|
|
46. Lời khuyên hai việc nên làm, ba điều chẳng nên làm khi niệm Phật của Tích Minh cư sĩ
a. Niệm Phật nên cầu sanh Tịnh Độ
Trồng dưa được dưa, gieo đậu được đậu; niệm Phật sẽ tự được thành Phật. Người đời chẳng biết rằng: ai cũng có thể đến được Tịnh Độ Cực Lạc! Trong tâm trước đă tự dấy động ngờ vực, mơ tưởng phước báo đời sau nên đến nỗi niệm Phật cả đời cũng chẳng được thành. Đấy nào phải đức Phật buông lời dối gạt, chỉ do tự ḿnh chẳng chịu tuân hành, đưa chân theo lối bậy! Kính xin người niệm Phật tin đến mười phần, hạnh đến mười phần th́ chín phẩm đài sen chắc chắn sẽ có phần.
b. Niệm Phật nên hành đủ cả các điều lành
Sa Bà như biển khổ, niệm Phật hệt ngồi thuyền, sanh về Tịnh Độ dường như đến bờ kia, tích thiện như cánh buồm, bánh lái. Tuy trong kinh dạy lúc lâm chung, thập niệm có thể đới nghiệp văng sanh, nhưng đấy là do đời trước tu tập nên mới nhất niệm hồi quang đốn siêu tam giới, chứ chẳng phải cầu may mà được. Dẫu biết rơ chẳng nên làm ác mà c̣n mặc ư làm càn rồi đợi đến lúc lâm chung mười niệm th́ thiên địa, quỷ thần há dung túng mánh khóe ấy hay sao? Bao nghiệp cảnh lần lượt hiển hiện, một chữ Phật niệm c̣n chẳng ra, huống là niệm nổi mười niệm! Kính xin người niệm Phật nên “chớ làm các điều ác, phụng hành các điều thiện” (chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành). Thực hành tám chữ ấy để làm trợ hạnh, trọn đời ǵn giữ, suốt đời thực hiện th́ mới có thể cao đăng thượng phẩm.
c. Niệm Phật chẳng thể kiêm hành tà giáo
Niệm Phật là pháp môn chánh đại, tuy xem ra rất b́nh thường, nhưng thật ra rất viên đốn. Chỉ sợ kẻ ngu phu, ngu phụ nửa đường chán lười, bị người dụ vào các giáo thuyết tà ma ngoại đạo, đâm ra khinh thường một môn Tịnh Độ. Lúc sống phạm trọng h́nh, khi chết đọa địa ngục. Đau thay, xót thay! Dám khuyên người niệm Phật, niệm cho thật thuần thục, niệm tới nhất tâm bất loạn th́ tự nhiên hoa nở thấy Phật, đừng tróc quái cầu thần, vọng sanh ư tưởng khác, toàn là vô ích, lại c̣n tự hại.
d. Niệm Phật chẳng nên dùng tiền (vàng mă)
Đại pháp xuất thế không chi bằng Niệm Phật. Thường thấy người đời do tín căn bất chánh thường đối với đức Phật ḿnh đang niệm đó nghĩ rằng sau khi chết đi có thể dùng tiền [để đút lót được]. Chỉ điên đảo nghĩ lúc lâm chung, có thể dùng tiền mua chuộc cơi âm, chứ chẳng hề biết hồi hướng Tịnh Độ, há chẳng phải là lầm lạc lớn sao! Dám xin người niệm Phật phải nên quy y Phật A Di Đà và Quán Âm, Thế Chí… các đại Bồ Tát, quyết định nương dựa vào cái nhân niệm Phật thù thắng này để cầu sanh Tịnh Độ. [Muốn được] măi măi thoát khỏi tam giới để báo tứ ân th́ trong muôn pháp, không pháp nào bằng được đại pháp xuất thế này. Chỉ nên thực hành pháp này để trả công cho sứ giả vô thường. Mong lắm thay!
e. Niệm Phật chẳng thể sát sanh càn
Niệm Phật lấy từ bi làm gốc. Nếu như chẳng kiêng giết chóc th́ công hiệu giảm thiểu. Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, từ bao kiếp đến nay đều cùng làm quyến thuộc của nhau. Há nỡ cam ḷng giết kẻ khác để nuôi ḿnh? Dám khuyên người niệm Phật, mỗi lúc tḥ đũa gắp thường nghĩ như vậy th́ mới có thể tự thôi ăn mặn, chóng thành Tịnh nghiệp. Nếu chẳng thể trường trai th́ trước hết cần phải tránh giết hại. Nếu có thể giữ vững sáu ngày chay th́ cũng được văng sanh; may ra cũng có thể dứt được thói sát sanh!
* Ghi chú về Lục Trai, Nguyệt Trai
Lục Trai là mỗi tháng sáu ngày: mồng tám, mười bốn, rằm, hăm ba, hăm chín, ba mươi. Tháng thiếu th́ lấy ngày hăm tám, hăm chín làm ngày ăn chay. Nguyệt Trai: Mỗi năm lấy ba tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, ăn chay trọn tháng. Nếu chẳng thể ăn chay ba tháng th́ trong ba tháng này nên kiêng giết hại. Kinh nói: “Mỗi tháng, vào sáu ngày, Tứ Thiên Vương tuần hành Nam Thiệm Bộ Châu. Mồng tám, hai mươi ba: Sứ Giả tuần hành. Mười bốn, hăm chín: Thái Tử tuần hành. Mười lăm, ba mươi: Thiên Vương đích thân đi tuần, khảo sát nhân gian: kẻ nào hiếu thuận cha mẹ, kẻ nào ḷng trung báo đáp ơn vua; kẻ nào chánh trực công b́nh, kẻ nào từ bi phương tiện; kẻ nào quy y Tam Bảo, kiêng sát sanh, tŕ trai, tu nhiều điều lành. Với những kẻ như vậy th́ tăng thêm phước thọ. C̣n kẻ nào ngỗ nghịch mẹ cha, kẻ nào bội phản quân vương, kẻ nào khi dối gian xảo, kẻ nào cương ngạnh bạo ngược, kẻ nào chẳng tin Tam Bảo, kẻ nào giết càn sanh mạng, gây đủ việc ác th́ đối với những kẻ như vậy sẽ tiêu phước diệt thọ. Lại trong ba tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, thiên vương được phân công trấn giữ Nam Thiệm Bộ Châu, khảo sát tội phước. Trong tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, Thiên Đế Thích dùng gương báu lớn chiếu thẳng xuống Nam châu để khảo sát tội phước. Có đáng sợ không? Có đáng dè dặt không? Trong sáu ngày trai này, trong ba tháng trai ấy phải nên trai giới niệm Phật, sám hối tu tỉnh. Trong sáu ngày trai này, ba tháng trai ấy mà ăn chay, làm phước th́ công đức càng lớn. Ngược lại, nếu làm ác th́ tội nghiệp càng sâu. Nếu như chẳng thể ăn chay trọn tháng th́ phải giữ sáu ngày chay. C̣n nếu như ngày ngày ăn chay, ngày ngày niệm Phật, ngày ngày tu phước, đem nhân lành ấy hồi hướng văng sanh th́ lúc người ấy lâm chung, quyết định không bị các bịnh khổ, được A Di Đà Phật đích thân đến rước, trong khoảng một niệm được sanh về cơi An Dưỡng (Cực Lạc).
47. Ấn Quang đại sư khai thị
* Trong một việc niệm Phật, điều cần yếu nhất là thoát sanh tử. Đă là để thoát sanh tử th́ phải tự sanh tâm nhàm chán cái khổ sanh tử, tự sanh tâm ưa thích niềm vui ở Tây phương. Có như vậy th́ ngay trong mỗi niệm, hai pháp Tín, Nguyện sẽ được đầy đủ trọn vẹn. Lại c̣n niệm Phật chí thành khẩn thiết như con nhớ mẹ th́ ba pháp Phật lực, Pháp lực, tự tâm tín nguyện công đức lực sẽ cùng hiển bày trọn vẹn. Ví như mặt trời mọc lên chói lọi giữa hư không, dẫu có sương dầy, băng đọng th́ chẳng lâu cũng sẽ tan mất.
* Người ở trong đời nhất nhất phải giữ bổn phận làm người, chẳng nên toan tính những chuyện ngoài bổn phận ḿnh. Nghĩa là: người quân tử phải nghĩ sao cho chẳng [có những hành vi] sai trái đối với địa vị của ḿnh. Lại [như thánh nhân đă] nói: “Quân tử hành động sao cho địa vị của ḿnh được trong sạch”. Cần phải biết là đối với việc giải thoát sanh tử, kẻ ngu phu, ngu phụ lại dễ [thực hiện] v́ tâm họ chẳng có dị kiến. Nếu kẻ thông Tông hiểu Giáo buông bỏ được cái thân th́ thực hiện được công phu của kẻ ngu phu, ngu phụ cũng dễ dàng, chứ đâu đến nỗi bậc cao nhân thông Tông hiểu Giáo lại chẳng bằng nổi kẻ ngu phu, ngu phụ được mang nghiệp đi văng sanh! Pháp môn Tịnh Độ lấy văng sanh làm chủ, tùy duyên tùy phận mà chuyên tâm, gắng gỏi cái chí của ḿnh. Chắc chắn là đức Phật chẳng hề lừa dối người. Nếu ḿnh không cầu thăng lên, ắt sẽ bị đọa xuống, đó chính là tự ḿnh lầm lạc, nào có phải là lỗi của Phật đâu?
* Thân người khó được, khó sanh ở chính giữa đất nước, Phật pháp khó nghe, sanh tử khó thoát. Chúng ta may được làm người, sanh ở giữa nước lớn, được nghe Phật pháp. Những kẻ chẳng may, tự thẹn nghiệp sâu chướng nặng, không có sức đoạn hoặc để mau thoát tam giới hầu liễu sanh thoát tử vậy. Chúng ta lại may mắn được nghe đức Như Lai ta do tâm bi triệt để nói ra phương tiện đại quyền xảo hay lạ là pháp môn Tịnh Độ khiến hạng phàm phu lè tè sát đất cũng được đới nghiệp văng sanh. Thật chẳng c̣n ǵ may mắn lớn lao hơn nữa! Nếu chẳng phải là từ vô lượng kiếp đến nay chúng ta đă gieo sâu căn lành th́ làm sao nghe được pháp chẳng nghĩ bàn này! [Ai nấy] chẳng gấp sanh ḷng tin chơn thật, phát nguyện cầu sanh ư?
* Một pháp niệm Phật trọng tại Tín, Nguyện. Tín Nguyện chơn thật thiết tha th́ dẫu tâm chưa thanh tịnh vẫn được văng sanh. V́ sao vậy? Do chí tâm niệm Phật là năng cảm, bởi thế đức A Di Đà Phật liền sẽ ứng. Giống như nước trong sông biển chưa thể hết tướng lay động, nhưng chỉ cần không có cuồng phong, sóng lớn th́ vầng trăng sáng trên không liền hiện rành rành. Cảm ứng đạo giao như mẹ con tưởng nhớ nhau. Những kẻ chuyên trọng tự lực, chẳng cậy vào Phật lực th́ không cách chi thấu hiểu nổi nghĩa lư này.
* Tuy niệm Phật quư ở tâm niệm nhưng cũng chẳng nên bỏ miệng tụng v́ ba thứ thân, khẩu, ư thường hỗ trợ nhau. Nếu tâm hay ức niệm nhưng thân chẳng lễ kính, miệng chẳng tŕ tụng th́ cũng khó được lợi ích. Trong cơi đời, mỗi khi nâng vật nặng c̣n phải dùng tiếng ḥ la để giúp sức, huống hồ là khi muốn nhiếp tâm để chứng tam muội? V́ vậy, kinh Đại Tập dạy: “Đại niệm thấy đại Phật, tiểu niệm thấy tiểu Phật”. Cổ đức bảo niệm Phật lớn tiếng th́ thấy thân Phật lớn, niệm nhỏ tiếng th́ thấy thân Phật nhỏ. Nay đă là phàm phu đầy dẫy triền phược, tâm nhiều hôn tán, nếu chẳng dùng sức thân, miệng lễ tụng mà mong được nhất tâm th́ ta chưa từng thấy có ai đạt được vậy.
* Tâm tham, sân, si, ai ai cũng có. Nếu biết đấy là bịnh th́ thế lực của tham sân si khó bề bộc phát. Ví như có kẻ cắp vào nhà người ta, nếu ông chủ nhận lầm là người nhà th́ của báu của cả nhà đều bị trộm cắp hết sạch. Nếu biết nó là kẻ trộm sẽ chẳng cho nó được thong thả lưu lại nhà ḿnh trong khoảng một khắc, ắt sẽ đuổi nó đi thật xa cho khuất mắt nên tiền của chẳng mất mà chủ nhân cũng được yên ổn vậy. Cổ đức dạy: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ e biết chậm”. Một khi tham sân si nổi lên, nếu lập tức biết rơ th́ chúng lập tức tiêu diệt. Nếu coi tham, sân, si chính là chủ của nhà ḿnh th́ cũng như nhận giặc làm con, tiền của trong nhà bị tiêu tán hết!
* Đối với mọi sự, người niệm Phật cần phải tâm thường trung thứ, tâm luôn đề pḥng lỗi lầm. Biết lỗi liền sửa, thấy việc nghĩa liền hăng hái làm thí mới xứng hợp với Phật. Người làm được như vậy sẽ quyết định văng sanh. Nếu chẳng được như thế th́ khó tương ứng với Phật, quyết định khó cảm thông.
* Phàm phu sửa đổi lỗi lầm, hướng theo điều thiện, lại tu Tịnh nghiệp th́ chỉ quư ở chỗ chơn thành, tối kỵ hư giả. Chẳng được phô phang hành thiện, tu hành bề ngoài nhưng trong tâm chẳng trung, chẳng thứ. Cừ Bá Ngọc hành thiện đến tuổi năm mươi, vẫn biết lỗi của bốn mươi chín năm trước. Có như vậy, mới mong thành thánh, thành hiền, học Phật, học Tổ, thành bậc công thần danh giáo, làm đứa con đích thật của đấng Như Lai, chớ chẳng phải cốt chỉ để trở thành bậc trưởng thượng trong hàng Tăng, tục vậy.
* Người học đạo cư tâm lập hạnh, cần phải chất trực, trung chánh, chẳng nên có chút tơ hào riêng tây, ủy khuất. Nếu như có chút thiên vị th́ khác nào cái mực chuẩn của đ̣n cân chẳng chuẩn, đem cân các vật đều thành ra nặng, nhẹ sai lầm; giống như thể chất của gương bất tịnh nên soi các vật lệch lạc chẳng đúng. Sai chỉ bằng tơ tóc, mất đến ngh́n trùng; lần lượt càng sai lệch thêm, ai ngăn ngừa cho nổi. V́ vậy, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Mười phương Như Lai đều cùng một đạo. Xuất ly sanh tử đều do tâm chất trực”. Tâm lẫn ngôn từ đều chất trực, cho đến trong các địa vị chung, thỉ, trung gian, vĩnh viễn không có các tướng ủy khúc như thế. Kinh Thư chép: ‘Nhân tâm nguy ách, đạo tâm tế nhị, ṛng chuyên một mối, đừng chấp hai bên”. Do đó, ta thấy rằng bậc thánh nhân thế gian lẫn xuất thế gian đều dùng cái tâm chất trực, trung chánh làm gốc.
* Làm con th́ phải làm rạng rỡ đức của cha mẹ. Cách làm rạng rỡ đức hạnh của cha mẹ chú trọng ở hạnh khiêm nhường cung kính, cần phải khắc kỷ giữ lễ, ngăn tà, giữ ḷng thành, biết lỗi liền sửa, thấy việc nghĩa phải hăng hái, hiểu nhân rơ quả, tránh sát sanh, phóng sanh, đừng làm các điều ác, phải làm các điều thiện, sanh ḷng tin, phát nguyện, tŕ danh hiệu Phật, tự ḿnh thực hành, dạy người thực hành cùng sanh Tịnh Độ. Làm được như thế th́ dẫu người khác chưa biết đến đức hạnh của cha mẹ, nhưng v́ kính ngưỡng đức hạnh của người ấy nên cũng kính ngưỡng đức hạnh của cha mẹ, tổ tông người ấy, cho là do v́ cha mẹ, tổ tông đă ngầm tu tập đức hạnh từ lâu nên đức hạnh mới được tiếp nối như thế. Nếu không th́ dẫu cha mẹ tổ tông vốn sẵn có đức hạnh tốt đẹp ai nấy đều biết, nhưng do kẻ ấy bất tiếu (2) ắt thiên hạ sẽ ngờ rằng chắc là cha mẹ, tổ tông nó tuy có đức tốt, nhưng chắc là có làm điều chi ác mà không ai hay biết, chứ nếu không th́ ḍng dơi đức hạnh tốt đẹp sao lại sanh ra con cháu bất tiếu đến vậy? V́ vậy, biết lập thân hành đạo chính là làm rạng rỡ cái đức của cha mẹ, tổ tông. Làm con người nên làm dè dặt, cẩn trọng, sốt sắng tu thân th́ mới mong khỏi uổng một kiếp.
* Đời có mẹ hiền nên mới có hiền nhân. Bậc thánh mẫu khi xưa dạy con ngay từ khi c̣n đang mang thai; ấy là rèn đúc con ngay tự lúc ban đầu để mong tập thành tánh. Thế gian dùng chữ Thái Thái để gọi nữ nhân vốn là do ba vị thánh nữ: Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự đều hay giúp chồng dạy con, khai sáng vương nghiệp lâu đến tám trăm năm nên dùng danh từ ấy để gọi nữ nhân vậy. Ta thường bảo đối với quyền trị quốc b́nh thiên hạ, nữ nhân lo góp phần đă hơn quá nửa. Lại thường bảo: Dạy cho con gái cái gốc của việc tề gia trị quốc th́ chỉ cần dạy họ thực hiện trọn vẹn đạo làm vợ là giúp chồng dạy con vậy. Chẳng phải như hạng nữ lưu hiện tại, đa số chẳng giữ bổn phận, muốn cầm quyền, làm đại sự, nhưng chẳng biết tự vun bồi từ ngay trong gia đ́nh; khác nào dẫu có gom sắt của vạn nước, chín châu, cũng chẳng đúc hết nổi lỗi lầm to lớn ấy (3). V́ vậy, nhân tâm thế đạo càng suy càng kém, thiên tai nhân họa nổi lên tơi bời. Tuy là do ác nghiệp của chúng sanh đồng phận cảm vời, nhưng thật cũng là do gia đ́nh thiếu giáo dục nên mới thành nỗi ấy. V́ thế, kẻ có thiên tư bị ảnh hưởng trở thành cuồng vọng; kẻ không thiên tư cam bề ngu độn. Nếu như ai nấy đều được hiền mẫu uốn nắn th́ ai ai mà chẳng thành thiện sĩ. Lúc túng cùng th́ riêng ḿnh thiện, khi hiển đạt th́ kiêm thiện; chứ đâu đến nỗi trên đă cai quản vô đạo, dưới chẳng tuân giữ phép tắc. Tệ đoan trăm mối phát sanh, dân c̣n biết nhờ đâu để sống được nữa đây!
* Trả lời thư của Lâm Giới Sanh: “Thầy Triệt Quyền đến gặp tôi, cho biết t́nh trạng oán hận của cư sĩ. [Cư sĩ] bảo với kẻ tục vô tri rằng: ‘Làm lành gặp nạn, tu hành vô ích’ v.v... các thứ tà thuyết. Nghe như vậy, tôi bàng hoàng, sợ bậc thượng trí bởi thế sẽ buông bỏ công hạnh, kẻ hèn ngu càng hăng làm ác. V́ vậy, tôi chẳng nệ hủ lậu, xin dùng lời thẳng thưa rằng: Trong kinh Như Lai nói quả báo thông cả ba đời. Đại lược, phàm nhân sanh con là do bốn nhân, quả báo thông suốt cả ba đời: - Thứ nhất là hiện báo, tức là hiện tại làm lành, làm dữ th́ ngay trong đời này sẽ hưởng phước, lănh họa. Chẳng hạn như sĩ tử chăm chỉ học hành th́ ngay đời này đạt được công danh. Việc này mắt phàm thấy được. - Thứ hai là sanh báo, tức là đời này làm thiện hay làm ác th́ đời sau sẽ hưởng phước hay chịu tội. Như tổ phụ trọng chữ nghĩa th́ con cháu mới phát đạt. Điều này mắt phàm chẳng thấy nổi, thiên nhăn họa may mới thấy được (Đời này hay đời sau là ước theo người ấy mà nói. V́ là việc cách đời nên khó dùng ví dụ giải rơ, đành tạm dùng tổ phụ, con cháu để cho người đời dễ hiểu. Chớ nên câu nệ vào văn tự đến nỗi hiểu sai ư nghĩa). - Thứ ba là hậu báo, tức là đời này làm lành, làm dữ th́ đến đời thứ ba, hoặc bốn, năm, sáu bảy đời hoặc trăm ngàn vạn đời cho đến nhiều kiếp sau mới chịu báo lành dữ như vương nghiệp nhà Thương, nhà Chu thật sự bắt đầu khai sáng từ lúc vua Đại Vũ phù tá vua Thuấn. Nếu là việc trong ba, bốn đời th́ thiên nhăn c̣n có thể thấy được nhưng nếu là việc kéo dài đến nhiều kiếp th́ chỉ có ngũ nhăn viên minh của đức Như Lai mới thấy nổi. Biết nghĩa lư của ba thứ báo này th́ hiểu làm thiện sẽ hưởng điều tốt lành, làm điều bất thiện sẽ bị lănh tai ương. Thánh ngôn vốn tự chẳng sai lầm; phú quư, bần tiện, thọ, yểu, cùng, thông, mạng trời chưa từng thiên vị. Cảnh duyên đến như bóng hiện trong gương. Bậc trí chỉ lo sửa đổi h́nh dung ngoài gương; kẻ ngu căm ghét h́nh ảnh hiện trong gương. Cảnh nghịch xảy đến vẫn thuận chịu theo mới là vui đạo trời; chẳng oán, chẳng căm mới là lập mạng. Con cái có bốn nhân: Một là báo ân, hai là báo oán, ba là đ̣i nợ, bốn là trả nợ. a. Báo ân là trong đời trước, cha mẹ có ân đối với con cái. Nhằm báo ân nên sanh làm con để săn sóc, phụng dưỡng, sống thờ, chết chôn, ắt sẽ làm cho cha mẹ khi sống vui vẻ, khi thác lại cúng tế; thậm chí thờ vua giúp dân, danh ghi sử xanh khiến thiên hạ đời sau v́ kính trọng người ấy mà kính luôn cả cha mẹ, chẳng hạn như Tăng Lỗ Công, như Trần Trung Túc, Vương Quy Linh, Sử Đại Thành (4). Con hiếu cháu hiền đời nay đều là như thế cả. b. Báo oán là trong đời trước, cha mẹ đối với con có điều phụ bạc. V́ để báo oán, chúng sẽ sanh vào làm con. Nhỏ th́ ngỗ nghịch mẹ cha, lớn th́ làm cho bố mẹ bị vạ lây. Lúc sống chẳng phụng dưỡng ngọt bùi, thác mang mối nhục xuống tận cửu tuyền. Lại những trường hợp báo oán sâu nặng th́ chúng tuy thân giữ địa vị quyền quí, nhưng chẳng tuân theo lề thói, diệt môn phá tộc, quật mồ dời mả khiến thiên hạ đời sau chẳng những thóa mạ kẻ ấy lại c̣n nguyền rủa cả cha mẹ, ví dụ như Vương Măng, Tào Tháo, Đổng Trác, Tần Cối vậy. c. Trả nợ là trong đời trước, con đoạt lấy của cải mẹ cha. V́ để trả nợ nên sanh vào làm con. Nếu nợ nhiều th́ làm con suốt đời. Nếu nợ ít th́ chỉ sống nửa chừng liền chết, chẳng hạn như học sắp thành tài liền mất mạng; buôn bán vừa mới có lời đă chôn thân. d. Đ̣i nợ là trong đời trước, cha mẹ mắc nợ con tiền của. V́ để đ̣i nợ nên sanh vào làm con. Nợ nhỏ th́ nhọc nhằn, tốn của rước thầy, tốn tiền cưới vợ cho và nhọc ḷng dạy răn đủ thứ, những mong con được thành người, nhưng sắp thành công th́ đại hạn xảy tới, đột nhiên con chết mất đi! Mắc nợ lớn th́ chẳng chỉ có vậy, ắt phải đến nỗi con phá tan sản nghiệp, nhà tan cửa nát, người chết mới thôi. Tôi xét kỹ, nghi rằng đứa con này của cư sĩ là do đ̣i nợ mà sanh làm con; may là mắc nợ ít nên tuổi trẻ đă mất. Ông hăy nên sám hối nghiệp trước, nỗ lực siêng tu, trời sẽ ban cho đứa con hiếu làm rạng rỡ ḍng họ. Huống hồ đức thánh Khổng tuổi trung niên chôn con, Nhan Uyên đại hiền nhưng tuổi trẻ chết yểu, Nguyên Hiến nghèo mạt, Tử Lộ tuẫn nạn, Bá Di, Thúc Tề chết đói ở Thủ Dương, Bá Ngọc khốn cùng nơi nước Vệ. Ai dám nói v́ tu đức nên thánh hiền bị trời hại ư? Nào có phải sanh tử có mạng, phú quư tại trời đâu! Chỉ nên trách ḿnh đức chẳng chơn thành, đừng chất vấn tại sao trời giáng họa ban phước! Nếu có thể làm được như vậy th́ ngũ phước tự nhiên vào cửa, lục cực quyết định tránh xa khỏi nhà ḿnh. Nếu chẳng tin tôi th́ hăy xem sự thực như mặt trời sáng tỏ: Ông phải biết người sống trong cơi đời này có đủ cả tám khổ; dẫu có sanh lên trời cũng khó thoát năm sự suy tổn. Chỉ có Tây phương Cực Lạc thế giới chẳng có các nỗi khổ, chỉ hưởng những niềm vui. Há chẳng phải là trời thấy ông đề xướng Tịnh Độ bèn dùng đứa con vô phước vô thọ ấy làm nhát kim đâm ngay đỉnh đầu ông để cảnh tỉnh ông rằng: ba cơi chẳng an ví như nhà lửa, các khổ đầy dẫy thật là đáng sợ. Mạng người vô thường nhanh tựa ánh chớp, chẳng cách nào níu lại được. Hết thảy pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt nước, h́nh ảnh. Đối với những điều này vẫn c̣n chẳng ngộ để gắng sức tu Tịnh nghiệp th́ khác ǵ gỗ, đá vô t́nh sống trọn cả đời trong ṿng trời đất vậy. Là bậc nam tử có huyết tánh há cam đành làm khối thịt cử động, thây chết biết đi, chết mục nát cùng cỏ cây! Ông đề cao thánh cảnh nhưng lại chịu làm phàm phu, tuy gặp việc cảnh tỉnh lớn lao lại chẳng phát phẫn; nghe đạo của thánh hiền, Phật, Tổ mà chẳng chịu tu th́ nào có phải là trời phụ người đâu, mà chính là người phụ trời đấy chứ! Kính mong ông xét nghĩ!
48. Ba điều tối quan trọng lúc lâm chung (Lâm chung tam đại yếu)
Điều bi thảm nhất trong thế gian thật không chi bằng cái chết, nhưng khắp cả người đời, có ai may mắn thoát được nổi? V́ vậy, người hữu tâm muốn lợi ḿnh lợi người th́ chẳng thể không sớm lo liệu. Thật ra, một chữ CHẾT vốn chỉ là giả danh. Do kỳ hạn của quả báo chiêu cảm từ [các nhân] đời trước đă tận nên bỏ tấm thân này rồi lại thọ cái thân khác vậy. Kẻ chẳng biết Phật pháp th́ thật chẳng biết tính toán cách nào, chỉ đành mặc cho nghiệp xoay chuyển. Nay đă được nghe pháp môn Tịnh Độ phổ độ chúng sanh của đức Như Lai th́ phải nên tín, nguyện niệm Phật, sắp sẵn tư lương văng sanh, hầu mong thoát được cái huyễn khổ luân hồi sanh tử, chứng sự vui chơn thật Niết Bàn thường trụ. Nếu ai có cha, mẹ, anh, em và các quyến thuộc mắc phải trọng bịnh, bịnh t́nh khó bề thuyên giảm th́ nên phát tâm hiếu thuận, từ bi, khuyên họ niệm Phật cầu sanh Tây phương và trợ niệm cho họ để mong người bị bệnh nhờ đó sau khi chết liền được sanh về Tịnh Độ. Sự lợi ích như thế kể sao cho xiết? Nay tôi nêu lên ba điều trọng yếu để làm căn cứ ḥng thành tựu sự văng sanh cho người lâm chung; lời lẽ tuy thô vụng nhưng ư vốn lấy từ kinh Phật. Nguyện người thấy nghe, gặp được nhân duyên này sẽ đều cùng làm theo. Ba điều trọng yếu là:
* Một là khéo chỉ dạy, an ủi, khiến sanh chánh tín. * Hai là cả nhà thay phiên niệm Phật để giúp tịnh niệm. * Ba là hết sức tránh xao động, khóc lóc, kẻo làm hỏng việc.
Nếu có thể tuân hành theo ba pháp này th́ quyết định sẽ tiêu trừ được túc nghiệp, tăng trưởng Tịnh nhân, được Phật tiếp dẫn văng sanh Tây phương. Một phen đă được văng sanh th́ sẽ siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, dần dần tấn tu ắt sẽ đạt tới quả Phật viên thành mới thôi. Sự lợi ích như vậy hoàn toàn nhờ vào sức trợ niệm của quyến thuộc. Có làm được như thế mới là hiếu chơn thật đối với cha mẹ, mới thật là chơn đễ (5) đối với anh em trai, chị em gái, mới thật là chơn từ đối với con cái, mới thật là chơn nghĩa, chơn huệ đối với bằng hữu và đối với mọi người; dùng những điều ấy để vun bồi thêm cái nhân Tịnh Độ của ḿnh. Xin thưa với những người cùng tin tưởng là cứ lâu ngày chày tháng sẽ nào có khó ǵ mà chẳng tập thành lề thói được. Nay tôi sẽ tŕnh bày từng điều một để lúc lâm chung khỏi bối rối vậy.
a. Điều thứ nhất là khéo chỉ bày, an ủi, khiến sanh chánh tín:
Thiết tha khuyên người bịnh buông xuống hết thảy, chỉ nhất tâm niệm Phật. Nếu như cần phải giao phó việc ǵ th́ phải mau giao phó. Giao phó xong th́ chẳng đếm xỉa đến nữa, chỉ nghĩ ta nay theo Phật văng sanh cơi Phật; tất cả sự giàu vui, quyến thuộc thế gian, các thứ trần cảnh đều là chướng ngại, thậm chí khiến ḿnh mắc hại. V́ thế, chẳng nên sanh tâm niệm quyến luyến. Phải biết là một niệm chơn tánh của chính ḿnh vốn chẳng có chết. Cái chết vừa nói đó chỉ là xả thân này để lại thọ cái thân khác mà thôi. Nếu chẳng niệm Phật th́ sẽ phải thuận theo nghiệp lực thiện, ác để lại thọ sanh trong nẻo lành, dữ. Nếu như trong lúc lâm chung, nhất tâm niệm Nam Mô A Di Đà Phật th́ do tâm niệm Phật chí thành sẽ quyết định cảm được Phật phát đại từ bi, đích thân tiếp dẫn khiến ḿnh được văng sanh. Đừng nghi rằng: ḿnh là nghiệp lực phàm phu, làm sao chỉ do niệm Phật trong một thời gian ngắn lại có thể thoát khỏi sanh tử, văng sanh Tây phương? Nên biết rằng: v́ đức Phật đại từ bi nên kẻ tội nhân thập ác, ngũ nghịch rất nặng lúc lâm chung, tướng địa ngục hiện ra mà nếu có thiện tri thức dạy cho niệm Phật bèn hoặc niệm mười tiếng hoặc chỉ một tiếng th́ cũng được Phật tiếp dẫn, văng sanh Tây phương. Hạng người ấy chỉ niệm mấy câu c̣n được văng sanh, sao c̣n ngại ḿnh nghiệp lực nặng, niệm Phật ít ỏi nên sanh ḷng nghi nữa ư? Phải biết là chúng ta vốn có chơn tánh, chơn tánh của ta và chơn tánh của Phật chẳng hai; chỉ v́ ta hoặc nghiệp c̣n sâu nặng nên chẳng thọ dụng được! Nay đă quy mạng nơi Phật như con nương về cha chính là trở về với cái ta vốn sẵn có, chứ nào có phải là điều ǵ bên ngoài đâu! Hơn nữa, xưa kia, đức Phật đă phát nguyện: “Nếu có chúng sanh nghe danh hiệu của ta mà chí tâm tin ưa, dẫu chỉ mười niệm mà nếu chẳng được văng sanh th́ chẳng lấy ngôi Chánh Giác”. V́ thế, hết thảy chúng sanh lúc lâm chung phát tâm chí thành niệm Phật cầu sanh về Tây phương th́ không một ai là chẳng được ngài rủ ḷng từ tiếp dẫn. Ngàn vạn phần chẳng được hoài nghi nữa! Hoài nghi chính là tự ḿnh lầm lạc, họa ấy chẳng nhỏ. Vả lại, ĺa cơi khổ năo này sanh về thế giới vui vẻ ấy là điều hết sức khoái ư cho nên phải sanh tâm hoan hỷ, ngàn vạn phần chẳng được sợ chết. Dẫu sợ chết cũng tránh khỏi cái chết, lại c̣n mất phần văng sanh Tây phương nữa v́ tâm ḿnh trái với tâm Phật vậy. Dẫu Phật sẵn ḷng đại từ bi cũng vô phương cứu tế người chẳng nương theo lời dạy của Phật! Vạn đức hồng danh của Phật A Di Đà giống như ḷ luyện lớn lao; tội nghiệp trong nhiều kiếp của chúng ta như một mảnh tuyết trong hư không. Nghiệp lực phàm phu do bởi niệm Phật nên nghiệp liền tiêu diệt, giống như mảnh tuyết bám vào bên ḷ lửa lớn liền bị tiêu hết chẳng c̣n ǵ nữa. Vả lại, nếu nghiệp lực đă tiêu th́ bao nhiêu thiện căn sẽ tự nhiên tăng trưởng thù thắng; sao lại c̣n ngờ chẳng được văng sanh, Phật chẳng đến tiếp dẫn nữa ư? Chỉ dạy, an ủi ngọn ngành, uyển chuyển như thế khiến cho bịnh nhân tự ḿnh sanh tâm chánh tín. Đấy chính là những điều cần phải khai thị cho bịnh nhân. C̣n như những việc chí thành, tận hiếu mà ta phải nên làm th́ cũng chỉ chú trọng ở những điểm ấy; chẳng nên thuận theo thói tục cầu thần, t́m thuốc. Mạng lớn đă sắp hết th́ làm sao quỷ thần, thuốc men giữ cho khỏi chết được! Nếu đă nhọc ḷng v́ những sự vô ích như thế th́ đối với một sự niệm Phật sẽ bớt thành khẩn, làm sao cảm thông đức Phật được! Nhiều kẻ lúc cha mẹ lâm chung chẳng tiếc tiền của, thỉnh vời nhiều thầy thuốc đến khám. Đấy là mua tiếng hiếu, cốt ư muốn được người đời khen ḿnh tận hiếu đối với cha mẹ; nào hay thiên, địa, quỷ thần xét soi tường tận nỗi ḷng ḿnh. V́ vậy, đối với những sự tống táng cha mẹ mà quá sức phô trương th́ nếu chẳng mắc tai trời cũng ắt bị vạ người. Kẻ làm con chỉ nên chú trọng đến nơi thần thức của cha mẹ sẽ sanh về. Lời xưng tụng của thế nhân chẳng đáng cho kẻ sáng mắt nhếch mép cười, lẽ đâu ḿnh lại dốc ḷng mong mỏi, thật chỉ khiến cho ḿnh phải mắc vào cái lỗi bất hiếu to lớn mà thôi!
b. Thứ hai là cả nhà thay phiên niệm Phật để giúp tịnh niệm.
Trước đó, đă giáo hóa bịnh nhân khiến họ sanh chánh tín; nhưng v́ tâm lực người bịnh ấy yếu ớt, chưa kể đến hạng người lúc c̣n khỏe mạnh chưa bao giờ niệm Phật, cho nên chẳng dễ niệm liên tục lâu được. Cho đến giờ đây lấy niệm Phật làm việc chánh th́ cũng hoàn toàn nhờ vào người khác trợ niệm th́ mới có thể có sức. V́ vậy, quyến thuộc trong nhà nên cùng phát tâm hiếu thuận, từ bi, v́ người ấy trợ niệm Phật hiệu. Nếu bịnh t́nh c̣n chưa đến nỗi sắp chết vào bất cứ lúc nào th́ nên chia ban niệm Phật. Nên chia thành ba ban, mỗi ban hạn định mấy người. Ban đầu tiên niệm Phật ra tiếng, ban thứ hai và thứ ba niệm thầm. Niệm một tiếng đồng hồ th́ ban thứ hai niệm tiếp; ban thứ nhất, ban thứ ba niệm thầm. Nếu có việc ǵ cần làm th́ nên lo liệu trong lúc niệm thầm; c̣n trong lúc trực ban trọn chẳng nên bỏ đi. Ban thứ hai niệm xong, ban thứ ba niệm tiếp. Xong rồi lại trở lại từ đầu. Niệm một tiếng, nghỉ hai tiếng; [như vậy th́ niệm] suốt cả ngày đêm th́ cũng không mệt nhọc lắm. Phải biết là ḿnh chịu giúp người đạt được Tịnh niệm văng sanh th́ ḿnh cũng sẽ được hưởng báo có người trợ niệm. Chớ có nói là chỉ v́ cha mẹ nên mới phải tận hiếu như vậy, mà đối với người dưng cũng phải nên vun bồi ruộng phước của ḿnh, trưởng dưỡng thiện căn của ḿnh th́ mới đúng là cái đạo tự lợi, chẳng uổng làm người. Thành tựu một người được văng sanh Tịnh Độ chính là thành tựu một chúng sanh làm Phật. Công đức thế ấy há nghĩ lường nổi ư! Ba ban liên tục, tiếng niệm Phật chẳng ngớt. Nếu sức bịnh nhân niệm nổi th́ nương vào đó mà niệm nho nhỏ theo. Chẳng niệm nổi th́ lắng tai nghe kỹ, tâm không có niệm ǵ khác th́ tự có thể tương ưng với Phật vậy. Tiếng niệm Phật chẳng nên quá to; to thời tổn hơi, khó niệm lâu được; cũng chẳng thể quá nhỏ khiến bịnh nhân chẳng nghe được rơ. Chẳng nên niệm quá mau, cũng chẳng nên quá chậm. Quá mau bịnh nhân niệm theo chẳng nổi mà nghe cũng chẳng rơ. Quá chậm th́ chẳng tiếp hơi nổi nên cũng khó có ích. Nên niệm chẳng cao, chẳng thấp, chẳng rề rà, chẳng gấp gáp; từng chữ phân minh, từng câu rành mạch khiến từng chữ, từng câu lọt tai thấu dạ bịnh nhân; nhờ vậy mà họ có sức niệm. Về pháp khí dùng cho việc niệm Phật, chỉ nên dùng dẫn khánh (6), c̣n các thứ khác đều chẳng nên dùng. Tiếng dẫn khánh trong trẻo khiến tấm ḷng người nghe thanh tịnh. Tiếng mơ trầm đục chẳng thích hợp cho việc trợ niệm khi lâm chung. Thêm nữa, nên niệm bốn chữ Phật hiệu. Lúc bắt đầu th́ niệm vài câu sáu chữ; rồi sau đó chỉ niệm bốn chữ A Di Đà Phật, chẳng niệm Nam Mô. Do ít chữ dễ niệm nên bịnh nhân sẽ để tâm niệm theo hoặc nhiếp tâm lắng nghe, đều tốn ít tâm lực. Quyến thuộc trong nhà niệm như vậy mà thỉnh thiện hữu ở ngoài đến cũng niệm như vậy. Dù nhiều người hay ít người đều phải niệm như thế, chẳng nên niệm một chốc, lại nghỉ một chốc rồi mới lại niệm tiếp khiến bịnh nhân niệm Phật gián đoạn. Nếu ăn cơm th́ nên ăn vào lúc thay phiên, đừng để tiếng niệm Phật gián đoạn. Như lúc bịnh nhân sắp tắt hơi th́ cả ba ban cùng niệm cho đến tận sau khi đă tắt hơi hẳn rồi mới lại chia ba ban niệm suốt ba tiếng đồng hồ nữa. Sau đấy, mới ngưng niệm để lo liệu, sắp đặt mọi việc. Trong lúc niệm Phật, chẳng để cho bè bạn đến trước bịnh nhân thăm hỏi, vỗ về. Đă có ḷng đến thăm th́ hăy cùng đại chúng niệm Phật mấy thời. Ấy mới là tấm t́nh yêu mến chơn thật, có ích cho bịnh nhân. C̣n nếu cứ theo thói tục thường t́nh th́ chính là đă xô người xuống biển. T́nh ấy tuy đáng cảm, nhưng [để xảy ra] sự ấy mới thật là đau đớn. Toàn là cậy vào người chủ chốt hiểu rơ đạo lư, bảo trước với người đến thăm để khỏi tổn thương t́nh cảm, lại tránh di hại cho bịnh nhân bị phân tâm mà chẳng được văng sanh vậy.
c. Thứ ba là kiêng dè xáo động, khóc lóc để khỏi làm hỏng đại sự
Lúc người sắp chết chính là lúc phân biệt giữa thánh phàm, người, quỷ, [t́nh trạng khác nào] ngàn cân [treo] đầu sợi tóc; cần phải hết sức cẩn thận, chỉ nên dùng Phật hiệu khai thị, dẫn dắt thần thức người ấy chứ chẳng nên tắm rửa, thay áo, hoặc dời chỗ nằm. Người ấy nằm như thế nào, cứ để yên người đó nằm trong tư thế ấy, chẳng nên có chút dời động. Cũng chẳng nên đối với việc ấy mà sanh bi cảm hoặc đến nỗi khóc lóc. Ấy là do khi đó [người chết] thân chẳng tự chủ được; mỗi một sự lay động là toàn thân lẫn chân tay đều bị đau đớn như bị cắt chặt, giằng xé. Hễ đau đớn th́ sanh tâm sân hận nên tâm niệm Phật bị ngưng dứt. Do sanh tâm sân hận nên phần nhiều bị đọa vào độc loại, đáng sợ hăi thay. Nếu [người chết] thấy [thân quyến] buồn đau, khóc lóc th́ tâm mến luyến phát sanh nên tâm niệm Phật cũng bị ngừng nghỉ. V́ mang tâm ái luyến mà ra đi nên đến nỗi đời đời, kiếp kiếp chẳng được giải thoát. Lúc ấy, điều có lợi nhất th́ không chi bằng nhất tâm niệm Phật; điều tai hại nhất không chi bằng vọng động, khóc than. Nếu như vọng động, khóc than đến nỗi [người chết] sanh ḷng sân hận cùng mến luyến th́ có muốn sanh Tây phương, cả vạn trường hợp cũng chẳng được một. Thêm nữa, người sắp chết hơi nóng rút dần từ dưới lên trên là tướng siêu sanh, c̣n hơi nóng từ trên rút xuống dưới là tướng đọa lạc. V́ vậy, có thuyết:
Đảnh thánh, nhăn thiên sanh Nhân tâm, ngạ quỷ phúc Súc sanh tất cái ly, Địa ngục cước phản xuất
Nhưng nếu cả nhà chí thành trợ niệm th́ người chết ắt tự có thể sanh thẳng về Tây phương; chẳng nên rờ rẫm thăm ḍ khiến cho khi thần thức người chết chưa rời khỏi xác, nhân đấy bị đau đớn, tâm sanh phiền đau nên chẳng được văng sanh. Lỗi họa ấy thật là vô lượng vô biên. Xin các thân hữu đều phải khẩn thiết niệm Phật, chẳng cần ḍ xem nóng lạnh ở chỗ nào. Làm con nên lưu tâm điều này mới là thật hiếu. Nếu cứ thuận theo các thói tục thế gian th́ há chẳng phải là xô người thân xuống bể khổ chẳng thương xót ǵ chăng, chỉ cốt mong một lũ vô tri vô thức xúm lại khen ḿnh đă có thể tận hiếu ư? Hiếu như vậy th́ có khác chi là yêu mến la sát nữ. Kinh dạy: “La sát nữ ăn thịt người, bảo: ‘V́ ta yêu ngươi nên ăn thịt ngươi’. Kẻ vô tri hành hiếu khiến cho người thân mất vui được khổ, há chẳng phải là giống hệt cái t́nh yêu người của la sát nữ hay sao? Tôi nói ra lời này, chẳng phải là không đếm xỉa đến t́nh người mà chỉ là muốn cho ai nấy đều thấy rơ thực tế, đều mong cho người chết văng sanh, kẻ sống được phước. Chỉ v́ do đáp ứng tấm ḷng chơn thành của con hiền, cháu thảo thương yêu người thân nên chẳng nệ lời lẽ dường như quá khích. Người thương yêu người thân thật sự khá nên lượng thứ cho. Thuyết: Đảnh thánh, nhăn sanh thiên... là nói về khi người đă tắt hơi, toàn thân đă lạnh, chỉ c̣n đảnh đầu nóng th́ ắt đă siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Nhăn sanh thiên là nếu mắt cùng trán c̣n nóng th́ sanh trong thiên đạo. Chỗ ngực c̣n ấm th́ sanh nhân đạo. Riêng bụng c̣n nóng th́ sanh ngạ quỷ. Riêng đầu gối c̣n nóng th́ sanh làm súc sanh. Riêng bàn chân c̣n nóng th́ sanh địa ngục. Đấy là do hai nghiệp thiện, ác đă tạo của người ấy lúc c̣n sống đến giờ đây cảm hiện như thế, chứ chẳng thể dựa vào thế lực nào để làm giả ra như vậy được. Khi đó, nếu bệnh nhân có thể chí thành niệm Phật, lại thêm sức của quyến thuộc và bạn lành trợ niệm sẽ quyết định có thể đới nghiệp văng sanh, siêu phàm nhập thánh vậy. Chẳng cần phải để ư thử sờ xét nghiệm, đến nỗi làm hỏng việc. Mong mỏi lắm thay!
49. Lược giải về Tam Quy
Một là quy y Phật, hai là quy y Pháp, ba là quy y Tăng. Quy là quay về, Y là nương gởi. Như người té xuống biển, chợt có thuyền đi tới bèn lội đến bên thuyền; đấy là ư nghĩa của chữ “quay về”. Lên thuyền ngồi yên là nghĩa “nương nhờ”. Sanh tử là biển, Tam Bảo là thuyền. Chúng sanh quy y liền lên bờ kia. Đă quy y Phật, thờ Phật làm thầy th́ từ nay trở đi cho đến lúc lâm chung, chẳng được quy y thiên ma, ngoại đạo, tà quỷ, tà thần. Đă quy y Pháp, lấy Pháp làm thầy th́ từ nay trở đi cho đến lúc lâm chung, chẳng được quy y kinh sách ngoại đạo (Pháp chính là kinh Phật và các pháp môn tu hành). Đă quy y Tăng, thờ Tăng làm thầy th́ từ nay trở đi cho đến lúc lâm chung, chẳng được quy y đồ chúng ngoại đạo. Lại nữa, quy y Phật Pháp Tăng có cả lư lẫn sự. Sự chính là quy y mười phương tam thế hết thảy Phật, Pháp, Tăng vô tận Tam Bảo. Lư chính là quy y Phật nơi tự tánh, quy y Pháp nơi tự tánh, quy y Tăng nơi tự tánh. Phật là Giác, tức là Trí của tự tánh. Pháp là quy tắc, tức là Lư của tự tánh. Tăng là Ḥa Hợp, tức là Lư và Trí khế hợp, nhất như bất nhị. Thêm nữa, Phật là Bát Nhă đức, Pháp là Pháp Thân đức, Tăng là Giải Thoát đức. Ba đức viên dung, trọn khắp pháp giới, chính là tự tánh vô tận Tam Bảo. Nguyện khắp pháp giới hữu t́nh đều quy y tự tánh vô tận Tam Bảo, cùng chứng tự tánh Di Đà tam đức bí tạng. Nhưng nếu muốn chứng đắc tự tánh Di Đà tam đức bí tạng mà chẳng nhờ đến sự tướng để sanh ḷng tin, phát nguyện, niệm thánh hiệu Di Đà, cầu sanh Tây phương th́ chỉ sợ trải qua trần sa kiếp này đến trần sa kiếp khác vẫn cứ ở trong Sa Bà làm chúng sanh. Thiết tha mong người chấp lư bỏ sự hăy xét kỹ lẽ này. |