật sẽ không thể bị ma dựa. Dễ bị ma dựa nhất là học Mật và học Thiền, v́ trong Thiền Định, hoặc trong Định, họ có thể thấy quỷ thần. Trong chú ngữ của Mật Tông phần nhiều đều là danh tự của quỷ thần, nên họ và quỷ thần khá gần gũi, qua lại khá mật thiết, nên dễ chuốc lấy phiền phức. Tịnh Tông niệm Phật, nói theo lư, chẳng thể nào có những chuyện ấy phát sanh.

Đoạn kế tiếp nói tới lợi ích do tu Quán, hăy xem kinh văn trong trang một trăm chín mươi mốt:

 

      Tác thị quán giả, trừ vô lượng ức kiếp sanh tử chi tội, ư hiện thân trung đắc Niệm Phật tam-muội.

者。除 罪。於 。得 昧。

(Người quán pháp này, trừ tội trong vô lượng ức kiếp sanh tử, nơi thân hiện tại, đắc Niệm Phật tam-muội).

 

      Nếu quán tưởng thành tựu, hiện tiền quư vị đắc Niệm Phật tam-muội. Kinh Di Đà gọi Niệm Phật tam-muội là nhất tâm bất loạn, có thể đạt được.

      Phép Quán tiếp theo là một đoạn chánh yếu nhất trong kinh này, tức là quán Vô Lượng Thọ Phật. Tựa đề của bản kinh này là Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh. Quán Vô Lượng Thọ Phật là phép Quán thứ chín.

 

      Phật cáo A Nan cập Vi Đề Hy: Thử tưởng thành dĩ.

      希。此 已。

      (Đức Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy: “Phép quán tưởng này đă thành”).

 

      Phần trước là Thánh Tượng Quán, là quán tượng Tam Thánh. Quán đă thành, bèn tiến hơn nữa là quán Vô Lượng Thọ Phật.

 

      Thứ đương cánh quán Vô Lượng Thọ Phật thân tướng, quang minh.

      明。

      (Kế đó hăy nên quán thân tướng và quang minh của Vô Lượng Thọ Phật).

 

      Phép Quán này khá vi tế.

 

      A Nan! Đương tri Vô Lượng Thọ Phật thân như bách thiên ức vạn Dạ Ma Thiên Diêm Phù Đàn kim sắc.

難。當 身。如 色。

(A Nan! Hăy nên biết thân Vô Lượng Thọ Phật có màu như vàng Diêm Phù Đàn trong trăm ngàn ức vạn cung trời Dạ Ma).

 

      Thân tướng đức Phật là kim sắc. Kinh nói “kim sắc” là dùng màu sắc tương tự như vàng ṛng trong thế gian chúng ta mà thôi. Thật sự nói tới kim sắc trong Tây Phương th́ chẳng biết siêu thắng (vượt trỗi thù thắng) hơn vàng trong cơi này bao nhiêu lần, vàng của chúng ta chẳng thể sánh bằng vàng trong cơi đó. Nhưng trong thế gian này, lại chẳng thấy có màu nào đẹp hơn sắc vàng, nên bất đắc dĩ dùng nó để tỷ dụ. Do vậy, ở nơi đây chẳng phải là nói tới kim sắc của người thế gian, mà nói đến sắc vàng Diêm Phù Đàn trong cung trời Dạ Ma.

 

      Phật thân cao lục thập vạn ức na-do-tha hằng hà sa do-tuần.

      旬。

      (Thân Phật cao sáu mươi vạn ức na-do-tha hằng hà sa do-tuần).

     

Thân Phật cao vời.

 

      Mi gian bạch hào, hữu toàn uyển chuyển, như ngũ Tu Di sơn.

      毫。右 轉。如

      (Bạch hào giữa hai mày uyển chuyển xoay về bên phải, to như năm quả núi Tu Di).

 

      Trong bài kệ tán Phật có đoạn: “Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di, cám mục trừng thanh tứ đại hải”, xuất phát từ đoạn kinh văn này, bạch hào uyển chuyển to như năm quả núi Tu Di.

 

       Phật nhăn như tứ đại hải thủy, thanh bạch phân minh.

      水。青 明。

(Mắt Phật như nước bốn biển cả, xanh trắng phân minh).

 

      Thân tướng của đức Phật, tướng hảo, quang minh, nói thật ra là vô lượng vô biên. Kinh chỉ nêu đại lược hai thứ là tướng bạch hào và mắt Phật, nêu lên hai thứ ấy.

 

      Thân chư mao khổng, diễn xuất quang minh như Tu Di sơn. Bỉ Phật viên quang, như bách ức tam thiên đại thiên thế giới.

孔。演 明。如 山。彼 光。如 界。

(Các lỗ chân lông trên thân, diễn xuất quang minh như núi Tu Di. Viên quang của đức Phật ấy như trăm ức tam thiên đại thiên thế giới).

 

      Lỗ chân lông trên thân đức Phật tỏa quang minh, [đó gọi là] “diễn xuất quang minh”, giống như núi Tu Di. Viên quang của đức Phật, ở đây là nói tới vầng hào quang tṛn quanh đầu, lớn cỡ nào? Trăm ức tam thiên đại thiên thế giới.

 

      Ư viên quang trung, hữu bách vạn ức na-do-tha hằng hà sa hóa Phật.

      中。有 佛。

      (Trong viên quang có trăm vạn ức na-do-tha hằng hà sa hóa Phật).

 

      “Quang trung hóa Phật vô số ức, hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên”, toàn bộ kệ tán Phật đều phát xuất từ đoạn kinh văn này.

 

      Nhất nhất hóa Phật, diệc hữu chúng đa vô số hóa Bồ Tát dĩ vi thị giả. Vô Lượng Thọ Phật hữu bát vạn tứ thiên tướng. Nhất nhất tướng trung, các hữu bát vạn tứ thiên tùy h́nh hảo. Nhất nhất hảo trung, phục hữu bát vạn tứ thiên quang minh. Nhất nhất quang minh, biến chiếu thập phương thế giới niệm Phật chúng sanh nhiếp thủ bất xả.

佛。亦 者。無 相。 中。各 好。一 中。 明。一 明,遍 生。攝 捨。

(Mỗi vị hóa Phật cũng có đông đảo vô số hóa Bồ Tát làm thị giả. Vô Lượng Thọ Phật có tám vạn bốn ngàn tướng, trong mỗi một tướng đều có tám vạn bốn ngàn tùy h́nh hảo. Trong mỗi một hảo, lại có tám vạn bốn ngàn quang minh. Mỗi một quang minh chiếu khắp chúng sanh niệm Phật trong mười phương thế giới nhiếp thủ chẳng bỏ).

 

      Do đó, người niệm Phật trong mười phương thế giới dẫu nhiều đến mấy, khi văng sanh Tây Phương thế giới, A Di Đà Phật tuyệt đối chẳng bỏ sót, chẳng quên khuấy quư vị, chẳng có chuyện ấy. Quư vị nghĩ xem: A Di Đà Phật hóa thân vô lượng, vô biên, chúng sanh ở nơi này khởi tâm động niệm, Ngài đều biết, chúng ta niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, làm sao Ngài quên khuấy được? Chẳng có lẽ ấy! Phàm phu chúng ta khi lắm việc, có lúc rất dễ quên bẵng chuyện ǵ đó. Chuyện ngày hôm qua, hôm nay quên tuốt, đó là chuyện thường có. Chư Phật, Bồ Tát trong Tây Phương Cực Lạc thế giới tâm địa thanh tịnh, trí huệ, thần thông rộng lớn vô biên, phàm phu chúng ta vừa dấy lên tạp niệm các Ngài đều biết. V́ thế nói sẽ văng sanh khi nào, các Ngài cũng đều biết, tới lúc đó, sẽ tự nhiên đến tiếp dẫn quư vị. Đó là thân tướng của A Di Đà Phật.

      Sau phần này, có một đoạn chú giải hay lắm, hăy xem hàng cuối cùng trong trang một trăm chín mươi bốn, chúng ta xem từ đó: “Nhất nhất hạ” (từ câu “mỗi mỗi” trở đi), “nhất nhất” chính là câu “nhất nhất quang minh, biến chiếu thập phương thế giới niệm Phật chúng sanh, nhiếp thủ bất xả”, “quang minh nhiếp sanh” ([A Di Đà Phật] dùng quang minh nhiếp thọ chúng sanh). Trong phần Sao, tôn giả Tứ Minh đă giảng: “Sanh Phật Thể đồng, tuy độ quảng, sanh đa” (chúng sanh và Phật có cùng một Thể, tuy cơi nước rộng lớn, chúng sanh đông đảo). “Độ” là quốc độ. Mười phương chư Phật quốc độ vô lượng vô biên, ư nói phạm vi giáo hóa của A Di Đà Phật to lớn, hết thảy chư Phật chẳng thể sánh bằng. Trong kinh đức Phật dạy, thông thường phạm vi giáo hóa của một đức Phật là một đại thiên thế giới, cũng có vị Phật có phạm vi giáo hóa là hai đại thiên thế giới, hoặc ba đại thiên thế giới, nhưng cũng chẳng nhiều. Chỉ riêng phạm vi giáo hóa của A Di Đà Phật là tận hư không khắp pháp giới. V́ chúng sanh niệm Phật trong hết thảy các cơi nước của chư Phật đều sanh về thế giới Tây Phương, phải hiểu rơ chuyện này! Sau khi đă hiểu rơ, chúng ta mới hiểu một sự thật, thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật giống như một đại học Phật giáo, A Di Đà Phật là hiệu trưởng, mở một trường đại học Phật giáo trong các cơi Phật. Mười phương chư Phật đều chiêu sinh bên ngoài, thay A Di Đà Phật chiêu sinh, đối với những học tṛ đă thâu được, đều đưa đến Tây Phương Cực Lạc thế giới. Thích Ca Mâu Ni Phật chiêu sinh trong thế giới Sa Bà, đưa [học tṛ] sang huấn luyện trong thế giới Tây Phương. Mới biết chân tướng của chuyện này, mới biết pháp môn này rộng lớn vô biên. Chẳng biết trạng huống thực tế, vô lượng vô biên pháp môn bày ra trước mặt mà chúng ta không biết cách chọn lựa, pháp môn nhiều ngần ấy, ta chọn pháp môn nào? Đă hiểu rơ ràng chân tướng, đương nhiên chúng ta sẽ chọn lựa pháp môn này. Đă thế, pháp môn này văng sanh rất dễ dàng, cũng chẳng khó khăn! Các pháp môn khác chưa chắc đă có thể thành tựu, pháp môn này chắc chắn đáng tin cậy. V́ thế, tuy là cơi nước rộng lớn, trong hết thảy các cơi Phật khắp mười phương, ba đời, chúng sanh đông đảo, nhiều người niệm Phật văng sanh, đều được “nhiếp vô nhất thất” (nhiếp thủ chẳng sót một ai), một người cũng chẳng bỏ sót. Khi lâm chung, đức Phật đến tiếp dẫn cũng chẳng bỏ sót một ai!

      Câu này là hàng thứ nhất trong trang một trăm chín mươi lăm, chính là chú giải, chẳng nên in theo lối đảnh cách, kinh văn mới in đảnh cách, ở chỗ này lại in sai. Bản này phạm lỗi không ít, chẳng sửa đổi th́ rất đáng tiếc. Chúng ta in lại hăy nên sửa đổi cho tốt đẹp hơn. Cũng may lần này, in không nhiều lắm. Khi chúng ta in lần tới, hy vọng [các lỗi ấy] sẽ được sửa đổi. Trong các khóa giảng th́ giảng bằng bản này vẫn tốt đẹp, bản này tinh yếu! Do chúng ta bị thời gian hạn chế, nên giảng bản này thuận tiện hơn giảng Diệu Tông Sao rất nhiều, bản Diễn Nghĩa này là phần tinh yếu trong Diệu Tông Sao.

Khoa kế tiếp là Quán Thành Năng Kiến (quán thành tựu bèn có thể thấy).

 

      Kỳ quang, tướng hảo, cập dữ hóa Phật bất khả cụ thuyết.

      好。及 佛。不 說。

      (Quang minh, tướng hảo ấy và các hóa Phật chẳng thể nói trọn).

 

      Nếu nói chi tiết, sẽ chẳng nói trọn.

 

      Đản đương ức tưởng, linh tâm nhăn kiến.

      想。令 見。

      (Chỉ nên ức tướng ḥng thấy rành rẽ trong tâm).

 

      Dạy chúng ta tưởng như thế nào? Thấy cảnh giới ấy ra sao?

 

      Kiến thử sự giả, tức kiến thập phương nhất thiết chư Phật. Dĩ kiến chư Phật cố, danh Niệm Phật tam-muội.

者。即 佛。以見 故。名 昧。

(Kẻ thấy chuyện này liền thấy mười phương hết thảy chư Phật. Do thấy chư Phật, nên gọi là Niệm Phật tam-muội).

 

      Niệm Phật tam-muội thành tựu viên măn. Đây là do chính miệng đức Thế Tôn tuyên thuyết: Thấy A Di Đà Phật là thấy mười phương hết thảy chư Phật. Do đó, sanh vào Tây Phương Cực Lạc thế giới là sanh trong hết thảy các thế giới của chư Phật, chớ nên không biết chuyện này. Có nhiều người học Phật, mong thấy đức Phật này, mong thân cận Bồ Tát kia, suốt ngày từ sáng đến tối suy nghĩ lung tung, có thể thấy hay không? Thật sự là một vấn đề! Tôi thấy có các đồng tham đạo hữu, có cảm t́nh rất sâu đậm đối với Di Lặc Bồ Tát, luôn nhất tâm nhất ư niệm Nam-mô Di Lặc Bồ Tát, niệm Di Lặc Hạ Sanh Kinh[15], mong thân cận Di Lặc Bồ Tát, tu Di Lặc Tịnh Độ. Có nắm chắc sẽ sanh về đó hay không? Rất có vấn đề! Quư vị xem Hư Vân Lăo Ḥa Thượng Niên Phổ, lăo ḥa thượng Hư Vân tu Di Lặc Tịnh Độ, văng sanh Di Lặc Tịnh Độ. Theo ghi chép trong Niên Phổ của lăo ḥa thượng, Ngài tới Đâu Suất Nội Viện nghe Di Lặc Bồ Tát giảng kinh, Ngài ở trong Định, thấy mấy người văng sanh, nhận biết mấy người, chẳng nhiều lắm, chỉ thấy mấy người quen mà thôi! Có thể thấy [văng sanh Di Lặc Tịnh Độ] rất khó, rất ư là khó!

      Nhưng nếu tu niệm pháp môn Di Đà, đến gặp Di Lặc Bồ Tát rất dễ dàng. Ngài Di Lặc và Tịnh Độ có mối quan hệ hết sức sâu đậm: Nửa sau kinh Vô Lượng Thọ, Di Lặc Bồ Tát là đương cơ. V́ thế, văng sanh Di Lặc Nội Viện từ Tây Phương Cực Lạc thế giới là đi theo đường gần, chẳng cần chuốc lấy lắm nỗi phiền phức dường ấy, thân cận Di Lặc Bồ Tát rất dễ dàng. Đă thế, Di Lặc Bồ Tát c̣n hết sức tôn trọng quư vị. V́ sao? Quư vị là học tṛ của A Di Đà Phật, Ngài phải đặc biệt tôn trọng quư vị. Quư vị tu Di Lặc Tịnh Độ đến được Nội Viện, tức là học tṛ của Ngài, Ngài có thể chẳng cần khách sáo đối với quư vị. Đệ tử của A Di Đà Phật là khách quư, phải khéo tiếp đăi, khác hẳn!

 

      Tác thị quán giả, danh quán nhất thiết Phật thân. Dĩ quán Phật thân cố, diệc kiến Phật tâm. Phật tâm giả, đại từ bi thị. Dĩ vô duyên từ, nhiếp chư chúng sanh.

者。名 身。以 故。亦 心。佛 者。大 是。以 慈。攝 生。

(Hành phép Quán này th́ gọi là quán thân của hết thảy chư Phật. Do quán thân Phật, nên cũng thấy tâm Phật. Tâm Phật là đại từ bi. Dùng vô duyên từ nhiếp các chúng sanh).

 

      Câu sau cùng là một câu khẩn yếu. Rất khó quán thân Phật thành công, ở đây, chúng ta biết “tâm Phật”. Tâm Phật là ǵ? Tâm Phật là vô duyên đại từ. Vô Duyên là chẳng có điều kiện; nói cách khác, từ thanh tịnh, b́nh đẳng, giác sanh ra tâm từ bi. Nếu nói theo cách thông tục, tâm từ bi là tâm yêu thương. Hai chữ Bác Ái cũng phát xuất từ kinh Vô Lượng Thọ. Đó là vô duyên từ bi, “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi”, chúng ta phải vun bồi cái tâm ấy. Tâm đại từ bi đối đăi chúng sanh nhằm thành tựu chúng sanh, thật sự giúp đỡ, thành tựu họ. Tâm đại từ bi chẳng phải là yêu thương thiên vị, chẳng phải là sủng ái mù quáng, khi đáng mắng chửi th́ vẫn phải mắng chửi, đáng đánh th́ vẫn phải đánh. Khi đáng nên tống vào địa ngục th́ vẫn phải đưa kẻ ấy đến địa ngục. Phải biết: Lợi lạc họ trong hiện thời, nhưng đời sau họ chẳng được lợi ích, đó chẳng phải là từ bi. Đời này, đời sau họ đều được tốt lành, có lợi ích, nhưng đời sau nữa chẳng đạt được lợi ích th́ vẫn chưa phải là từ bi. Do vậy có thể biết, thật sự từ bi, từ bi đến tột cùng, chính là khuyên họ văng sanh Tây Phương thế giới, đó đúng là từ bi đến cùng cực! V́ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới liền chứng trọn vẹn ba thứ Bất Thoái, thành Phật trong một đời. Do đó, chẳng khác ǵ công đức hóa độ chúng sanh của chư Phật, Bồ Tát. Quư vị dùng các pháp môn khác th́ không được, chưa chắc họ đă có thể thành tựu, tu chẳng thành th́ vẫn luân hồi trong lục đạo. Do đó, lợi ích hữu hạn, công đức rất ít. Chỉ riêng pháp môn này có vô lượng vô biên công đức. Đoạn kế tiếp là Cử Ích Khuyến Tu (nêu ra lợi ích để khuyên tu), chúng ta hăy xem kinh văn:

 

      Tác thử quán giả, xả thân tha thế, sanh chư Phật tiền, đắc Vô Sanh Nhẫn.

      者。捨 世。生 前。得 忍。

      (Kẻ hành phép Quán này, bỏ thân, trong đời sau, sanh ở trước Phật, đắc Vô Sanh Nhẫn).

 

      Đây là nói đến công đức lợi ích do tu học. Sau khi bỏ thân, đời sau sanh trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn đắc Vô Sanh Nhẫn, cũng tương ứng với những điều được nói trong bốn mươi tám nguyện của kinh Vô Lượng Thọ. Phàm là người sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới đều là A Bệ Bạt Trí Bồ Tát. A Bệ Bạt Trí đắc Vô Sanh Nhẫn, từ Thất Địa trở lên.

 

      Thị cố trí giả, ưng đương hệ tâm đế quán Vô Lượng Thọ Phật.

      者。應 佛。

      (V́ thế, kẻ có trí hăy nên dốc ḷng chuyên tâm quán kỹ Vô Lượng Thọ Phật).

 

      Qua câu này, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật rát miệng buốt ḷng khuyên bảo chúng ta. “Trí giả” (bậc trí) là nếu quư vị có chút trí huệ, sẽ chẳng thể vứt bỏ pháp môn này, “ưng đương” (hăy nên) là khuyên chúng ta “hệ tâm đế quán”. Đó là phương pháp tu học, hệ tâm đế quán Vô Lượng Thọ Phật, tức là A Di Đà Phật. Nay chúng ta quán, do chẳng có năng lực để quán như vậy, bèn chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm hệ niệm, xưng niệm A Di Đà Phật, sẽ chẳng khác phương pháp tu quán A Di Đà Phật. Hễ thành tựu th́ công đức hoàn toàn giống nhau. V́ thế, trong lời mi chú kinh Vô Lượng Thọ, thầy Lư đă viết: “Chẳng chịu cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, nếu chẳng phải ngu th́ là cuồng”, “ngu” là ngu si. Nếu chẳng phải là ngu si, bèn là cuồng vọng. Nói cách khác, kẻ b́nh phàm, hễ là người có đôi chút trí huệ, chẳng có ai không phát nguyện cầu sanh Tây Phương. Thầy Lư nói lời ấy, so với lời kinh dạy, và lời tổ sư đại đức xưa nay khuyên lơn, khích lệ chúng ta hoàn toàn giống hệt như nhau.

      Cụ đọc đến đoạn kinh về nhóm năm trăm người của vương tử A Xà Thế, đă nêu ra ba điều cảnh giác:

1) Điều thứ nhất, quư vị hăy nh́n vào nhân quả trong quá khứ của nhóm vương tử A Xà Thế. “Trụ Bồ Tát đạo, cúng dường bốn trăm ức Phật”, mà c̣n bị mê khi cách ấm, vẫn thoái chuyển. “Trụ Bồ Tát đạo”, có thể thấy trước kia họ là Bồ Tát, nay phải làm vương tử, hoặc làm trưởng giả, đă thoái chuyển rồi. Chuyện trong đời quá khứ hoàn toàn không biết, do bị mê khi cách ấm. Đă cúng dường bốn trăm ức Phật mà c̣n bị mê khi cách ấm, vẫn phải thoái chuyển. Thiện căn vẫn ít ỏi, vẫn chưa đủ dầy. Chỉ là nghe Thích Ca Mâu Ni Phật giảng Tây Phương Cực Lạc thế giới trong tâm rất hoan hỷ, động một niệm: “Trong tương lai ta thành Phật, sẽ giống như A Di Đà Phật”. Chỉ dấy một niệm như thế. Trọn chẳng hạ thật sự quyết tâm “đời này ta phải cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới”, vẫn chẳng dấy niệm ấy. V́ thế, họ có thể văng sanh hay không, vẫn chẳng nhất định. Đó là điều đáng cảnh giác thứ nhất.

2) Điều thứ hai, tuy đă có cái nhân ấy, nếu duyên chẳng chín muồi, đời này lại chẳng thể thật sự cầu sanh. Nói cách khác, vẫn phải lưu chuyển theo nghiệp, phải nếm trải một thời gian rất dài trong lục đạo, vẫn phải hứng chịu khổ nạn.

3) Do đó, điều thứ ba, cụ nói, nếu chẳng cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, đó chẳng phải là ngu bèn là cuồng!

Thật vậy, chẳng giả tí nào! Câu kinh văn này vô cùng trọng yếu.

 

      Quán Vô Lượng Thọ Phật giả, tùng nhất tướng hảo nhập, đản quán mi gian bạch hào, cực linh minh liễu. Kiến gian mi bạch hào tướng giả, bát vạn tứ thiên tướng hảo, tự nhiên đương hiện.

觀 無 量 壽 佛 者。從 一 相 好 入。但 觀 眉 間 白 毫。極 令 明 了。見 間 眉 白 毫 相 者。八 萬 四 千 相 好。自 然 當 現。

(Quán Vô Lượng Thọ Phật th́ bắt đầu bằng quán một tướng hảo. Chỉ quán tướng bạch hào giữa hai mày hết sức rành rẽ. Đă thấy tướng bạch hào giữa hai mày th́ tám vạn bốn ngàn tướng hảo sẽ tự nhiên hiện ra).

 

Dạy chúng ta cách quán. Phật có vô lượng tướng, mỗi tướng có vô lượng hảo. Trong mỗi hảo có vô lượng quang minh. Trong quang minh lại hóa ra vô lượng vô biên chư Phật, bắt đầu quán từ đâu? Quán từ Bạch Hào, quán từ một tướng. Quán một tướng đă thành, các tướng khác tự nhiên sẽ hiện tiền.

 

Kiến Vô Lượng Thọ Phật giả, tức kiến thập phương vô lượng chư Phật. Đắc kiến vô lượng chư Phật cố, chư Phật hiện tại thọ kư. Thị vi biến quán nhất thiết sắc thân tướng, danh đệ cửu quán. Tác thị quán giả, danh vi chánh quán. Nhược tha quán giả, danh vi tà quán.

者。即 佛。得 故。諸 記。是 相。名 觀。作 者。名 觀。若 者。名 觀。

(Thấy Vô Lượng Thọ Phật chính là thấy mười phương vô lượng chư Phật. Do được thấy vô lượng chư Phật, nên chư Phật hiện tại thọ kư. Đó là quán trọn khắp hết thảy các tướng sắc thân, gọi là phép Quán thứ chín. Quán như thế là chánh quán. Nếu quán khác đi, sẽ là tà quán).

 

      Cần phân biệt tà và chánh. Thấy một vị Phật là thấy hết thảy chư Phật, sanh trong một cơi là sanh vào hết thảy các cơi, chỉ có pháp môn này!

      A! Chúng tôi giảng tới đây.

Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 6 hết



[1] A Lư Sơn là một trong năm rặng núi lớn (Trung Ương Sơn Mạch, Tuyết Sơn, Ngọc Sơn, A Lư Sơn, và Hải Ngạn Sơn Mạch) ở Đài Loan. Rặng núi A Lư Sơn chạy từ trấn Tập Tập thuộc huyện Nam Đầu ở phía Bắc đến khu Yến Sào thuộc thành phố Cao Hùng ở miền Nam, dài đến 250 km, ngọn cao nhất là Đông Thủy Sơn (2.611m), các ngọn núi nổi tiếng khác thuộc rặng núi này là Lănh Đầu, Kim Cam Thụ, Ngũ Xa Luân, Sư Tử Đầu, Lộc Khuất, Ô Tùng Khanh, Tùng Sơn, Tiểu Tháp, Đại Tháp, Đối Cao, Chúc Sơn, Tiểu Lạp, Tự Trung, Bắc Hà, Kê Tử, Bằng Dục v.v…

[2] Đây là tập sách Tây Phương Du Kư do cư sĩ Lưu Thế Hoa viết theo lời kể của pháp sư Khoan Tịnh. Theo đó, pháp sư Khoan Tịnh ngồi thiền trong động Di Lặc trong núi Cưu Tiên, huyện Đức Hóa, tỉnh Phước Kiến, được Quán Thế Âm Bồ Tát dẫn lên Cực Lạc thăm viếng.

[3] Lư (dặm Tàu) có độ dài khác nhau theo từng thời đại, nói chung là khoảng 500 mét.

[4] Lời Sao giảng: “Thích Ca Tỳ Lăng Già, cơi này dịch là Năng Thắng. Ma Ni dịch là Ly Cấu, c̣n dịch là Tăng Trưởng. Ư nói chỗ có vật báu này, ắt sẽ tăng thêm oai đức. Khi xưa dịch [chữ Ma Ni] là Như Ư. Những điều này đều là dịch theo ư nghĩa”.

[5] Diêm Phù Đàn Kim (Jambūnada-suvarṇa). Diêm Phù Đàn có nghĩa là ḍng sông chảy luồn giữa các cây Diêm Phù, vốn là tên một con sông chảy giữa Hương Tư Sơn và Tuyết Sơn. Theo thần thoại Ấn Độ, sông Diêm Phù Đàn là một trong bảy chi lưu của sông Hằng. Lá cây ấy rụng xuống sông, biến thành vàng. Vàng sanh từ nơi ấy có sắc vàng pha màu đỏ, lại có sắc tía như ngọn lửa, được coi là loại vàng quư nhất.

[6] Sớ Sao giảng: “Theo Thích Luận, có người thường cúng dường trời suốt mười hai năm. Do nghèo cùng, nhất tâm cầu phú quư. Thiên Đế thương xót ḷng thành, hiện thân hỏi: “Ngươi mong cầu điều ǵ?” Đáp: “Cầu phú quư, những điều con mong mỏi đều đạt được”. Thiên Đế trao cho một cái vật, tên là Đức B́nh, nói: “Những vật ngươi cần dùng, trong cái b́nh này đều có”. Người ấy nhận lấy, hễ mong cầu điều ǵ, chẳng hề không được ứng nghiệm. Nay những hoa mầu nhiệm đột nhiên trổ quả, giống như cái b́nh cơi trời ấy, tuôn ra các vật, nên dùng [b́nh Đế Thích] để tỷ dụ”.

[7] Sách Sớ Sao giảng: “Cừ chính là ao. Dưới đáy ao có cát, loại cát ấy có tên là Kim Cang, soi thấu suốt trên dưới”.

[8] “Bốn phần” là khái niệm do tông Duy Thức lập ra nhằm giải thích bản thể và tác dụng của Thức, gồm Tướng Phần, Kiến Phần, Tự Chứng Phần và Chứng Tự Chứng Phần.

[9] Sớ Sao giảng: “Nói là nước Ma Ni là như Xá Lợi Phất, Phú Lâu Na được gọi tên theo cha mẹ, [tương tự như vậy, nước do Ma Ni Bảo Châu sanh ra nên gọi là Ma Ni Thủy]. Câu kế tiếp nói rơ sự tùy tâm. Nước báu trong cơi ấy, mềm mại, nhẹ nhàng, uyển chuyển, nên có thể chảy lên trên, hay chảy xuống dưới. Người ta muốn nước báu chảy luồn trong hoa, nước liền thuận theo ư người. Chữ Hoa không phải là nói về hoa sen trong nước, mà là chỉ các đóa hoa nở rộ nơi hàng cây báu. V́ vậy, nước chảy luồn theo thân cây. Đă chảy luồn trong các đóa hoa rồi lại theo thân cây chảy xuống”.

[10] Ca phổ (歌譜) phần ghi nhạc đệm theo lời ca (ca từ).

[11] B́nh Kịch (平劇) là cách người Đài Loan gọi Kinh Kịch (c̣n gọi là Quốc Kịch; do Bắc Kinh được gọi là Bắc B́nh vào đầu thời Dân Quốc, nên người Đài Loan quen gọi Kinh Kịch là B́nh Kịch). Kinh Kịch là một loại nghệ thuật diễn xướng tuồng tích, có trung tâm là Bắc Kinh. Người được coi là tổ sư của Kinh Kịch chính là vua Đường Minh Hoàng. Kinh Kịch hiện thời đă dung hợp những đặc điểm của Huy Kịch (tuồng An Huy) và Hán Kịch (các loại tuồng ở Hồ Bắc và lối hát tuồng của người Khách Gia), thâu nhập thêm các lối hát nổi tiếng như Tần Xoang, Côn Khúc, Qua Dương Xoang v.v… của truyền thống hát xướng miền Nam Trung Hoa. Kinh Kịch cực thịnh dưới đời Thanh. Nói chung, Kinh Kịch giống hát bội của ta, diễn viên thường vẽ mặt, y trang lộng lẫy, đeo cờ quạt, đuôi chim trĩ, động tác diễn xuất bao gồm nhiều kiểu vũ đạo, mang tính ước lệ cao. Giọng hát phức tạp, nhiều khi các vai đào, nhất là các vai hoa đán (đào thương, đào mùi) thường hát rất cao giọng đến nỗi nếu không quen nghe, sẽ chẳng biết họ đang hát chữ ǵ. Có người đă nói đùa là nghe các hoa đán hát Kinh Kịch giống như nghe tiếng mèo kêu khi bị bóp cổ. Nhạc khí dùng trong Kinh Kịch bắt buộc phải có các loại hồ cầm như Kinh Hồ, Kinh Nhị Hồ, Nguyệt Cầm (đàn nguyệt, đàn ḱm), tiêu, sênh, tỏa nạp (kèn Tàu), và nhất là không thể thiếu các loại trống lớn, trống nhỏ, thanh la, năo bạt, mơ trâu, phách… Nói chung là Kinh Kịch dùng quá nhiều thanh la các loại lớn nhỏ nên tiếng nhạc của Kinh Kịch rất ồn ào và gây cảm giác rất khó chịu nếu nghe lần đầu.

[12] Sách Sớ Sao viết: “Chân Thúc Ca, cơi này dịch là Xích Sắc, vốn là một thứ cây ở Thiên Trúc, hoa có màu đỏ, h́nh như bàn tay. Chất báu này tương tự, nên gọi tên như vậy”.

[13] Mi chú: Những lời chú giải ngắn gọn được viết kèm ngay trước câu chánh kinh, thường là dùng khổ chữ nhỏ hơn.

[14] Tadyathā (thường dịch là “tác như thị thuyết”, nghĩa là “nói như thế này”). Trong mật chú, chữ này thường được dùng để mở đầu phần chú ngữ. Trước chữ này thường là những lời xưng tán danh hiệu, hoặc quy kính. Thí dụ như câu cuối trong Tâm Kinh là “Prajñāpāramitāyām ukto mantraḥ tadyathā: Gate, gate, pāragate, pārasaṃgate, bodhi svāhā”, nên ngài Huyền Trang dịch là “Cố thuyết Bát Nhă Ba La Mật Đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ Đề tát bà ha”.

[15] Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Kinh do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn, chép lời dự ngôn của đức Phật về sự giáng sanh thành Phật của Di Lặc Bồ Tát trong tương lai. Theo đó, Di Lặc Bồ Tát từ trời Đâu Suất giáng sanh nhân gian, làm con của ông Tu Phạm Ma (đại thần của vua Nhương Khư) và bà Phạm Ma Việt. Ngài xuất gia trong nửa đêm và thành đạo ngay trong đêm ấy dưới cội Long Hoa, tam chuyển pháp luân.